Sáng kiến kinh nghiệm SKKN môn công nghệ THPT một số giải pháp đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT
QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH"

1


LỜI NÓI ĐẦU
Đổi mới phương pháp dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông nói chung và
giáo dục THPT nói riêng là vấn đề được đặt ra và thực hiện từ nhiều năm nay . Để thực
hiện vấn đề này, đã có nhiều những hình thức và biện pháp dạy học được triển khai như:
dạy học nêu vấn đề, tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học… Những biện
pháp và hình thức đó, trong quá trình thực hiện, đã góp phần thúc đẩy đổi mới phương
pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học
sinh. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học, bên cạnh các biện pháp, hình
thức dạy học như trên thì việc đổi mới KT - ĐG kết quả học tập của học sinh là vô cùng
quan trọng. KT - ĐG là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học. Đó là một yêu
cầu khách quan đối với việc phát triển lí luận dạy học nói chung cũng như phương pháp
dạy học địa lí nói riêng. Đánh giá được xem là công cụ quan trọng chủ yếu xác định năng
lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy học. Đổi mới KT - ĐG sẽ tạo động lực
thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng, bảo đảm thực
hiện mục tiêu giáo dục.
Vậy, thế nào là đổi mới KT - ĐG ? KT - ĐG như thế nào để nâng cao hiệu quả giảng
dạy, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục? KT - ĐG trong môn Công nghệ bậc THPT
như thế nào để đảm bảo mục tiêu bộ môn? Đó là những câu hỏi lớn mà cá nhân tôi cũng
chưa có lời giải cụ thể. Nhưng, xuất phát từ thực tế giảng dạy, dưới đây, tôi xin trình bày
những kinh nghiệm của bản thân trong việc KT - ĐG kết quả học tập của học sinh, theo
cá nhân tôi, những biện pháp và hình thức kiểm tra như vậy đã có tác dụng tích cực đến

giáo dục phổ thông, quá trình sư phạm là một quá trình thống nhất toàn vẹn được cấu trúc
bởi các thành tố: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, người dạy,
người học, KT - ĐG kết quả… Tôi cho rằng việc cải tiến đổi mới kiểm tra KT - ĐG môn
Công Nghệ có vai trò hết sức quan trọng đối với việc vận dụng quan niệm dạy học mới
“Dạy-học hướng tập trung vào người học”. Đổi mới PPDH nhưng KT-ĐG không đổi mới
đương nhiên sẽ hạn chế việc đổi mới PPDH. Chính cách KT - ĐG của giáo viên làm thay
đổi cách học của học sinh.
Từ thực trạng trên, để việc KT - ĐG đạt hiệu quả tốt hơn và để đáp ứng được mục tiêu
giáo dục, tạo nên sự công bằng trong đánh giá tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài:
‘‘Đổi mới cách KT - ĐG kết quả học tập môn Công nghệ bậc THPT ’’
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Ở bậc THPT, việc học môn Công nghệ là môn học có nhiều kiến thức mới mẻ và mang
tính chất khoa học. Đặc thù của môn học công nghệ là môn học khó truyền đạt đối với
giáo viên, khó làm đối với học sinh. Là môn học có rất nhiều kiến thức mới, trừu tượng

3


mang tính công nghiệp. Chính vì lý do đó mà phân phối chương trình của Bộ giáo dục và
đào tạo đã dành cho khối 12 là 35 tiết, khối 11 là 52 tiết.
Chính vì vậy việc đổi mới KT- ĐG là vấn đề cần thiết hiện nay. Vì nó đánh giá được
học sinh có thể hiểu và nhớ được những kiến thức cơ bản của môn học, chủ yếu là nhớ ý
nghĩa theo hệ thống kiến thức của chương trình. Đánh giá được việc áp dụng kiến thức để
giải quyết tình huống cụ thể, sự độc lập sáng tạo của học sinh. Đánh giá được động cơ,
hứng thú, thái độ học tập của học sinh.
3. KẾT QUẢ CẦN ĐẠT.
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về dạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách, trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống

sách và kiến thức thu được ở ngoài đời sống thực tế.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài ‘‘Đổi mới cách KT - ĐG kết quả học tập môn Công
nghệ bậc THPT ’’ được xây dựng và thực hiện trong các giờ lên lớp, các bài kiểm tra 15
phút, 45phút và học kỳ tại trường THPT Hậu Lộc 2 từ năm học 2012 đến nay.

