Sáng Kiến Kinh Nghiệm “Biện Pháp Chỉ Đạo Tổ Chuyên Môn Đổi Mới Nội Dung Và Hình Thức, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Tổ” - Pdf 40

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

1. Phần mở đầu: ........................................................................................................2
1.1. Lí do chọn SKKN…. ..........................................................................................2
1.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu...........................................................................3
2. Phần nội dung: .....................................................................................................3
2.1. Thực trạng sinh hoạt chuyên môn ở trường TH .................................................3
2.1.1. Đặc điểm, tình hình chung ..............................................................................3
2.1.2. Thực trạng sinh hoạt chuyên môn ở trường TH...............................................3
2.2. Biện pháp chỉ đạo tổ CM đổi mới nội dung và hình thức nâng cao chất lượng
sinh hoạt tổ…………………………………………………………………………..5
2.2.1. Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ĐM nội dung và
hình thức sinh hoạt chuyên môn cho đội ngũ CBGV…………………….................5
2.2.2. Xây dựng kế hoạch tổ CM phù hợp với đặc điểm, tình hình từng tổ………...6
2.2.3. Chỉ đạo đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt tổ mang đậm màu sắc
chuyên môn…………………………………………………………………………7
2.2.4. Triển khai sinh hoạt tổ chuyên môn đổi mới phương pháp dạy học theo mô
hình trường TH mới ..................................................................................................8
2.2.5. Chỉ đạo tổ chuyên môn rút kinh nghiệm sau giờ dạy thể hiện chuyên đề và
thao giảng………………………………………………………………………….10
2.2.6. Chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên tìm những biện pháp hay trong
lĩnh vực GV đảm nhận để viết SKKN……………………………………………..11
2.2.7. Đổi mới công tác quản lí, chỉ đạo và kiểm tra của ban giám hiệu..................12
2.3. Kết quả đạt được................................................................................................13
3. Phần kết luận......................................................................................................13
3.1. Ý nghĩa của SKKN…........................................................................................13
3.2. Bài học kinh nghiệm..........................................................................................13


bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có hiệu quả với nhiều hình thức khác nhau. Song do
chất lượng đội ngũ giáo viên không đồng đều, năng lực chuyên môn của một số
giáo viên chưa tương xứng với trình độ đào tạo. Giáo viên lúng túng trong cách tổ
chức các hoạt động dạy học. Việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học theo mô
hình trường Tiểu học mới còn nhiều hạn chế. Mặt khác, sinh hoạt chuyên môn ở
trường còn hình thức, nội dung chưa trọng tâm, thiếu thiết thực.
Là cán bộ quản lí nhiều năm gắn bó với nhà trường, thấu hiểu tâm tư, nguyện
vọng của giáo viên, nắm bắt được chất lượng sinh hoạt của các tổ chuyên môn cũng
như tình hình phát triển chung của nhà trường nên bản thân tôi luôn trăn trở, suy
nghĩ và nhận thấy cần phải có sự đổi mới trong cách quản lý, chỉ đạo chuyên
môn, phải tạo ra được bước đột phá trong việc dạy và học để nâng cao chất lượng
giáo dục cho nhà trường. Việc nghiên cứu đúc rút những kinh nghiệm để áp dụng
chỉ đạo sinh hoạt tổ chuyên môn có hiệu quả là thực sự cần thiết và kịp thời đối với
2


các trường Tiểu học nói chung và Tiểu học Vạn Trạch nói riêng. Một trong những
đổi mới đó là phải cải tiến nội dung, hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn như thế nào
để hiệu quả ? Từ tình hình thực tế của nhà trường và những lý do trên, tôi mạnh dạn
chọn sáng kiến kinh nghiệm: “Biện pháp chỉ đạo tổ chuyên môn đổi mới nội dung
và hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ” ở trường TH Vạn Trạch.
* So với những SKKN đã viết, SKKN của tôi có những điểm mới sau:
- Nêu cao vai trò, trách nhiệm của tổ trưởng CM trong chỉ đạo sinh hoạt tổ mang
đậm màu sắc chuyên môn chứ không mang tính hành chính.
- Nội dung sinh hoạt tổ tập trung vào việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về
PPDH, hình thức tổ chức các hoạt động học tập, chú trọng hoạt động nhóm.
- Coi trọng công tác dự giờ tập trung vào quan sát việc học của học sinh
- Giúp GV cởi mở, chân tình trong góp ý giờ dạy và tự tin trong ĐMPP dạy học
theo mô hình trường TH mới.
1.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

