SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP DẠY ÔN TẬP TỐT NGHIỆP MÔN NGỮ VĂN
THPT"
1
A-ĐẶT VẤN ĐỀ
Môn Ngữ văn là một môn học quan trọng. Cùng với Toán và Tiếng Anh, Ngữ văn cũng
là môn thi tốt nghiệp THPT. Trong nhà trường ngoài việc cung cấp những kiến thức về
văn học trong và ngoài nước thì nó còn giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc, nghe, viết,
nói. Đó là những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống.
Trong quá trình học tập, học sinh học không chỉ để biết mà còn để kiểm tra, thi cử. Muốn
thi đạt kết quả cao thì việc ôn tập là không thể thiếu. Có thể thấy ôn tập và kiểm tra đánh
giá kết quả học tập là những mắt xích quan trọng trong quá trình dạy và học. Tôi chọn đề
tài này nhằm giúp học sinh nắm chắc kiến thức khi thi tốt nghiệp và làm bài thi tốt
nghiệp.
Là một giáo viên dạy học ở trường THPT miền núi, điều kiện học tập của học sinh còn
nhiều khó khăn do kinh tế chưa phát triển mạnh, tỉ lệ học sinh thuộc diện hộ nghèo khá
cao nhưng các em rất chăm học. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chất lượng học sinh
vẫn chưa cao. Đặc biệt là tỉ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi trong các kì thi TNPT còn thấp,
điều đó đã làm cho tôi luôn trăn trở. Tôi luôn nghĩ: phải làm thế nào để học sinh đi thi
đạt điểm cao môn Ngữ văn Vì vậy, những năm gần đây trong quá trình giảng dạy và ôn
thi cho học sinh, tôi đã nghiên cứu và tìm được cách ôn luyện phù hợp, học sinh biết cách
và làm bài nên kết quả đã được nâng lên. Việc thực nghiệm đã được tiến hành trong ba
năm học (năm học 2010 – 2011 và năm học 2011 – 2012) và tiếp tục thực hiện trong
năm học 2012 – 2013 kết quả thi thử tốt nghiệp THPT đã được nâng lên đáng kể (tỉ lệ
học sinh đạt điểm trung bình trở lên các lớp khá cao trong đó học sinh đạt điểm khá, giỏi
là 50%)
gian làm bài của môn Ngữ Văn, Toán là 150 phút. Đối với môn Ngữ văn cấu trúc một đề
thi tốt nghiệp gồm có 2 phần: Phần chung bao gồm một câu hỏi tái hiện kiến thức 2 điểm;
một câu nghị luận xã hội 3 điểm. Phần riêng học sinh có thể chọn một trong hai câu nghị
luận văn học thuộc chương trình chuẩn hoặc chương trình nâng cao, mỗi câu 5 điểm. Như
vậy điểm của phần nghị luận văn học chiếm tỷ lệ điểm tương đối cao. Nó là một phần rất
quan trọng trong đề bài. Chính vì vậy, trong quá trình dạy ôn tốt nghiệp cho học sinh giáo
viên phải rèn cho học sinh kĩ năng làm bài nghị luận văn học.
- Thể loại truyện ngắn trong chương trình lớp 12 chủ yếu được biên soạn ở học kì
II, gồm 5 truyện ngắn: Đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), đoạn trích “Vợ nhặt”
(Kim Lân), tác phẩm “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành), đoạn trích “Những đứa con
gia đình” (Nguyễn Thi), tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu). Đây là
phần kiến thức trọng tâm trong hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp. Hầu như năm học nào đề thi
tốt nghiệp của Bộ GD – ĐT cũng có câu hỏi về một vấn đề trong những tác phẩm truyện
ngắn này.