5


PhầnII. NỘI DUNG.
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
A. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
1. Khái niệm kiểm tra đánh giá:
a. Khái niệm kiểm tra.
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem xét thực chất,
thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là soát xét lại công việc, kiểm
tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Còn theo Trần Bá Hoành, kiểm tra
là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với nghĩa là nhằm
thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá và nhận xét.
Trong giáo dục, kiểm tra có các hình thức như kiểm tra thường xuyên (kiểm tra hàng
ngày), kiểm tra định kì (kiểm tra hết chương, hết phần...) và kiểm tra tổng kết (kiểm tra
cuối học kì).
Kiểm tra là theo dõi, sự tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được
những thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
Kiểm tra có 3 chức năng bộ phận liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau và bổ sung
cho nhau đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh.
Về mặt lý luận dạy học, kiểm tra có vai trò liên hệ nghịch trong quá trình dạy học. Kiểm
tra biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò để từ
đó có những quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thầy lẫn trò. Học sinh sẽ học tốt
hơn nếu thường xuyên được kiểm tra và được đánh giá một cách nghiêm túc, công bằng

sát, kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối chiếu với những chỉ
tiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của môn học.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình phức tạp và công phu. Vì vậy để
việc đánh giá kết quả học tập đạt kết quả tốt thì quy trình đánh giá gồm những công đoạn
sau:
- Phân tích mục tiêu học tập thành các kiến thức, kỹ năng.
- Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các kiến thức, kỹ năng dựa trên những dấu hiệu
có thể đo lường hoặc quan sát được.
- Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt được về các yêu cầu đặt ra,
biểu thị bằng điểm số.
- Phân tích, so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đề ra rồi đánh giá, xem xét
kết quả học tập của học sinh, mức độ thành công của phương pháp giảng dạy của giáo
viên… để từ đó có thể cải tiến, khắc phục nhược điểm.
- Trong đánh giá phải quán triệt nguyên tắc vừa sức, bám sát yêu cầu của chương trình.
2. Mục đích, ý nghĩa, vai trò của KT - ĐG kết quả học tập của học sinh
a. Mục đích của việc KT-ĐG

7


Công khai hóa nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và tập thể lớp,
tạo cơ hội cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ
của mình, khuyến khích động viên việc học tập.Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để
nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phân đấu
không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Như vậy, KT - ĐG không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và định hướng,
điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và
điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
b. Ý nghĩa của việc KT - ĐG
KT - ĐG có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt là đối với

Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà còn dạy học
như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá
để nâng cao chất lượng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành
một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy
học cho đến KT - ĐG kết quả dạy học. KT - ĐG có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao
chất lượng đào tạo. Kết quả của KT - ĐG là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt
động học và quản lý giáo dục. Nếu KT - ĐG sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào
tạo gây tác hại to lơn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới KT - ĐG trở thành
nhu cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay. KT - ĐG đúng thực tế,
chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say học tập, nâng cao năng lực
sáng tạo của bản thân trong học tập.
3. Chức năng của KT - ĐG:
Kiểm tra gồm 3 chức năng bộ phận liên kết thống nhất với nhau đó là: đánh giá, phát hiện
lệch lạc và điều chỉnh.

9


Nhờ đánh giá sẽ phát hiện ra cả những mặt tốt lẫn mặt chưa tốt trong trình độ đạt tới
của học sinh, trên cơ sở đó tìm hiểu kỹ nguyên nhân của những lệch lạc, về phía dạy
cũng như phía học, hoặc có thể từ khách quan. Phát hiện ra lệch lạc, tìm ra nguyên nhân
của lệch lạc là rất quan trọng. Vì sự thành đạt trong kết quả là điều đã dự kiến trong mục
tiêu, còn những lệch lạc thường bị bỏ qua, mà nếu sửa chữa loại trừ chúng thì chất lượng
sẽ được tốt lên.Từ đánh giá và phát hiện lệch lạc giáo viên điều chỉnh, uốn nắn, loại trừ
những lệch lạc đó, tháo gỡ những khó khăn trở ngại, thúc đẩy chất lượng dạy học lên rất
nhiều.
4. Bản chất của KT - ĐG.
Trong dạy học, KT - ĐG là một vấn đề hết sức phức tạp, nếu không cẩn thận dễ dẫn đến
sai lầm. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học nhất thiết phải đổi mới, cải cách KT - ĐG,
sử dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, có độ tin cậy cao, bên cạnh đó còn có công cụ KT ĐG cho học sinh để họ tự đánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức của bản thân mình, từ đó

Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về nội dung KT - ĐG và tiêu chí KT - ĐG (KT -ĐG
cái gì? cho điểm số thế nào?) tương ứng với hệ thống mục tiêu dạy học đã được cụ thể
hoá đến chi tiết.
Bước 2: Thiết kế công cụ KT - ĐG (hay lựa chọn hình thức KT - ĐG) và kế hoạch sử
dụng chúng, tuỳ theo mục đích KT - ĐG mà có thể lựa chọn các dạng kiểm tra (kiểm tra
sơ bộ, kiểm tra thường ngày, kiểm tra định kỳ và kiểm tra tổng kết); hoặc các hình thức
kiểm tra (kiểm tra miệng, viết 15', 45', học kỳ).
Bước 3: Thu nhập số liệu KT - ĐG: theo đáp án, bảng đặc trưng, giáo viên chấm bài
kiểm tra, thống kê điểm kiểm tra.
Bước 4: Xử lý số liệu
Bước 5: Hình thành hệ thống kết luận về việc KT - ĐG và đưa ra những đề xuất điều
chỉnh quá trình dạy học.
7. Những yêu cầu và nguyên tắc để KT - ĐG kết quả học tập của học sinh
a. Những yêu cầu sư phạm cần tuân thủ khi KT - ĐG kết quả học tập của học sinh
Khi KT - ĐG cần phải tuân thủ những yêu cầu sau:
- KT - ĐG phải xuất phát từ mục tiêu dạy học.
- Công cụ KT - ĐG phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định.
- KT - ĐG phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.
11


- KT - ĐG phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ KT - ĐG.
b. Những nguyên tắc để KT-ĐG kết quả học tập của học sinh
Để KT - ĐG kết quả học tập cần dựa vào những nguyên tắc mang tính tổng quát và cụ
thể.
Những nguyên tắc mang tính tổng quát:
- KT - ĐG là quá trình tiến hành, có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các mục
tiêu đề ra. Vậy, phải xác định rõ mục tiêu KT - ĐG là gì.
- Khi KT - ĐG phải chọn mục tiêu KT - ĐG rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu hiện
dưới dạng những điều có thể quan sát được.

B. CÁC PHUƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
I. KT - ĐG bằng phƣơng pháp quan sát
1. Bản chất
Phương pháp quan sát là phương pháp trong đó GV tổ chức cho HS sử dụng các giác
quan để tri giác có mục đích đối với các đôí tượng trong tự nhiên và xã hội mà không có
sự can thiệp vào các quá trình diễn biến của các hiện tượng hoặc sự vật đó.
2. Quy trình thực hiện
Bước 1: Lựa chọn đối tượng quan sát
Tuỳ theo nội dung học tập, GV sẽ chọn đối tượng quan sát phù hợp với trình độ HS và
điều kiện địa phương.
Bước 2: Xác định mục đích quan sát.
Trong quá trình quan sát không phải lúc nào học sinh cũng rút ra được những đặc điểm
của đối tượng. Vì vậy, với mỗi đối tượng, GV cần xác định mục đích của việc quan sát.
Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn HS quan sát.
- Có thể tổ chức cho HS quan sát cá nhân, quan sát theo nhóm hoặc cả lớp. Điều đó phụ
thuộc vào số đồ dùng chuẩn bị được và năng lực quản lý của GV.
- Sử dụng những câu hỏi nhằm hướng dẫn học sinh:
+ Quan sát tổng thể rồi mới đi đến bộ phận, chi tiết.
+ Quan sát từ bên ngoài rồi mới đi vào bên trong.
+ So sánh với các đối tượng cùng loại (mà các em đã biết) để tìm ra những đặc điểm
giống nhau và khác nhau.
Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả quan sát được về đối tượng.
3. Ƣu điểm:
- HS được sử dụng phối hợp nhiều giác quan để tri giác sự vật, hiện tượng, hình thành
được các biểu tượng, khái niệm cụ thể về hiện tượng