2.1.2. Thực trạng sinh hoạt chuyên môn ở trường Tiểu học Vạn Trạch:
Sau một thời gian tìm hiểu thực trạng sinh hoạt của các tổ chuyên môn ở
trường, tôi thấy toát lên những ưu điểm và hạn chế sau:
* Ưu điểm:
- Hoạt động chuyên môn của nhà trường trong nhiều năm qua được tổ chức thực
hiện và duy trì thường xuyên, có nề nếp, chất lượng dạy và học được nâng lên qua
từng năm học.
- Sinh hoạt chuyên môn không chỉ giúp mỗi giáo viên nâng cao năng lực chuyên
môn cho bản thân mà còn là môi trường để tình đồng nghiệp nảy nở và phát triển
giữa tất cả các giáo viên, giúp họ hỗ trợ lẫn nhau trong công tác; hình thành môi
trường học tập tốt đẹp cũng như truyền thống, bản sắc văn hóa riêng của mỗi nhà
trường.
* Hạn chế:
- Nội dung sinh hoạt tổ chưa phong phú, hình thức đơn điệu, chưa mang màu
sắc chuyên môn, chưa có những chuyên đề thảo luận sôi nổi, thẳng thắn mang tính
khoa học. Ít chú trọng vào các vấn đề trọng tâm đổi mới PPDH hay việc tháo gỡ
những khó khăn, vướng mắc cho giáo viên trong tổ.
- Vai trò, trách nhiệm của tổ trưởng chuyên môn chưa cao, còn cả nể, chỉ đạo
chưa kiên quyết. Các cuộc họp chuẩn bị nội dung thiếu chu đáo. Chưa khơi dậy
được niềm say mê chuyên môn, không khí hứng khởi, sôi nổi trong các buổi sinh
hoạt; kế hoạch tổ CM chưa thật phù hợp với đặc điểm của tổ.
- Một số CBGV chưa phát huy hết tinh thần tập thể, không mang trách nhiệm
xây dựng cái chung. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn thường là những giáo
viên có năng lực khá, giỏi hay nhận xét, góp ý, còn những giáo viên trung bình thì ít
khi có ý kiến.
- Khi dự giờ, giáo viên chỉ chú ý quan sát việc dạy của thầy xem có dạy đúng
kiến thức không, có đảm bảo các bước lên lớp hay không, ngôn ngữ, phong thái ra
sao,…mà ít quan tâm xem học sinh được học như thế nào? Mức độ hiểu biết của
một số giáo viên hạn chế, dự cho có, thiếu động não trong góp ý, trao đổi giờ dạy.
- Khi góp ý giờ dạy, các ý kiến trao đổi thường mang tính áp đặt một chiều, đưa