- Thực tế giảng dạy ở trường phổ thông cho thấy càng ngày học sinh càng lười học
môn Ngữ văn. Học sinh lười đọc văn bản, lười học dẫn chứng, thái độ tiếp thu bài học
cũng không được hứng thú. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều đáng buồn trên. Song
nguyên nhân chủ yếu là do học sinh học lệch. Học lên đến THPT các em đã xác định khối
thi của mình nên học theo khối. Đại đa số các em học khối A (Toán, Lí, Hóa) vì khối này
có nhiều trường thi, có hội lựa chọn cũng nhiều. Vì vậy các em chỉ học 3 môn thi đại học
3
nên dẫn đến sao nhãng những môn học còn lại. Hơn nữa học sinh quen với những thao
tác khoanh tròn trong những môn thi trắc nghiệm nên đến khi viết một bài văn tự luận dài
là rất ngại. Xuất phát từ những nguyên nhân đó nên tình trạng học sinh làm văn là rất hạn
chế. Trong những bài kiểm tra, những bài thi học sinh không biết cách tìm ý, lập dàn bài,
không thuộc dẫn chứng để chứng minh cho luận điểm nên có hiện tượng học sinh chỉ đi
tóm tắt văn bản đơn thuần mà không phân tích được nhân vật, hay vấn đề cần nghị luận;
5
* Thân bài:
1/ Ngoại hình: Mị là một cô gái xinh đẹp. Ngoại hình của Mị không được miêu tả trực
tiếp mà được gợi lên qua chi tiết “Trai làng đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị” ->
Với ngoại hình ấy Mị xứng đáng được hưởng một cuộc sống hạnh phúc.
2/ Số phận: bất hạnh
- Sinh ra trong một gia đình nghèo: cha mẹ lấy nhau không có tiền cưới, phải vay bạc nhà
giàu đến khi mẹ Mị chết mà vẫn không trả được nợ, để rồi người ta bắt Mị về làm dâu gạt
nợ.
- Khi làm dâu nhà thống lí: Mị bị đầy ải về cả thể xác lẫn tinh thần:
+ Thể xác: Làm việc quần quật như trâu ngựa “ Tết đến thì giặt đay xe đay,……cài một
bó tay ở cánh tay để tước thanh sợi”-> Mị như một công cụ lao động, bị thống lí Pá Tra
bóc lột hết sức lao động.
Mị còn bị đánh đập rất dã man: Đêm tình mùa xuân Mị đang chuẩn bị đi chơi thì nó đi
đâu về. Thấy thế nó liền trói Mị vào cột “trói Mị bằng một thúng sợi ……..”. Không
những thế, khi Mị ngồi bóp thuốc cho A Sử vì mệt quá nên đã ngủ thiếp đi vậy mà A Sử
liền đạp vào mặt Mị. Trong những đêm đông trên núi cao dài và buồn Mị trở dậy thổi lửa
hơ tay, có những đêm A Sử đi chơi về đã vô cớ đánh Mĩ ngã gục xuống cửa bếp -> Mị là
nạn nhân của xã hội vô nhân đạo. Thằng A Sử - chồng Mị đã coi Mị như một nơi để thỏa
mãn thú tính của mình.
+ Tinh thần: Về làm dâu nhà thống lí càng ngày Mị càng không nói “lùi lũi như con rùa
nuôi trong xó cửa” “Mị tưởng mình là con trâu con ngựa” -> với nghệ thuật so sánh vật
hóa tác giả đã làm nổi bật thân phận vật của Mị. Câu văn “Ở lâu trong……” thật xót xa
bởi nó cho thấy Mị bị đầy ải như thế nào khi ở nhà thống lí
Căn buồng Mị ở “kín mít ……..” – là một thứ ngục thất giam hãm tinh thần của Mị, nó
giết chết tuổi trẻ, tình yêu, tự do ở Mị. Ngồi trong căn buồng ấy Mị dường như mất hết ý
niệm về thời gian, không gian, mất hết tri giác về cuộc sống.
nhân vật….
4/ Đánh giá:
- Nghệ thuật:
+ Khắc họa nv Mị tác giả đã sử dựng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. Tâm lí nhân vật
chủ yếu được thể hiện qua nội tâm. Tô Hoài đã diễn tả được những trạng thái tâm lí rất
phức tạp, tinh tế của Mị.
+ Ngôn ngữ phong phú, sinh động
+ Chi tiết giàu sức gợi
- Ý nghĩa của hình tượng nhân vật Mị: qua nv nhà văn thể hiện sâu sắc giá trị hiện thực
và giá trị nhân đạo của tp. Tô Hoài đã thể hiện niềm xót thương đối với những người lao
động miền núi; đồng thời ca ngợi những phẩm chất của họ, nhà văn thể hiện niềm tin vào
7
sức sống của người lao động là dù có bị áp bức như thế nào thì họ vẫn có sức sống vươn
lên. Tác giả còn lên án bọn chúa đất miền núi độc ác, vô nhân tính,….
