Tác động của thanh khoản đến hiệu quả hoạt động các NHTM Việt Nam
Nguyễn Tiến Việt, Võ Thị Vân Anh
Khoa Tài Chính – Ngân Hàng
Trường Đại học Lạc Hồng, Đồng Nai, Việt Nam
Thanh khoản và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động của
các NHTM đang được rất nhiều các ngân hàng quan tâm hiện
nay. Dựa trên các cơ sở lý luận về thanh khoản ngân hàng và lý
luận về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, nhóm tác giả đã phân
tích, đánh giá thực trạng thanh khoản của các NHTM Việt Nam
dựa trên số liệu thu thập được từ bảng báo cáo tài chính các ngân
hàng trong giai đoạn 2009 – 2013. Kết quả cho thấy trạng thái
tiền mặt (CDTA) và tỷ lệ tổng dư nợ tín dụng , chứng khoán kinh
doanh, chứng khoán sẵn sàng để bán trên tổng tiền gửi khách
hàng (INVSDEP) tác động cùng chiều với hiệu quả hoạt động (
ROE);Tỷ lệ tổng tiền mặt, tiền gửi NHNN, tiền gửi TCTD trên
tổng tiền gửi(CDDEP) và tỷ lệ tổng dư nợ tín dụng, chứng khoán
kinh doanh, chứng khoán sẵn sàng để bán trên tổng tài sản có
(INVSTA) tác động ngược chiều đến HQHĐ của các NHTM Việt
Nam
Tác giả thu thập số liệu từ báo cáo tài chính của 26 NHTM trong
giai đoạn 2009- 2013.
2.2 Thiết lập mô hình:
Biến phụ thuộc:
ROE: đại diện cho hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Biến độc lập:
- CDTA: Trạng thái tiền mặt.
- CDDEP: Tỷ lệ tiền mặt, tiền gửi NHTW, tiền gửi TCTD trên
Tổng tiền gửi KH.
- INVSTA: Tỷ lệ Dư nợ tín dụng, Chứng khoán KD, Chứng
cầu nên tình hình thanh khoản đã được cải thiện đáng kể, song khó
khăn vẫn phía trước.Vì vậy, Chính phủ và NHNN phải đặt ra vấn
đề là làm sao để tăng cao tính thanh khoản của các ngân hàng
nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM hiện
nay.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn ấy,nhóm tác giả đã chọn đề tài
NCKH: “Tác động của thanh khoản đến hiệu quả hoạt động
của các NHTM Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học.
Bài báo nghiên cứu khoa học gồm 5 phần như sau:
1. Đặt vấn đề
2. Phương pháp nghiên cứu.
3. Kết quả.
4. Bàn luận.
5. Lời cảm ơn và phần tài liệu tham khảo.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Đối tƣợng nghiên cứu:
Thanh khoản của các NHTM Việt Nam.
Tác động của thanh khoản đến hiệu quả hoạt động của các
NHTM Việt Nam.
2.1 Thu thập dữ liệu.
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Dựa vào cơ sở lý luận, sau khi nghiên cứu sơ bộ, tiếp tục
thực hiện nghiên cứu định lượng: số liệu được thu thập từ 26
NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2013 từ đó dùng Excel
thống kê, tính toán các số liệu cần thiết . Tiếp theo kiểm định mô
hình bằng phương pháp hồi quy đa biến với mức ý nghĩa 5%. Các
hoạt động của ngân hàng càng giảm, nguyên nhân như đã phân
tích ở trên là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, tốc độ
tăng của tiền mặt, tiền gửi NHTW, TCTD khác nhỏ hơn so với tốc
độ tăng của tổng tài sản.
Ngoài ra biểu đồ còn cho thấy trạng thái tiền mặt tác động
mạnh đến ROE, sự tăng (giảm) nhẹ của CDTA làm cho hiệu quả
hoạt động(ROE) của NHTM tăng (giảm) mạnh.
3.1.2 Tỷ lệ tiền mặt, tiền gửi NHNN,TCTD khác trên
tổng tiền gửi KH
Biểu đồ 2. Biểu đồ thể hiện tình hình Tỷ lệ tổng tiền mặt, tiền
gửi NHNN,TCTD khác trên tổng tiền gửi của KH (CDDEP) và
hiệu quả hoạt động (ROE) các NHTM Việt Nam giai đoạn
2009 – 2013
(Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp từ BCTC các NHTM Việt Nam)
Qua đồ thị trên ta thấy tỷ lệ tiền mặt, tiền gửi NHTW,
tiền gửi TCTD khác trên tiền gửi của khách hàng (CDDEP) giảm
từ năm 2009- 2010, sau đó tăng lên trong giai đoạn 2010- 2011.
Giai đoạn 2011- 2013 giảm chỉ còn 27.18% (năm 2013). Trong
khi đó ROE của các NHTM lại có những thay đổi ngược lại với
CDDEP trong giai đoạn 2009 - 2011. Từ đó cho thấy mối quan hệ
ngược chiều giữa CDDEP và ROE. Nguyên nhân là do các ngân
hàng dự trữ một lượng tiền mặt quá ít so với lượng tiền gửi của
khách hàng sẽ khiến ngân hàng không đủ khả năng đáp ứng nhu
cầu thanh khoản ngay tức thời khi khách hàng đột ngột rút tiền.