13


- Tạo hứng thú học tập, phát triển khả năng tập trung, chú ý, óc tò mò khám phá khoa

các bước sau:
14


- Bước 1: GV đặt câu hỏi nhỏ, riêng rẽ.
- Bước 2: GV chỉ định từng HS trả lời hoặc để học sinh tự nguyện trả lời (mỗi học sinh trả
lời một câu hỏi và trước mỗi câu hỏi nên để thời gian cho HS suy nghĩ câu trả lời)
- Bước 3: GV tổng hợp ý kiến và nêu ra kết luận dựa trên những câu trả lời đúng của HS
3. Ƣu điểm
- Kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập của HS
- Bồi dưỡng cho HS năng lực diễn đạt những vấn đề học tập bằng lời.
- Tạo không khí học tập sôi nổi trong giờ học.
4. Hạn chế
Nếu người giáo viên chưa có nghệ thuật tổ chức, điều khiển phương pháp đàm thoại thì
mang một số hạn chế sau:
- Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học.
- Có thể biến đàm thoại thành cuộc tranh luận giữa GV và học sinh, giữa các thành viên của
lớp với nhau.
5. Một số lƣu ý
- Giáo viên cần chuẩn bị thật tốt hệ thống câu hỏi. Các câu hỏi có liên quan chặt chẽ với
nhau, câu hỏi trước là tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau là sự kế tục và phát triển kết quả
của câu hỏi trước. Mỗi câu hỏi là một cái “nút” của từng bộ phận mà HS cần lần lượt tháo
gỡ thì mới được kết quả cuối cùng.
- Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng phương pháp vấn đáp, GV cần tổ chức đối thoại
theo nhiều chiều:
GV  HS, HS HS; và HS GV.
III. KT - ĐG bằng phƣơng pháp viết.
1. Phƣơng pháp trắc nghiệm tự luận
a. Khái niệm.
Trắc nghiệm tự luận là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ

2. Phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan
a. Khái niệm.
Trắc nghiệm khách quan (objective test), là một cụm từ đã xuất hiện trên thế giới hàng
trăm năm nay, theo các nhà nghiên cứu cũng như những nhà thực tiễn thường gọi cụm từ
này để chỉ hình thức tổ chức kiểm tra hoặc hình thức tổ chức thi cử, bằng cách cho thí
sinh lựa chọn và đánh dấu lên các mẫu tự để trả lời các câu hỏi trực tiếp hoặc gián tiếp
của đề thi.
Trắc nghiệm có thể hiểu như là một hoạt động kiểm tra và đo lường kiến thức
cũng như năng lực của các đối tượng nào đó, nhằm mục đích xác định. Đề thi trắc
nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi nêu ra một vấn đề cùng với những thông
tin cần thiết, sao cho thí sinh phải trả lời vắn tắt cho từng câu là trắc nghiệm khách quan
(TNKQ).
16


Kiểu câu hỏi TNKQ phổ biến là câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (multiple choise
questions - gọi tắt là MCQ). MCQ có 2 phần: phần đầu gọi là phần dẫn (hay câu dẫn),
nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi; phần sau là các phương
án dành cho học sinh lựa chọn để trả lời (thông thường phần trả lời của mỗi câu hỏi , có 4
lựa chọn A, B, C, D). Học sinh trả lời chỉ được quyền chọn một câu đúng nhất. Các câu
hỏi đồng nhất về hình thức và điểm số, điều này thuận lợi cho việc chấm và tính điểm
bằng máy. Thời gian làm một bài kiểm tra chỉ trong 45 phút với khoảng 40 đến 50 câu
trắc nghiệm. Đề thi trắc nghiệm gồm nhiều câu hỏi, được lấy ra ngẫu nhiên, theo những
yêu cầu nhất định từ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm. Ngân hàng này được "xây dựng"
quanh năm, do đó có thể gia công những câu trắc nghiệm có độ chính xác cao và có thể
xác định các đặc trưng của câu hỏi như độ khó, độ dễ trước khi làm đề. Bài thi trắc
nghiệm được chấm tự động trên máy quét quang học, nên thí sinh được phát đề
thi in sẵn, được phát một phiếu trả lời trắc nghiệm. Khi trả lời cho câu hỏi trắc nghiệm
nào thì học sinh chọn phương án đúng nhất (A hoặc B, C, D) và phải làm động tác "tô
đen" - tức là dùng bút chì đen loại mềm (2B, 6B) tô kín ô tròn tương ứng với một trong