Khi giáo viên hướng dẫn học sinh hình thành dàn ý về nhân vật Mị xong giáo viên yêu
cầu học sinh dựa trên dàn bài về nhân vật Mị tự lập dàn ý cho đề “Phân tích nhân vật A
Phủ” trong đoạn trích. Sau đó giáo viên củng cố dàn bài cho học sinh (ở nhân vật A Phủ
trọng tâm làm nổi bật số phận và phẩm chất như khỏe mạnh, lao động giỏi; gan góc,
cương trực; có sức sống mạnh mẽ)
Đề 2: Phân tích hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong “Vợ nhặt” – Kim Lân?
- Yêu cầu học sinh xác định luận điểm: Ở nhân vật bà cụ Tứ có ngoại hình xấu, có những
phẩm chất tốt đẹp.
- Yêu cầu học sinh tìm dẫn chứng để chứng minh cho từng luận điểm -> Gv củng cố,
hình thành dàn bài cho học sinh.
* Phần mở bài và kết bài tương tự như dàn bài về Tràng
* Phần thân bài:
1/ Ngoại hình: dáng đi lọng khọng, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng -> tội
Nguyễn Thi?
- Yêu cầu học sinh xác định luận điểm: Ở nhân vật Việt không có ngoại hình xấu, không
có luận điểm số phận, chỉ có những phẩm chất tốt đẹp.
- Yêu cầu học sinh xác định luận điểm nhỏ và tìm dẫn chứng để chứng minh cho từng
luận điểm -> Gv củng cố, hình thành dàn bài cho học sinh.
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Thi: Là nhà văn gắn bó với người nông dân Nam Bộ nên
được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ.
- Giới thiệu tác phẩm: “Những đứa con trong gia đình” được sáng tác vào năm 1966 khi
cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt nhất.
- Giới thiệu đối tượng nghị luận: Tác phẩm đã khắc họa thành công nhân vật Việt.
* Thân bài:
1/ Việt là một người giàu tình yêu thương:
- Yêu thương má:
+ Việt sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng và có mối thù sâu sắc
với giặc Mĩ: ông nội và cha đều bị giặc giết, má Việt chết dưới bom đạn kẻ thù nên Việt
cùng chị đã quyết tâm đi tòng quân để trả thù cho ba má. Ở Việt thù nhà gắn với nợ nước.
Việc đăng kí đi tòng quân là xuất phát từ ý thức trách nhiệm, từ bổn phận chứ không phải
theo phong trào “ý nghĩ đi bộ độ thôi thúc Việt”
9
+ Mặc dù má đã hi sinh nhưng trong tâm trí của Việt thì dường như má vẫn còn, vẫn về
che chở,bảo ban hai chị em: Trong đêm ghi tên tòng quân hai chị em bàn tính thu xếp
việc nhà “cả 2 chị em đều nhớ đến má…..”
+ Tình thương má được thể hiện trong khi hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhà
chú Năm: hai chị em làm cơm cúng má để thể hiện lòng hiếu thảo / em trước chị sau
khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm với một niềm kính trọng nhất / trong khi
khiêng bàn thờ Việt vừa đi vừa như nói chuyện với má, Việt nghĩ là má sẽ hiểu được lòng
-> Việt là chiến sĩ trẻ tuổi nhưng anh hùng.
3/ Đánh giá:
- Nghệ thuật khắc họa nhân vật:
+ Tác giả đã khắc họa nhân vật qua nghệ thuật trần thuật độc đáo. Qua dòng hồi tưởng
của Việt thì tính cách của Việt được bộc lộ.
+ Tính cách nhân vật được thể hiện qua hành động và ngôn ngữ và cả độc thoại nội tâm
+ Ngôn ngữ, tính cách nhân vật mang đậm màu sắc Nam Bộ.
- Ý nghĩa của hình tượng:
+ Nhân vật Việt đại diện cho vẻ đẹp của thế hệ thanh niên miền Nam thời chống Mĩ.
+ Trong gia đình thì Việt là khúc sông chảy xa nhất. Qua nhân vật Việt tác giả muốn
khẳng định mỗi gia đình mà biết kết hợp giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, truyền
thống gia đình với truyền thống dân tộc thì sẽ tạo nên được sức mạnh to lớn của con
người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ.