Do đó, các ngân hàng cần duy trì lượng tiền mặt và tiền gửi khách
hàng ở mức hợp lý nhằm tăng tính thanh khoản của ngân hàng.
Mức độ ảnh hưởng CDDEP không nhiều đối với ROE cụ
thể trong giai đoạn 2009- 2010 CDDEP giảm từ 45.53% xuống
44.44% thì ROE tăng 14.06% lên tới 15.31%, giai đoạn 2010 2011 CDDEP tăng từ 44.44% lên 50.01% thì ROE giảm nhẹ từ
hoạt động kém.
3.1.4 Tỷ lệ tổng dƣ nợ tín dụng, chứng khoán kinh
doanh, chứng khoán sẵn sàng để bán trên tổng tiền gửi
Biểu đồ 4. Biểu đồ thể hiện tình hình Tỷ lệ tổng dƣ
nợ tín dụng, CKKD, CKSSĐB trên tổng tiền gửi của KH
(INVSDEP) và hiệu quả hoạt động (ROE) các NHTM Việt
Nam giai đoạn 2009 – 2013
(Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp từ BCTC các NHTM Việt Nam)
Qua biểu đồ trên ta dễ dàng thấy được INVSDEP và
ROE có sự tương quan cùng chiều nhưng sự tương quan này là
không lớn, điều này thể hiện rõ ở giai đoạn 2009 - 2010
INVSDEP có tốc độ tăng trưởng tăng 16.34% trong khi đó ROE
chỉ tăng nhẹ từ 14.06% lên 15.31% (tăng 1.25%). Đặc biệt ROE
và INVSDEP có xu hướng giảm trong giai đoạn 2010 - 2013 do
tình hình tài chính thế giới cũng như Việt Nam khó khăn đã khiến
cho nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất kiểm soát thu chi, điều đó đã tác động một cách trực tiếp đến hiệu quả hoạt động
cũng như hoạt động cho vay của NHTM.
3.2 Kết quả nghiên cứu thực tế.
Bảng 1: Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên
cứu
(Nguồn: Trích từ kết quả chạy Eviews 6. 0 theo phụ lục 3)
(Nguồn: Kết quả chạy eviews 8.0 theo phụ lục 2)
:
Từ bảng 1, ta có thể thấy biến phụ thuộc ROE của các NHTM
Việt Nam ở mức trung bình (Mean) là 0.133599, thấp nhất
các biến đều lớn, riêng thành phần CDDEP, INVSTA có hệ số
tương quan thấp âm chứng tỏ chúng có tác động ngược chiều đến
ROE. Nhìn vào ma trận thấy các hệ số tương quan giữa các biến
độc lập trong mô hình là khá thấp và mô hình này có R2 cao thể
hiện mức độ giải thích của các biến cao. Như vậy, không có hiện
tượng đa cộng tuyến trong mô hình, vì vậy nghiên cứu này của
nhóm tác giả giữ nguyên các biến để phân tích tác động của biến
độc lập đến biến phụ thuộc (ROE).
Bảng 3: Breusch- Godfrey nối tiếp kiểm tra tƣơng
quan LM
Thống kê F
Obs*R
2
2. 456155
Xác suất
0. 0663
7. 404435
Xác suất
0. 0601
Nguồn: trích từ kết quả chạy Eviews của nhóm tác giả
Bảng 4. Kết quả theo mô hình OLS
trong mối quan hệ với thanh khoản của các NHTM Việt Nam.
Xác định mục tiêu nâng cao tính thanh khoản của
NHTM và tác động của nó:
Từ kết quả mô hình cũng như các nghiên cứu thực
nghiệm, nhóm tác giả nhận thấy rằng việc để nâng cao thanh
khoản và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động thì các NHTM
cần tác động đến Trạng thái tiền mặt (CDTA); tỷ lệ tiền mặt, tiền
gửi NHTM, tiền gửi TCTD trên Tổng tiền gửi (CDDEP); cấu trúc
dư nợ tín dụng, chứng khoán kinh doanh, chứng khoán sẵn sàng
để bán trên tổng tài sản; cấu trúc dư nợ tín dụng, chứng khoán
kinh doanh, chứng khoán sẵn sàng để bán trên tổng tiền gửi để
nâng cao hiệu quả hoạt động.
Nâng cao tác dụng của Trạng thái tiền mặt (CDTA) đối
với hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam:
Theo kết quả nghiên cứu ở chương 4, nhóm tác giả nhận
thấy rằng nhân tố CDTA (Trạng thái tiền mặt ) có tương quan
thuận với hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam nghĩa là có tác
động tích cực làm tăng ROE (Hiệu quả hoạt động). Đồng thời đây
cũng chính là nhân tố có tác động mạnh nhất đến hiệu quả hoạt
động. Chính từ những nghiên cứu trên tác giả đã đưa ra giải pháp
nhằm nâng cao CDTA và sử dụng nó một cách hợp lý hơn. Phần
lớn, tính thanh khoản các ngân hàng hình thành ở khả năng duy trì
tiền mặt, tiền gửi NHNN, tiền gửi TCTD khác.