hợp.
d. Các hình thức của câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Về hình thức của câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Hiện nay có khoảng 5 dạng câu
hỏi trắc nghiệm khách quan thường được sử dụng để soạn thảo câu hỏi cho các đề kiểm
tra và đề thi trong các trường phổ thông; đó là Câu trả lời ngắn, câu trả lời đúng sai, Câu
hỏi tương thích, Câu hỏi lựa chọn đa phương án, Câu hỏi gốc là dạng câu hỏi
tổng quát …
* Dạng câu trả lời ngắn
* Yêu cầu: Trả lời một câu hỏi hoặc điền thêm vào một câu cho đúng nghĩa bằng một từ,
một nhóm từ, một ký hiệu, một công thức…
* Ưu điểm
- Dễ xây dựng
- Học sinh không thể đoán mò
* Nhược điểm
- Chỉ được dùng để kiểm tra trình độ mức độ nhận biết, hiểu.
- Đôi khi khó đánh giá chính xác nội dung trả lời
* Những điểm cần lưu ý:
- Nội dung của phần trả lời càng cô đọng càng tốt
- Nên dùng câu hỏi trực tiếp hơn là câu điền khuyết
- Chú ý về yêu cầu của đơn vị tính trong câu trả lời bằng số có thứ nguyên
- Khoảng trống dành cho các câu trả lời nên bằng nhau để tránh sự đoán mò
* Ví dụ: Hãy điền từ còn thiếu vào chỗ trống sao cho phù hợp.

18


Mạch điện tử là ………… mắc phối hợp giữa các linh kiện ………….. để thực hiện một
chức năng nào đó trong kĩ thuật điện tử
* Dạng câu hỏi đúng - sai
* Yêu cầu: Chọn một trong hai phương án: Đúng – Sai, Phải – Không phải, Đồng ý –

- Thông tin có tính dàn trải, không nhấn mạnh được những điều quan trọng.
* Ví dụ: Hãy nối ý cột bên trái sao cho phù hợp với cột bên phải

19


Triac

Có 1 lớp tiếp giáp P - N

Tirixto

Có 2 lớp tiếp giáp P - N

Tranzito

Có 3 lớp tiếp giáp P - N

Điốt

Có 4 lớp tiếp giáp P - N

* Dạng câu hỏi lựa chọn đa phƣơng án
* Yêu cầu: Lựa chọn một phương án trả lời đúng hoặc đúng nhất trong các phương án đã
chọn.
* Ưu điểm
- Có thể sử dụng để kiểm tra các kỹ năng kiến thức bậc cao.
- Hạn chế được khả năng đoán mò của học sinh.
- Đánh giá chính xác kiến thức, kỹ năng của học sinh.
* Nhược điểm

- Sự giống nhau giữa……..và …….là
+ Nhóm 2: hiểu biết nguyên lý, định luật
- Nguyên lý chi phối hiện tượng……. là
- Nguyên nhân của hiện tượng …..là
Qua việc tham khảo ý kiến của một số cán bộ lãnh đạo, giáo viên các trường phổ thông
và học sinh cũng đồng tình cho rằng kiểm tra đánh giá dưới hình thức trắc nghiệm khách
quan có nhiều ưu điểm hơn tự luận. Có thể tóm tắt các ý kiến đó như sau:
- Tiết kiệm hơn và tốn ít thời gian làm bài của học sinh cũng như thời gian chấm điểm
của giáo viên.
- Năng lực của thí sinh được đánh giá chính xác, khách quan, công bằng hơn do đề thi có
nhiều câu hỏi, có thể rải khắp nội dung môn học, cho phép kiểm tra một cách có hệ thống
và toàn diện kiến thức và kỹ năng ở nhiều cấp độ và đặc biệt là tránh được việc học tủ,
dạy tủ. Khi tiến hành thi trắc nghiệm giáo viên sẽ kiểm tra học sinh được hiều vấn đề, bên
cạnh đó lại giảm áp lực cho công việc chấm bài thi.

21


II. THỰC TRẠNG KIỂM TRA
TRƢỜNG THPT HẬU LỘC 2 .

ĐÁNH

GIÁ

MÔN

CÔNG NGHỆ Ở

Qua thực tế giảng dạy và tìm hiểu thêm ở đồng nghiệp về KT - ĐG tại trường THPT Hậu


