Đạo làm người trong chủ nghĩa yêu nước truyền thống việt nam - Pdf 40

Đạo làm người trong chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam
1. Cơ sở lý luận và nội dung Đạo làm người trong truyền thống văn hóa Việt
Nam
Một trong những vấn đề nổi bật nhất trong lịch sử tư tưởng truyền thống
Việt Nam được các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử đặc biệt quan tâm là
"Đạo" (thường được gọi là "đạo trời", "đạo người", sự thống nhất giữa “đạo trời”
và “đạo người”). “Đạo”, theo nghĩa chung nhất không chỉ là cơ sở tư tưởng để
hành động chính trị, đạo đức và tâm linh để đối nhân xử thế mà còn là quan niệm
nhân sinh quan về quan niệm sống, lối sống và đạo lý trong truyền thống văn hóa
của con người Việt Nam.
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về “Đạo” – Đạo làm
người trong lịch sử truyền thống văn hóa Việt Nam - vấn đề quan trọng là trong
Đạo làm người có những tư tưởng nhân quyền và dân quyền không? Nếu có thì cơ
sở lý luận và nội dung của tư tưởng này thể hiện như thế nào?
Cơ sở lý luận về Đạo làm người trong văn hóa truyền thống Việt Nam đều
xuất phát từ ba đạo truyền thống: Nho, Phật, Lão – Trang dưới các hình thức khác
nhau, nhưng đặc biệt là đạo Nho. Theo nghĩa đó, đạo làm người trong truyền thống
văn hóa thường được hiểu là “luân thường đạo lý”, xuất phát từ nguyên lý đạo đức
– chính trị của học thuyết “Tam cương”, “Ngũ thường”, cái gốc của đạo làm người
về ý thức tôn ti, trật tự, kỷ cương xã hội trên cơ sở khẳng định vai trò vị trí của mỗi
con người trong các quan hệ xã hội. Tư tưởng về Đạo – Đạo làm người trong trong
văn hóa truyền thống Việt Nam tự thân nó là một sự kết hợp không tự giác vấn đề
nhân quyền và dân quyền. Có nghĩa là hoà hợp, hoà đồng, đơn thuần, chưa có phân
ly, phân biệt giữa quyền con người và quyền đó được bảo đảm về mặt pháp luật; vì
tư tưởng, suy nghĩ, cảm nghĩ, cảm xúc và lý tưởng xã hội chỉ là một.
Cũng phải nói thêm rằng, đạo Nho không phải là hệ tư tưởng độc lập (mặc
dù nó có vai trò quan trọng nhất) mà nó còn kết hợp với đạo Phật, đạo Lão – Trang
dưới các hình thức khác nhau tạo nên những nét đặc thù của của “Đạo” – Đạo làm
người trong văn hóa truyền thống Việt Nam. Phật giáo, không chỉ là tôn giáo thuần
túy xét về hệ thống giáo lý, mà vấn đề quan trọng hơn khi con người Việt nam tiếp
nhận và phát triển nó là tư tưởng nhân sinh quan của Phật giáo. Trong văn hóa

nước của con người Việt Nam. Tư tưởng này được thể hiện như “Nhân bất học bất
tri lý”, hoặc: “Tiên học lễ hậu học văn”, v.v…để nói đạo học cũng là đạo làm
người của Nho giáo, như một nét tiêu biểu của văn hóa truyền thống Việt Nam.
Cũng đều là lựa chọn đạo Nho nhưng ở mỗi người một khác. Các nguyên lý
thì có sẵn trong các tác phẩm kinh điển nhưng họ có sự lựa chọn khác nhau và giải
thích khác nhau. Các nhà yêu nước yêu nước, không chỉ bàn đến vấn đề dựng
nước, giữ nước mà còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề nhân quền theo một phương
diện nào đó phù hợp với xã hội đương thời của họ. Đó là yêu dân, yêu con người
và tin ở năng lực con người như một quyền tự thân vốn có trong mỗi con người
như tư tưởng của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm...
Quá trình lập thân, các nhà tư tưởng Nho học đều khẳng định đạo Nho, đều
lấy đạo Nho làm lý tưởng sống của mình. Nhưng cuộc sống khiến họ không thể
kiên trì một mình đạo Nho. Bởi lẽ khi bước ra khỏi lĩnh vực chính trị, khi phải giải
quyết các vấn đề sống - chết, may - rủi, phúc - hoạ, thường - biến, những vấn đề
gắn với cuộc sống đời thường của mỗi người thì đạo Nho không đáp ứng được. Ở
đây Phật giáo lại có sức hấp dẫn. Người ta tìm đến đạo Phật, lấy Phật giáo làm chỗ
dựa tinh thần. và khi thất thế trên đường danh lợi, họ lại tìm đến đạo Lão - Trang
để có niềm an ủi và để được tự do, tự tại. Thế giới quan Nho - Phật - Lão thường là


thế giới quan chung của họ. Vì vậy, trong quan niệm về đạo, ngoài đạo Nho ra, còn
bao hàm cả Phật và Lão - Trang.
2. Đạo làm người trong chủ nghĩa yêu nước trong truyền thống Việt
Nam
Tư tưởng yêu nước và sự phát triển tư tưởng yêu nước là sợi chỉ đỏ của lịch
sử tư tưởng Việt Nam. Điều đó được cắt nghĩa bởi nước Việt Nam tồn tại và phát
triển trong điều kiện đấu tranh chống sự bành trướng và xâm lược của phong kiến
phương Bắc cùng các đế quốc khác. Tư tưởng đó là cái phản ánh sự tồn tại của mỗi
người dân nước Việt đã được sản sinh ra và phát triển trong điều kiện phục vụ cho
sự đấu tranh để sống còn đó. Theo nghĩa đó, là quyền được sống, quyền được tự