Từ đó ta cần phải xây dựng trạng thái tiền mặt hợp lý để gia
tăng lợi nhuận cho ngân hàng cũng như đảm bảo hoạt động ngân
hàng được ổn định hơn.Thực tế được chứng minh từ năm 2009
đến 2013 trạng thái tiền mặt bình quân của các ngân hàng lần lượt
24.31%; 24.73%; 24.46%; 22.51%, 15.95%. Những ngân hàng có
trạng thái tiền mặt trên mức bình quân sẽ làm cho tỷ suất sinh lợi
trên vốn chủ sở hữu (ROE) tăng cao hơn. Ngược lại, các ngân
của ngân hàng sẽ tăng lên.
Tiếp tục nâng cao cấu trúc Tổng dư nợ tín dụng, CK
kinh doanh, CK sẵn sàng để bán trên Tổng tiền gửi khách hàng
(INVSDEP) một cách hợp lý:
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì tỷ lệ tổng Dư nợ
tín dụng, CK kinh doanh, CK sẵn sàng để bán trên Tổng tiền gửi
khách hàng (INVSDEP) có tương quan thuận với hiệu quả hoạt
động của ngân hàng nghĩa là khi INVSDEP càng tăng thì hiệu quả
hoạt động của ngân hàng càng tăng.
Phần lớn tài sản sinh lời của các ngân hàng hình
thành từ tiền mặt, tiền gửi NHNN, tiền gửi TCTD khác. Ngân
hàng cần có những chính sách về lãi suất nhằm duy trì tiền gửi của
khách hàng ở mức độ phù hợp để làm cơ sở cho việc thúc đẩy hoạt
động tín dụng và đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao
hơn, đề ra một tỷ lệ phù hợp giữa huy động và cho vay. Bên cạnh
đó, ngân hàng cần huy động các nguồn vốn ngắn hạn để dễ dàng
điều chỉnh lãi suất tiền gửi tương ứng với lãi suất cho vay trong
tình hình khó khăn hiện nay, nhằm nâng cao tính thanh khoản
cũng như giảm bớt chi phí lãi tiền gửi phải trả cho khách hàng
hàng tháng. Đồng thời, ngân hàng cần đa dạng hóa khách hàng
cho vay, hạn chế các món vay tập trung vào một khách hàng hay
một ngành nghề nhất định nhằm hạn chế rủi ro trong danh mục
cho vay. Từ đó ta cần phải xây dựng cấu trúc hợp lý giúp ngân
hàng có cơ hội gia tăng thêm lợi nhuận.
Giảm tỷ lệ Tổng dư nợ tín dụng, chứng khoán kinh
doanh, chứng khoán sẵn sang để bán trên Tổng tài sản
(INVSTA) trong tình hình khó khăn hiện nay:
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì Tỷ lệ Dư nợ tín
dụng, CK kinh doanh,CK sẵn sàng để bán trên tổng tài sản
hình dự trữ bắt buộc, giám sát tình hình thực hiện cũng như cần có
cơ quan tư vấn cho các NHTM thực hiện và đảm bảo tiến độ thực
hiện chính sách hợp lý. Tăng cường đội ngũ thanh tra, giám sát để
đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng nói chung và
NHTM nói riêng.
Tăng cường hệ thống kế toán, công khai thông tin và
hoàn hiện hệ thống pháp lý:
Cụ thể hóa những hướng dẫn về dự phòng nhằm giúp các
đơn vị dự phòng đầy đủ. Đồng thời phân loại tài sản một cách chặt
chẽ sẽ giảm thời gian trì hoãn công nhận các khoản nợ xấu,
khuyến khích NH dự phòng đầy đủ hơn để giảm thiểu tổn thất do
các khoản nợ xấu gây ra.
Công khai thông tin cơ bản về hoạt động ngân hàng, thu
nhập , cân đối kế toán cần được minh bạch, mở rộng theo tiến
trình hòa hợp nhằm giúp các chủ nợ ngân hàng , nhà đầu tư có
được bức tranh tổng thể về hoạt động của NH, vốn, tài sản, dự
phòng đối với các khoản vay cũng như hỗ trợ đắt lực trong việc
giám sát tuân thủ, phát hiện sai phạm, từ đó tạo niềm tin cho
khách hàng cũng như giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của
NHTM.
Cơ sở pháp lý cần tập trung vào việc nâng cao quyền hạn
của cơ quan thanh tra. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy
định về hoạt động NH, cơ chế chính sách về kiểm soát, sửa đổi bổ
sung Luật Ngân hàng Nhà nước, luật các tổ chức tín dụng phù hợp
nhằm hạn chế rủi ro đối với chủ sở hữu ngân hàng. Song song với
việc sử dụng mô hình kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thì các
NHTM cần thường xuyên kết hợp với NHNN để thanh tra, kiểm
tra thường xuyên tình hình tài chính để từ đó đề ra những giải