Với chuẩn KT - ĐG vừa nêu, ta thấy phần nào sự thiếu hoàn chỉnh của hệ thống tiêu
chí đánh giá quá trình đào tạo so với mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà
trường.
Đánh giá kết quả quá trình dạy và học chủ yếu bằng các môn thi, bằng điểm số.
Những khía cạnh khác như: nhân văn, thẩm mỹ và thể lực trong nhà trường chưa có
những tiêu chí KT - ĐG chuẩn mực (chủ yếu là KT - ĐG định tính).
* Người KT - ĐG học sinh: Trong nhà trường hiện nay Người KT - ĐG học sinh là giáo
viên giáo viên bộ môn
Trong công tác đánh giá học sinh, hầu hết giáo viên đã làm việc hết sức trách
nhiệm, tương đối đảm bảo các yêu cầu đề ra của nhà trường. Tuy vậy, giáo viên
vẫn còn những bất cập rất cơ bản như sau:
- Nhận thức về hoạt động KT-ĐG còn khá đơn giản cả về mục tiêu yêu cầu cũng như về
quy trình, điều kiện và kỹ năng KT - ĐG
- Kỹ năng KT - ĐG của giáo viên thường dựa vào thói quen kinh nghiệm, dễ bị cảm tính
chủ quan chi phối qua các mặt đạo đức, thể dục, âm nhạc, mỹ thuật, lao động …
* Phương thức KT-ĐG học sinh: Trong nhà trường hiện nay Phương thức KT-ĐG học
sinh được thiết lập qua hai hoạt động cơ bản là KT - ĐG thường xuyên hàng ngày, ghi
nhận ở hệ thống sổ bộ như sổ điểm, sổ điểm danh, sổ chủ nhiệm và KT - ĐG định kỳ qua
bài kiểm tra học kỳ, cuối năm.
Đánh giá thường xuyên thường thực hiện qua kiểm tra bài cũ bằng cách phát vấn hay
kiểm tra viết 15 phút, 1 tiết. Ở đây, có giáo viên sử dụng các hình thức thảo luận, thuyết
trình hoặc giao việc, tổ chức thực hành cho học sinh, có điểm thưởng cho những học sinh
tham gia thực hiện tốt trong các giờ thực hành.
Định kỳ, nhà trường phổ thông hiện nay phổ biến vẫn còn áp dụng hình thức đánh
giá 2 lần mỗi năm, được gọi là kiểm tra học kỳ. Điểm kiểm tra học kỳ được tính chung
với điểm đánh giá thường xuyên trong năm để công nhận việc hoàn tất chương
trình của học sinh, quyết định học sinh được lên lớp hay không
Phương thức KT - ĐG phổ biến qua các kỳ thi và kiểm tra nói trên là làm bài viết dưới
hình thức tự luận. Một số cấp học, bậc học bắt đầu đưa hình thức trắc nghiệm khách

Để học sinh nắm vững kiến thức đã học. Sau mỗi bài học, mỗi chương tôi hướng dẫn học
sinh hệ thống lại các kiến thức trọng tâm cần hiểu và cần nhớ để làm kiểm tra.
Không cho trước các câu hỏi trong các giờ ôn tập như trước đây để học sinh soạn đề
cương và học theo câu hỏi.
Các đề kiểm tra có sự kết hợp giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan. Tùy theo nội dung
kiến thức mà chọn lựa hình thức cho thích hợp. Nội dung đề gồm có các phần
sau đây.
- Câu trắc nghiệm khách quan.
24


- Câu hỏi dưới dạng đặt vấn đề có nhiều cách lý giải, hoặc chọn ra một vấn đề đúng và
giải thích; câu hỏi trả lời ngắn theo sự hiểu biết và suy luận.
- Bài tập vận dụng lý thuyết đã học (Chú trọng việc nắm cách giải, phương pháp suy luận
để giải, hạn chế việc học thuộc lòng bài mẫu). Vì thế bài tập trong đề kiểm tra đều có
thay đổi so với bài tập đã giải trên lớp.
Tinh thần chung là tôi đã cố gắng thông qua việc cải tiến KT - ĐG làm cho học sinh cải
tiến cách học, học một cách tích cực, chủ động và sáng tạo, mới có thể đạt được điểm tối
đa.Tôi đã thực hiện thử nghiệm ở khối lớp 11 và 12 trong năm học 2012 – 2013 và nhận
thấy học sinh có tiến bộ rõ rệt.
Lý do chọn đối tượng này là vì tôi đang trực tiếp giảng dạy thuận lợi cho việc tiến hành
thử nghiệm, đây là khối lớp mà tôi có quyền ra đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết và học kỳ
đồng thời trực tiếp chấm điểm.
IV. KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM
Qua một năm học thử nghiệm tôi đạt được kết quả khả quan, cụ thể là:
- Học sinh học tập tích cực chủ động hơn trước, hạn chế được cách học thụ
động, phát huy được độc lập suy nghĩ của học sinh (Qua kết quả quan sát trong tất cả các
giờ học của học sinh)
- Kết quả điều tra bằng phiếu hỏi toàn bộ học sinh lớp 12 tôi giảng dạy cho thấy kết quả
như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status