* Kết bài:
- Khẳng định vẻ đẹp của nhân vật
- Tài năng và vị trí của Nguyễn Thi trong nền VHVN.
Tương tự nhân vật Việt giáo viên yêu cầu học sinh phân tích nhân vật Chiến trong đọan
trích (chú ý ngoại hình và phẩm chất: giàu tình yêu thương má, thương em; đảm đang
tháo vát; kiên cường, dũng cảm)
Các nhân vật khác trong các tác phẩm còn lại giáo viên cũng hướng dẫn học sinh tìm hiểu
đề, lập dàn ý theo những ý chính trong dàn bài khái quát và dần dần sẽ hình thành cho
học sinh kĩ năng làm bài phân tích nhân vật.
Một số đề bài:
Đề bài: Phân tích nhân vật Tnú / hình tượng cây xà nu trong “Rừng xà nu” – Nguyễn
Trung Thành?
Đề bài: Phân tích hình ảnh người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” –
Nguyễn Minh Châu?
11
- Diễn biến tâm trạng: Lúc đầu thì thản nhiên trước nỗi đau của A Phủ -> nhìn thấy dòng
nước mắt của A Phủ mới nghĩ đến mình -> nhận ra chúng nó thật độc ác -> thương A Phủ
-> cắt dây trói cho A Phủ -> chạy theo A Phủ…
- Nghệ thuật: miêu tả tâm lí nhân vật,….
- Ý nghĩa: Ca ngợi sức sống mãnh liêt của người dân miền núi,…
Một số đề bài:
Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân trong “Vợ
chồng A Phủ” –Tô Hoài?
Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng trong “Vợ nhặt” – Kim
Lân?
1.3/ Dạng đề so sánh hai nhân vật:
Học sinh làm đề bài này phải nắm được kiến thức về phân tích nhân vật.
Dàn bài khái quát:
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu 2 nhân vật.
* Thân bài:
- Nét chung của các nhân vật
- Nét riêng của các nhân vật
- Đánh giá về nghệ thuật và ý nghĩa của hình tượng.
* Kết bài:
Ví dụ:
Đề bài: So sánh tính cách của hai nhân vật Chiến và Việt trong “Những đứa con
trong gia đình” – Nguyễn Thi?
* Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu 2 nhân vật
13
phúc mái ấm / hiền hậu / thu vén gia đình, có niềm tin
14
+ Người đàn bà là phẩm chất của người phụ nữ gánh nặng cuộc sống mưu sinh trong
hoàn cảnh nghèo đói, trong nạn bạo lực gia đình: thương con, thấu hiểu lẽ đời, bao dung
độ lượng.
2/ Dạng đề nghị luận về tình huống truyện:
Tình huống truyện là hạt nhân của truyện ngắn. Bất cứ tác phẩm nào cũng có tình
huống truyện. Tuy nhiên, đề bài kiểm tra và đề thi hay tập trung vào những tác phẩm có
tình huống truyện hay và độc đáo. Đáng lưu ý trong những tác phẩm SGK NGữ văn 12 là
tác phẩm “Vợ nhặt” và “Chiếc thuyền ngoài xa”.
a/ Trước khi đi vào phân tích những đề bài cụ thể giáo viên cũng phải xây dựng cho học
sinh một dàn ý khái quát về dạng đề này:
* Mở bài:
- Giới thiệu tg, tp
- Khẳng định tp có một tình huống truyện hay và hấp dẫn.
* Thân bài:
- Vài nét về tình huống truyện: Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của tác phẩm
truyện ngắn. Nó chính là hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến
cho tại đó cuộc sống hiện lên rõ nhất và ý nghĩa tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ
một cách rõ nét nhất.
- Tình huống truyện của tp và biểu hiện cụ thể của tình huống truyện trong tác phẩm.
- Ý nghĩa của tình huống truyện trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm.
* Kết bài: - Khẳng định giá trị của tình huống truyện của tp.
- Khẳng định tài năng của nhà văn.
b/ Những ví dụ cụ thể:
Đề bài: Phân tích tình huống truyện của tác phẩm “Vợ nhặt: - Kim Lân?
* Mở bài: - Giới thiệu tg, tp
đức và triết lí nhân sinh.