10

34,5

14

48,3

05

17,2

4

Ghi chú


+ Kết quả khảo sát chất lượng học sinh giữa học kì 1:
Môn
Tiếng Việt
Toán

TSHS
473
473

Giỏi
SL
121
89

Do kiến thức và năng lực giáo viên có hạn nên chất lượng giảng dạy và học tập
của học sinh chưa cao.
* Nguyên nhân của những hạn chế:
- Chưa đổi mới hình thức sinh hoạt, nhiều giáo viên thiếu mạnh dạn trong trao
đổi chuyên môn.
- Việc chuẩn bị nội dung cho các buổi sinh hoạt chuyên môn còn hời hợt, sức
thuyết phục của các chuyên đề còn hạn chế, ít hiệu quả nên không thu hút được sự
quan tâm trao đổi của giáo viên.
- Nhiều giáo viên còn xem nhẹ buổi sinh hoạt chuyên môn, chưa thực sự say mê
với chuyên môn, ý thức tự học hỏi bồi dưỡng năng lực sư phạm còn hạn chế.
- Việc quản lí, chỉ đạo còn chung chung, thiếu chặt chẽ.
Từ thực trạng trên, trong thời gian qua nhà trường đã cố gắng rất nhiều trong việc
tìm nội dung và hình thức sinh hoạt nhằm làm chuyển biến các buổi sinh hoạt
truyền thống nên chất lượng các buổi sinh hoạt chuyên môn có nhiều chuyển biến
tích cực. Tuy nhiên, so với yêu cầu trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước thì chất lượng đội ngũ giáo viên của trường chưa đáp ứng được.
Để nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn nhằm bồi dưỡng trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm cho đội ngũ giáo viên, bản thân tôi đã suy nghĩ
và áp dụng một số biện pháp chỉ đạo tổ chuyên môn đổi mới nội dung và hình thức,
nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ như sau:
2.2. Biện pháp chỉ đạo tổ chuyên môn đổi mới nội dung và hình thức, nâng
cao chất lượng sinh hoạt tổ ở trường Tiểu học Vạn Trạch.
Chỉ đạo đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn, nâng cao chất
lượng dạy và học là nhiệm vụ tiên quyết, là trách nhiệm lớn lao của người cán bộ
quản lí. Sinh hoạt chuyên môn có hiệu quả giúp giáo viên biết vận dụng các phương
pháp và hình thức tổ chức các hoạt động dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy.
Vì thế, cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
2.2.1. Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đổi mới nội
dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên.
- Sinh hoạt chuyên môn ở trường TH có một vị trí rất quan trọng, đó là một quá

dạy giỏi các cấp.
+ Đăng kí các chỉ tiêu phấn đấu chuyên môn, các danh hiệu cá nhân và tập thể;
các đề tài, SKKN. Đánh giá, xếp loại CBGV trong tổ.
+ Công tác bồi dưỡng thường xuyên của CBGV trong tổ,…
- Kế hoạch sau khi xây dựng xong phải được thông qua tổ chuyên môn và kiểm
tra, kí duyệt của phụ trách chuyên môn trường. Hàng tháng, tổ trưởng phải triển
khai kế hoạch cụ thể tại phiên họp thường kì của tổ.
- Số lần sinh hoạt chuyên môn theo điều lệ trường Tiểu học đã qui định. Song
tùy theo đặc điểm của trường mà tăng số lần sinh hoạt lên nhằm mục đích cho giáo
viên cập nhật được nhiều thông tin và được nghiên cứu, thực hành nhiều lần hơn.
Từ đó, giáo viên tích lũy được nhiều kiến thức mới và bổ ích hơn.
* Các giải pháp thực hiện:
+ Thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Bộ, Sở GD và Phòng GD về
thực hiện chương trình các môn học. Thực hiện đúng các quy định, quy chế chuyên
môn của nhà trường đề ra.
+ Đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực
chủ động sáng tạo của học sinh. HS chủ động làm việc, tự lĩnh hội kiến thức. Rèn kĩ
6


năng thực hành, tư duy linh hoạt. Dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, gắn lý
thuyết với thực tiễn. Kết hợp dạy tích hợp, lồng ghép giáo dục kĩ năng sống, môi
trường biển, hải đảo, lịch sử, Địa lí địa phương, ATGT,…
+ Tăng cường dự giờ thăm lớp, trao đổi đúc rút kinh nghiệm sau mỗi giờ thao
giảng. Đánh giá chính xác, công bằng khách quan.
+ Tham gia thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp huyện. Coi đây là một hoạt động
chuyên môn bổ ích hàng năm để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho GV.
+ Tăng cường ứng dụng CNTT, đồ dùng dạy học vào quá trình dạy học để đạt
hiệu quả giờ học cao nhất.
2.2.3. Chỉ đạo đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt tổ mang đậm màu

- Đảm bảo nguồn lực và các điều kiện về cơ sở vật chất
+ Thống nhất chương trình theo từng tuần, tháng (nhất là các bài dạy có nội dung
7


