-1-
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI
TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH
ĐỀ TÀI :
HÌNH THÀNH KỸ NĂNG GIẢI BÀI TẬP
VỀ QUY LUẬT DI TRUYỀN
Người thực hiện : Phan Văn Bước
Thàng 3 - Năm 2008
-2-
PHẦN I : MỞ ĐẦU
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành trung ương Đảng (khóa
VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo, đã khẳng định :
“Rà soát lại và đổi mới một bước sách giáo khoa, loại bỏ những nội dung không
cần thiết theo hướng bảo đảm cơ bản, cập nhật với tiến bộ khoa học, công
nghệ…Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…”
Vì vậy, trong những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những chủ
trương và biện pháp để cải tiến nội dung chương trinh và nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên, như : thí điểm chương trình phân ban mới, bồi dưỡng chu kỳ
thường xuyên cho giáo viên về nội dung kiến thức cũng như phương pháp giảng
dạy; đặc biệt là đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy học theo hướng lấy học
sinh làm trung tâm.
Để đổi mới phương pháp dạy học, cần sử dụng rất nhiều biện pháp. Chẳng
hạn, trước hết cần đổi mới phương pháp kiểm tra - đánh giá, tăng cường sử dụng
phương tiện dạy học…Trong đó sử dụng bài tập giúp học sinh nắm và vận dụng
kiến thức là một trong những biện pháp có nhiều hiệu quả nhất.
Trong dạy học nói chung và trong dạy học sinh học nói riêng, bài tập có
vai trò định hướng hoạt động tư duy của học sinh, giúp học sinh phát huy tính
tích cực, năng lực chủ động sáng tạo trong học tập. Đặc biệt ở những nội dung
kiến thức có nhiều mối quan hệ thì việc giải bài tập có thể giúp học sinh mở
rộng được kiến thức. Vì vậy kỹ năng giải bài tập có một vai trò rất quan trong
năng giải bài tập về quy luật di truyền.
PHẦN II : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG
GIẢI BÀI TẬP QUY LUẬT DI TRUYỀN
1.1. Kỹ năng
1.1.1. Quan niệm về kỹ năng
Theo Trần Bá Hoành (1996), kỹ năng là khả năng vận dụng những tri
thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. Kỹ năng đạt tới mức hết
sức thành thạo, khéo léo thì sẽ trở thành kỹ xảo. Mỗi kỹ năng chỉ biểu hiện
thông qua một nội dung. (Trần Bá Hoành - Kỹ thuật dạy học sinh học - 1996 -
NXB Giáo dục).
Vậy kỹ năng không chỉ là kỹ thuật, cách thức hành động mà kỹ năng còn
là một biểu hiện của năng lực con người, đòi hỏi con người phải luyện tập theo
một quy trình xác định mới hình thành được được kỹ năng đó.
1.1.2. Vai trò của kỹ năng
Kỹ năng là thành tố cấu trúc nên mục tiêu dạy học và cũng là thành tố tạo
nên năng lực của người học. Do đó trong dạy học, tùy mục đích mà sử dụng kỹ
năng tương ứng. Mặc khác, kiến thức và kỹ năng tuy là hai thành tố nhưng
chúng lại thống nhất và tác động lẫn nhau. Nhờ có kiến thức mới hình thành
-4-
được kỹ năng, có kỹ năng tức là đã vận dụng được kiến thức. Do vậy nắm vững
kiến thức là điều kiện để hình thành kỹ năng.
1.2. Bài tập
1.2.1. Khái niệm về bài tập
Theo từ điển Tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, thì bài tập là bài ra cho
học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học. (Hoàng Phê - Từ điển Tiếng
Việt - 2000).
Bài tập được chia làm hai nhóm : bài tập định tính và bài tập định lượng.
Bài tập định tính là bài tập mà muốn hoàn thành chúng học sinh phải sử
dụng tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, cụ thể hóa,… nhằm giải
Việc hình thành kỹ năng giải bài tập nói chung, bài tập QLDT nói riêng
còn phải căn cứ vào đặc điểm của bài tập. Nghĩa là căn cứ vào đặc điểm của mối
quan hệ chứa đựng trong bài tập.
Bài tập về các QLDT chứa đựng mối quan hệ giữa kiểu gen , kiểu hình ,
kiểu di truyền , kiểu phân ly một cách khắng khít và lôgic cả về mặt định tính và
định lượng.
Qua nghiên cứu trong phạm vi giữa P và F chúng tôi nhận thấy có các mối
quan hệ sau : (Sơ đồ 1)
P
F
Tỷ lệ kiểu hình
Kiểu phân ly
Kiểu gen
Các cặp gen
Kiểu tương tác
Kiểu hình
Tỷ lệ giao tử
Tỷ lệ kiểu gen