- Giới thiệu tác phẩm: Tác phẩm sáng tác năm 1983 là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách
của ông sau 1975.
* Thân bài:
1/ Vài nét về tình huống truyện: (như ở dàn bài khái quát)
2/ Tình huống truyện trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”: là tình huống nhân thức.
Tác phẩm đã hướng đến giây phút giác ngộ về nghệ thuật và cuộc sống của hai nhân vật
Phùng và Đẩu.
- Sự kiện để tạo nên tình huống là đằng sau bức tranh về thuyền và biển đẹp như mơ là
những bất công, nghịch lí diễn ra trong gia đình hàng chài:
16
+ Phát hiện 1 của Phùng: Là phát hiện về 1 cảnh tượng rất đẹp về thuyền và biển trong
sương sớm …..-> tượng trưng cho nghệ thuật khi còn ở xa.
+ Phát hiện thứ 2: Là cảnh tượng đầy đau đớn xót xa của gia đình hàng chài khi chiếc
thuyền vào gần bờ….-> là cuộc đời đầy nghịch lí.
- Tình huống truyện tiếp tục được đẩy lên cao khi người đàn bà được Đẩu mời đến tòa án
để giải quyết việc gia đình:
+ Lúc đầu Đẩu khuyên chị ta bỏ chồng nhưng người đàn bà đã xin “đừng bắt con bỏ nó” > Phùng và Đẩu không hiểu vì sao.
+ Khi người đàn bà giải thích: trên thuyền cần có một người đàn ông để chèo chống khi
phong ba để nuôi đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa -> Phùng và Đẩu
đều vỡ ra nhiều điều.
3/ Khía cạnh nhận thức của tình huống: được thể hiện qua quá trình nhận thức, giác ngộ
của hai nhân vật Phùng và Đẩu về cuộc sống và con người; về cách nhìn nhận cuộc sống
và con người.
+ Phản ánh hành trình nhận thức về cái đẹp và cuộc sống của người nghệ sĩ nhiếp ảnh
Phùng: anh nhận thấy chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, còn sự thực cuộc đời thì lại
rất gần; cái đẹp ngoại cảnh anh ngỡ như hoàn hảo có thể che khuất cái bề bộn, ngổn
là nhà văn thể hiện thái độ thương cảm của mình đối với những số phận bất hạnh; lên án
những thế lực tàn bạo; ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người; và hướng nhân
vật đến cuộc sống tốt đẹp hơn.
- Biểu hiện của các giá trị nội dung trong tác phẩm cụ thể:
+ Giá trị hiện thực: tác phẩm phản ánh xã hội với những mâu thuẫn, tầng lớp nào
+ Giá trị nhân đạo: Nhà văn xót thương cảm thông với nhân vật của mình như thế nào /
Tố cáo thế lực tàn bạo ra sao / Ngợi ca phẩm chất con người / Mở ra cuộc sống tương lai
mới cho nhân vật của mình hay không? (lấy dẫn chứng chứng minh)
- Đánh giá: các giá trị đó có kế thừa văn học truyền thống hay không? Có gì là mới mẻ?
* Kết bài: - Khẳng định sức sống của tp/ Vị trí của nhà văn trong nền VH dân tộc.
b/ Những ví dụ cụ thể:
Đề bài: Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” đã thể hiện sâu sắc giá trị hiện thực và giá trị
nhân đạo. Anh (chị) hãy làm sáng tỏ điều này?
* Mở bài:
- Giới thiệu Tô Hoài và tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”
- Giới thiệu đối tượng nghị luận: Tác phẩm phản ánh chân thực bộ mặt của xã hội miền
núi và thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo.
* Thân bài:
1/ Giá trị hiện thực:
2.1/ Vài nét về giá trị hiện thực (ở dàn bài khái quát)
18
2.2/ Biểu hiện: Ngòi bút hiện thực của Tô Hoài toàn diện và sâu sắc khi tác giả phản ánh
được bộ mặt của xã hội miền núi Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 ở cả 2 phương diện
là đời sống của giai cấp thống trị và đời sông của những người lao đông nghèo khổ bị áp
bức bóc lột:
- Đời sống của giai cấp thống trị mà đại diện ở đây là Pá tra và A Sử: (dẫn chứng chứng
minh sự tàn bao, độc ác của cha con thống lí)
- Tác phẩm đi sâu phản ánh đời sống của người dân bị áp bức trên cả hai phương diện là:
đời tốt đẹp hơn.