tích hợp, lồng ghép các nội dung giáo dục Lịch sử, Địa lí địa phương, môi trường,
biển, hải đảo, ATGT,…). Việc thực hiện chương trình, thời khóa biểu phải chính
xác và trùng khớp giữa giáo án với thực dạy trên lớp.
+ Thay đổi mục đích của việc dự giờ, từ dự giờ để đánh giá sang dự giờ để học
tập nhằm tạo ra bầu không khí cởi mở để mọi giáo viên có thể thoải mái bày tỏ với
đồng nghiệp những ý kiến, chia sẻ những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình
dạy học.
- Khi dự giờ, giáo viên bên cạnh việc quan sát cách tổ chức lớp học, các hành
động, ngôn ngữ, cử chỉ của giáo viên cần tập trung vào việc quan sát thực tế học tập
của các em qua cử chỉ, thái độ, nét mặt, hoạt động,…
- Đánh giá giờ dạy phải khách quan, đúng thực chất, nhận xét cụ thể, rõ ràng và
đó cũng là liều thuốc bổ có tác dụng động viên giáo viên có giờ dạy hay, bài giảng
tốt và ngược lại. Cũng từ đó phát hiện được nhân tài, nhân điển hình làm nồng cốt
chuyên môn của trường, của các tổ chuyên môn và cũng là cơ sở bồi dưỡng giáo
viên dạy giỏi các cấp. Đây chính là thời điểm tốt nhất để phát hiện những điểm yếu
của giáo viên, giúp cho giáo viên trong từng lĩnh vực.
+ Triển khai các chuyên đề cấp trường, cụm trường, trao đổi phương pháp dạy và
học theo mô hình trường TH mới. Trong năm học, mỗi tổ CM sinh hoạt được 02
chuyên đề và liên tổ, trường: 02 chuyên đề. Cụ thể:
+ Tổ 1: - Luyện đọc đúng cho HS lớp 1 qua các tiết học vần.
- Vận dụng linh hoạt mô hình trường TH mới trong dạy TN&XH lớp 1.
+ Tổ 2,3: - Rèn kĩ năng đọc đúng cho HS trong tiết Tập đọc lớp 2&3.
- Dạy tích hợp GDKNS cho HS lớp 2&3 trong phân môn Đạo đức.
+ Tổ 4&5: Rèn kĩ năng thực hiện phép chia: “ Chia cho số có nhiều chữ số” lớp 4
- Dạy tích hợp GD Lịch sử, Địa lí địa phương trong phân môn Lịch sử & Địa lí

+ Tổ chức thảo luận chung;
+ Tổng kết vấn đề - nhận xét quá trình làm việc.
Trong quá trình lên lớp cần lưu ý:
- Phân nhóm cho phù hợp, luân phiên thay đổi nhóm trưởng, chỗ ngồi để tạo cho
các em có cơ hội được thể hiện mình, giúp các em mạnh dạn và tự tin hơn trong học
tập.
- Xây dựng mô hình hoạt động nhóm hợp lí, phù hợp với yêu cầu tổ chức hoạt
động dạy học; Đảm bảo có lối di chuyển để giáo viên có thể tiếp cận giúp đỡ các
nhóm; Học sinh có thể tự xoay trở dễ dàng, không bị ngồi sai tư thế; Không cố
định vị trí của học sinh hoặc cố định nhóm.
- Biết sử dụng 4 bức tường của lớp học để dạy học (Treo kết quả làm việc của
nhóm)
* Tổ chức triển khai thực hiện:
Định hướng, chỉ đạo các tổ chuẩn bị mọi điều kiện và dạy thể hiện 3 tiết:
Tổ1: Môn TNXH, bài: Trời nóng, trời rét
Tổ 2&3: Môn Tập đọc, bài: Mặt trời xanh của tôi
Tổ 4&5: Môn toán, bài: Ôn tập về hình học
Mục đích: Ba tiết dạy này phải thể hiện rõ phương pháp dạy học theo nhóm.
Vì thế, chuyên môn chọn bài, ba tổ thảo luận, xây dựng thiết kế bài dạy, phân công
giáo viên dạy thử. Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, cán bộ tổ dự, phân tích, góp ý xây
dựng hoàn thiện. Sau đó mới dạy thể nghiệm.
- Chuyên đề này thể hiện rất thành công, vì huy động hết trí tuệ, năng lực của
nồng cốt chuyên môn nhà trường tham gia cho bài dạy.
- Đặc biệt, toàn thể giáo viên có cơ hội tiếp cận, phần nào hiểu được về phương
pháp dạy học theo nhóm.
- Giáo viên mạnh dạn vận dụng tổ chức dạy học theo nhóm vào thời điểm thích
hợp của tiết học.
- Biết dành thời gian cho học sinh thảo luận nhóm để đảm bảo hoàn thành các
bước: Học sinh làm độc lập, thảo luận trong nhóm, trình bày kết quả và thảo luận
chung;