2.3/ Đánh giá: Giá trị nhân đạo của tp vừa có sự kế thừa giá trị nhân đạo trong VH truyền
thống, vừa mang tinh thần của thời đại – thời đại cách mạng tháng 8. Nhà văn đã có cái
nhìn mới về vai trò của nhân dân lao động, đã phát hiện ra khả năng cách mạng của họ.
* Kết bài: - Sức sống của tp và vị trí của nhà văn.
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề giá trị nhân đạo tong tác phẩm “Vợ chồng A
Phủ” giáo viên yêu cầu học sinh lập dàn ý cho đề bài giá trị nhân đạo trong “Vợ nhặt”
với những luận điểm tương tự. Sau khi học sinh trình bày, giáo viên sẽ củng cố và hình
thành dàn ý cho học sinh.
Đề bài: Giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh
Châu?
* Mở bài: - Giới thiêu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
1/ Vài nét về giá trị nhân đạo (ở dàn bài khái quát)
2/ Biểu hiện cụ thể:
- Nhà văn có cái nhìn thương xót cảm thông đối với nhân vật người đàn bà và người đàn
ông:
+ Nhà văn thương cảm, xót xa đối với người đàn bà. Người đàn bà có số phận bất hạnh
(còn nhỏ; khi lấy chồng thì cuộc sống lại nghèo khó, bị đánh đập, bị giày vò về tinh thần)
+ Nhà văn có cái nhìn cảm thông đối với người đàn ông: Nhà văn hiểu rằng anh ta chính
là nạn nhân của hoàn cảnh, là nạn nhân của sự nghèo đói. Xưa là người hiền lành nhưng
do nghèo, thuyền chật nên “cứ lúc nào lão thấy khổ là xách tôi ra đánh”
- Nhà văn lên án hành động vũ phu của người đàn ông: rất cảm thông với nỗi khổ của
người đàn ông nhưng nhà văn vẫn có thái độ dứt khát đối với hành động vũ phu đối với
vợ con của người chồng. Hắn tự cho mình quyền hành hạ người khác. Hắn vừa là nạn
nhân của hoàn cảnh vừa là nguyên nhân gây ra những đau khổ cho người thân.
- Nhà văn ca ngợi phẩm chất của người đàn bà:
+ Giàu tình thương con
+ Bao dung, thấu hiểu nỗi đau của chồng
cao, giáo viên nên sử dụng máy chiếu đa năng. Máy chiếu này cho phép giáo viên có thể
trình bày nguyên bài viết của học sinh lên trên bảng để cho cả lớp theo dõi. Khi đó việc
chữa bài cho học sinh là rất thuận lợi.
- Giáo viên nên chữa từ 4 đến 5 bài viết, trong đó cần phải đặc biệt lưu ý đến học
sinh yếu, kém. Tuy nhiên,cần phải trình chiếu một bài viết của học sinh khá tốt để học
21
sinh có sự so sánh đối chiếu để nhận ra mặt hạn chế từ đó rút kinh nghiệm cũng như nhận
thấy mặt tốt để học tập.
- Để phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên cần có sự đánh giá cho điểm sau
khi chữa bài.
Bước 3 : MỘT TIẾT DẠY ÔN TẬP CỤ THỂ:
Đề bài: Phân tích nhân vật Chiến trong đoạn trích “Những đứa con trong gia đình” –
Nguyễn Thi?
I/ Yêu cầu: - Rèn cho học sinh kĩ năng làm dạng bài phân tích nhân vật
- Ôn tập kiến thức về nhân vật Chiến.
II/ Tiến trình tiết dạy:
Hoạt động của GV và GV
Nội dung
GV yêu cầu GV nhắc lại dàn I/ Tìm ý:
bài chung của dạng đề phân tích - Ngoại hình
nhân vật:
- Tính cách:
* Mở bài:
+ Giàu tình yêu thương
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
+ Ý nghĩa của hình tượng nhân tay…….cháy nắng; bước chân bịch bịch
vật trong tác phẩm.
-> ngoại hình của một người nông dân
Nam Bộ: vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, chất
* Kết bài:
phác, khỏe mạnh.
- Đánh giá vẻ đẹp, sức sống của
b/ Tính cách:
nhân vật trong văn học
* Giàu tình yêu thương:
- Tài năng, vị trí của nhà văn.
Từ dàn bài khái quát học sinh - Thương má:
xác định ý cho dàn bài phân + Sẵn sàng đi tòng quân để giết giặc trả
tích nhân vật Chiến
thù cho ba má
Gv củng cố
+ Má luôn tồn tại trong tâm trí của Chiến
và Việt với một niềm yêu thương kính
trọng nhất: trong đêm hai chị em bàn
Giáo viên yêu cầu học sinh viết tính việc nhà trước ngày lên đường thì
thành một mở bài hoàn chỉnh (5 Chiến và Việt “đều nhớ đến má. Có cảm
phút)
giác má về đâu đây …..mà quạt”
Giáo viên sửa bài của học sinh + Chiến cùng với Việt khiêng bàn thờ
trên máy chiếu đa năng
má sang gửi nhà chú Năm: làm cơm
cúng má để thể hiện lòng hiếu thảo; dang
Nguyễn Thi là nhà văn lớn của cả thân người để nhấc bổng một đầu bàn
văn học Việt Nam. Nguyễn Thi thờ lên thể hiện niềm kính cẩn trước
được mệnh danh là nhà văn của
người nông dân Nam Bộ.
Truyện ngắn “Những đứa con
trong gia đình” là tiêu biểu cho
phong cách của Nguyễn Thi.
Tác phẩm sáng tác vào năm
1966 khi cuộc kháng chiến
chống Mĩ ác liệt nhất. Bên cạnh
nhân vật Việt tác phẩm đã khắc
họa thành công nhân vật Chiến
mầy với tao đi kì này…….chú chặt đầu”> Chiến đã dặn em như ba má dặn các
con trước ngày lên đường đi chiến đấu.
- Chiến còn đảm đang, tháo vát trong
việc thu xếp việc nhà. Trong khi Việt vô
tư, hồn nhiên thì Chiến lại lung bung
nghĩ ngợi lo toan việc nhà, “sắp tới đây
có bao nhiêu chuyện phải lo phải nghĩ,
ngay bây giờ cũng có bao nhiêu chuyện
phải nhớ”: Chiến tính phải viết thư cho
chị Hai, nhà cho xã mượn,….
-> Hơn Việt 1 tuổi nhưng Chiến tỏ ra rất
“người lớn”.Chiến thực sự là người “mẹ”
của 2 đứa em. Sự chững chạc của Chiến
đến nỗi chú Năm phải thốt lên “Việc nhà
nó thu …….nước non”
* Là người anh hùng, dũng cảm:
- Sẵn sàng tham gia tòng quân mà không
sợ hi sinh. Đặt trong hoàn cảnh giặc điên
cuồng khủng bố thì đó là một hành động
Sau khi hướng dẫn học sinh
hình thành dàn ý giáo viên yêu
cầu học sinh viết luận điểm
Chiến là người đảm đang, tháo
vát, “người lớn” thành một
đoạn văn hoàn chỉnh trên cơ sở
đã được cung cấp kiến thức (có
câu chuyển ý, diễn đạt trong
sáng, rõ ràng, lập luận chặt chẽ)
+ Ngôn ngữ và tính cách nhân vật mang
đậm màu sắc Nam Bộ.
+ Cảm hứng lãng mạn, ngợi ca.
- Ý nghĩa hình tượng nhân vật:
+ Vẻ đẹp của nhân vật Chiến tiêu biểu
cho vẻ đẹp của người phụ nữ nông dân
Nam Bộ.
+ Cùng với Việt, Chiến là khúc sông
chảy xa hơn cả. Qua nhân vật Chiến tác
giả khẳng đinh nếu mỗi con người biết
kết hợp tình cảm gia đình với tình yêu
Giáo viên chữa bài viết của học nước, truyền thống gia đình với truyền
sinh trên máy chiếu đa năng. thống dân tộc sẽ tạo nên sức mạnh to lớn
(phụ lục)
của dân tộc Việt nam trong kháng chiến
chống Mĩ.
3/ Kết bài: Khẳng định vẻ đẹp của nhân
vật; Tài năng của Nguyễn Thi.
II. Củng cố: Nắm được cách làm bài nghị luận phân tích nhân vật và những ý chính