+ Sử dụng phương pháp dạy học phù hợp, linh động, sáng tạo.
+ Nghệ thuật trình bày đồ dùng dạy học đúng mục đích, đúng thời điểm
+ Phân bố thời gian hợp lí
+ Hình thức dạy học chủ yếu: Cá nhân - nhóm - lớp.
* Những hạn chế:
- GV hiểu chưa sâu sắc các bài dạy, khai thác kiến thức mới chỉ trườn qua các
câu hỏi ở sách giáo khoa, chưa tìm ra điểm nhấn trong bài.
Ví dụ: Bài: "Ôn tập về dấu câu" phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
Ở bài tập 3, sửa dấu câu cho phù hợp vào đoạn văn có tên: "Tỷ số chưa được
mở". GV chưa khai thác hết yếu tố gây cười trong chuyện: Tỷ số chưa được mở
chính là điểm bài tập Toán và Tiếng việt vẫn là điểm 0. Từ đó cho HS hiểu về ý
thức và thái độ học tập của nhân vật Hùng trong câu chuyện.
- Một số tiết kiến thức truyền thụ chưa chính xác, chưa có hệ thống, khai thác
nội dung bài chưa phát huy năng lực học tập của học sinh.
10


Ví dụ: Dạy các bài tập có dạng “Tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỷ số
củả hai số”, GV không đi từ phân tích tỷ số giữa các số đã cho, từ tỷ số đó cho ta
biết điều gì? để từ ý nghĩa đó hướng dẫn HS vẽ sơ đồ, từ sơ đồ mới có cách giải, lời
giải phải chặt chẽ. Trong trình bày bài giải thiếu đi những cụm từ quan trọng “Theo
bài ra ta có sơ đồ”; “Từ sơ đồ ta có”.
- Hình thành kiến thức, kỹ năng cho học sinh thông qua hoạt động trên vật thực
cho học sinh lớp 1, 2 chưa tốt. Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức việc làm của
GV chưa thể hiện chặt chẽ theo ý đồ SGK.
Ví dụ: Dạy bài Phép cộng trong phạm vi 100 (cộng không nhớ). GV cần phải
làm rõ ý đồ SGK: Từ hoạt động cộng trên que tính, suy ra được cách đặt tính. Còn
cách thực hiện cộng từ phải qua trái hay từ trái qua phải trong trường hợp không
nhớ thì đều được nhưng yêu cầu HS thực hiện từ phải qua trái để có một kỹ năng
thống nhất cho mọi trường hợp. Khi dạy, GV cần đưa phép cộng 35 que tính với 24

2.2.6. Chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên tìm những biện pháp hay
trong các lĩnh vực mà giáo viên đảm nhận để viết sáng kiến kinh nghiệm.
- Vào đầu năm học tổ triển khai công tác nghiên cứu khoa học và viết SKKN, cho
giáo viên đăng kí tên đề tài, SKKN.
- Nhà trường hướng dẫn lại cho cán bộ, giáo viên về cách viết và kết cấu của một
SKKN theo bố cục mà ngành quy định.
- Định hướng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu SKKN cho giáo viên:
+ Hướng về viết SKKN ở phạm vi hẹp, tức là kinh nghiệm thiết kế và dạy học một
chương; một bài cụ thể. Chẳng hạn như việc thiết kế dạy học một bài Tập đọc,
Toán,…theo tinh thần ĐMPP, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh trong học tập. Chọn những bài khó dạy hay những bài mà bản thân tâm đắc.
+ Các nội dung nghiên cứu để viết SKKN rất phong phú, song cần tập trung vào
việc nâng cao chất lượng đại trà, chất lượng mũi nhọn học sinh giỏi, luyện viết chữ
đẹp hay rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp 1,…GV lựa chọn nội dung và viết
SKKN sát với chức trách, nhiệm vụ được giao.
+ Hàng tháng, BLĐ nhà trường, tổ CM đốc thúc, kiểm tra tiến độ nghiên cứu của
GV. Cuối năm học, HĐKH tổ chức chấm và góp ý công khai, thẳng thắn, chọn lựa
những đề tài, SKKN hay, đạt yêu cầu gửi lên HĐKH ngành.
2.2.7. Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo và kiểm tra của Ban giám hiệu.
Việc quản lý, chỉ đạo các tổ chuyên môn sinh hoạt vô cùng quan trọng trong việc
thúc đẩy và nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ cũng như chất lượng dạy và học. Từ
tình hình thực tế của nhà trường, tôi đã phối hợp với chuyên môn và trực tiếp chỉ
đạo đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn như sau:
- Chỉ đạo bố trí thời khóa biểu hợp lý, tạo thời gian thuận lợi cho các tổ chuyên
môn sinh hoạt theo định kì.
- Luôn quan tâm, theo dõi cũng như kiểm tra sinh hoạt CM của các tổ. Dành thời
gian dự họp với các tổ chuyên môn. Việc dự họp với tổ chuyên môn là vô cùng cần
thiết bởi vừa nắm bắt được tình hình hoạt động chuyên môn, vừa lắng nghe tâm tư,
tình cảm, nguyện vọng của anh chị em để từ đó đề ra những giải pháp chỉ đạo phù
hợp với từng tổ, kịp thời động viên, khích lệ tổ trưởng cũng như CBGV nỗ lực phấn

TS

29
Tăng

Tốt

Khá

Đạt yêu cầu

SL

TL

SL

TL

SL

TL

14
04

48,0
13,0

12

SL

TL

Trung bình
SL
TL

202
171

213
193

45,0
40,8

58
109

42,7
36,2

Khá

12,3
23,0

Yếu
SL

Một là: Ban giám hiệu nhà trường cần cải tiến cách quản lí từ khâu chỉ đạo đến
khâu thực hiện, xây dựng kế hoạch trên cơ sở của tổ chuyên môn, chuyên môn
trường. Đồng thời, biết thống nhất nội dung cần sinh hoạt, có quyết định đúng đắn
trong việc lựa chọn nội dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn (tổ, trường, cụm
trường) cho phù hợp, phong phú, đa dạng và sinh động hơn.
Hai là: Bồi dưỡng năng lực tổ chức, điều hành cho đội ngũ tổ trưởng. Thực tế
cho thấy một buổi sinh hoạt chuyên môn thành công phụ thuộc vào khả năng và
chuyên môn của người điều hành.
Ba là: Ban giám hiệu cần quản lí chặt chẽ nội dung các buổi sinh hoạt chuyên
môn, tùy theo tình hình thực tế của nhà trường hay từng khối lớp để có sự hướng
dẫn, định hướng nội dung sinh hoạt chuyên môn phù hợp.
Bốn là: Sinh hoạt chuyên môn nhằm giúp giáo viên mạnh dạn vận dụng đổi mới
phương pháp dạy học, biết thiết kế bài dạy, biết vận dụng phương pháp DH như thế
nào để giúp học sinh hiểu bài và vận dụng vào làm bài tập có hiệu quả. Song tùy
nội dung từng bài (Hình thành kiến thức, luyện tập, ôn tập, kiểm tra...) mà tổ chức
các hoạt động học tập phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh kiến
thức của học sinh.
Năm là: Phương pháp dạy học theo nhóm tương đối mới đối với một số giáo
viên. Qua sinh hoạt chuyên môn, vận dụng dạy học theo nhóm giúp giáo viên biết
chia nhóm ngẩu nhiên, nhóm cùng đối tượng, nhóm lớn, nhóm đôi…tổ chức hoạt
động nhóm vào thời điểm nào cho phù hợp. Biết thiết kế các phiếu giao việc, phiếu
học tập, cách giao việc và cách kiểm tra kết quả học tập của học sinh như thế nào
để có hiệu quả.
Sáu là: Tổ chức sinh hoạt chuyên môn rút kinh nghiệm sau các giờ dạy thao
giảng, chuyên đề, thi giáo viên dạy giỏi các cấp, từ đó giúp giáo viên mạnh dạn, tự
tin hơn trong ĐMPP dạy học. Những kiến thức giáo viên tích cóp được làm hành
trang vững chắc trong quá trình giảng dạy.
Bảy là: Khi bản thân giáo viên tự tìm tòi, nghiên cứu, thiết kế bài dạy và thể hiện
bài dạy của mình, được đồng nghiệp góp ý, họ càng khắc sâu kiến thức, kĩ năng và
PPDH, từ đó viết sáng kiến kinh nghiệm. Đây chính là công đoạn giáo viên được

………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status