mình, nhiều nhà tư tưởng trong lịch sử nói tới sự cần thiết phải giữ những nét riêng
của nó so với người tộc người khác…
Chính vì vậy, như bất cứ một khu vực nào trên thế giới trong lịch sử, các
cộng đồng người sống trong đó đều phải đấu tranh với nhau để tồn tại. Trong cuộc
đấu tranh mạnh được yếu thua đó có cộng đồng thì lớn lên và trở thành bá chủ; có
cộng đồng thì vẫn duy trì được thực thể của mình; và cũng đã có không ít cộng
đồng tan rã hoặc bị tiêu diệt. Trong bối cảnh đó, cộng đồng người Việt vẫn duy trì
được. Và để duy trì được họ đã phải đấu tranh thường xuyên với các cộng đồng
khác đến xâm lấn, nhất là đấu tranh chống lại cộng đồng người Hán lớn hơn, mạnh
hơn đến thôn tính. Vấn đề quan trọng là ý thức về dân tộc và dân tộc độc lập của
người Việt không chỉ hình thành trong hoàn cảnh và điều kiện khách quan đó; mà
nhận thức về dân tộc và dân tộc độc lập của người Việt là một quá trình. Nó bắt
nguồn từ cuộc chiến đấu của họ để tự vệ và phát triển lên cùng với các cuộc chiến
đấu đó. Vấn đề đặt ra thường xuyên cho người Việt là phải làm thế nào để chứng
minh được cộng đồng người Việt khác với cộng đồng người Hán và ngang hàng
với cộng đồng người Hán. Phải chăng đây là tư tưởng quyền được tồn tại và phát
triển của người Việt cũng như tộc người Hán là một qui luật của sự phát triển xã
hội?
Trong lĩnh vực nhận thức lý luận, sự bức bách của cuộc đấu tranh chống
ngoại xâm buộc các nhà tư tưởng phải có sự đi sâu hơn, khái quát cao hơn, toàn
diện hơn về khối cộng đồng tộc Việt. Nguyễn Trãi là người đã thực hiện được sứ
mệnh này. Trong các bức thư gửi quân Minh và nhất là trong tác phẩm Đại cáo
bình Ngô Nguyễn Trãi chứng minh rằng, cộng đồng tộc Việt có đủ các yếu tố: Văn
hiến, lãnh thổ, phong tục, lịch sử, nhân tài, nên nó đã là một cộng đồng người có bề
dày lịch sử ngang hàng cới cộng đồng người của phương Bắc, không thể phụ thuộc
vào phương Bắc. Nhận thức đó của Nguyễn Trãi đã nêu lên được các yếu tố cần
thiết làm nên một dân tộc, đã đặt cơ sở lý luận cho sự độc lập của một dân tộc – bất
khả xâm phạm. Lý luận trên của Nguyễn Trãi đạt tới đỉnh cao của quan niệm về
dân tộc và dân tộc độc lập dưới thời kỳ phong kiến ở Việt Nam. Nó đã tạo nên sức
mạnh cho cộng đồng tộc Việt trong cuộc đấu tranh chống quân Minh xâm lược ở

đứng đầu trong nước cũng được chuyển từ Vương sang Đế để chứng tỏ sự độc lập
và ngang hàng với hoàng đế phương Bắc, như Trưng Vương đến Lý Nam Đế, từ
Triệu Việt Vương đến Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng... Kinh đô cũng được chuyển
từ Cổ Loa đến Hoa Lư, rồi từ Hoa Lư đến Thăng Long để có được "Trung tâm bờ
cõi đất nước... vị trí ở giữa bốn phương, muôn vật phong phú tốt tươi... chỗ tụ họp
của bốn phương" (Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn), nơi xứng đáng là kinh đô của
một nước phát triển.
Như vậy là đầu thời kỳ độc lập, Việt Nam - một quốc gia dân tộc phong kiến
về mặt chính thể từ quốc hiệu, đế hiệu, đến niên hiệu, kinh đô... đều được nhận
thức đầy đủ và ở đó mỗi tên gọi là một tư thế của sự độc lập, tự chủ, tự cường.
- Nhận thức về nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ
nước
Đạo làm người trong văn hóa truyền thống Việt Nam thể hiện trong quá trình
dựng nước và giữ nước; - đó những vấn đề bức bách cần phải giải đáp như: Làm
thế nào để động viên được sức mạnh của toàn dân? Làm thể nào để thấy được thực
chất mối quan hệ giữa địch và ta? Để chuyển yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều
phải làm gì? Để thấy được những bước phát triển tất yếu của cuộc chiến phải làm
thế nào? Nghĩa là những vấn đề về một khoa học và một nghệ thuật của cuộc chiến
tranh giữ nước phải được hình thành và phát triển trên cơ sở lấy dân làm gốc.


Cố nhiên, các nhà lãnh đạo cuộc chiến tranh giữ nước trong lịch sử dân tộc
đều thấy sự cần thiết phải có một lý luận được khái quát lên từ thực tế chiến đấu.
Họ tìm nguyên nhân của những thành công và thất bại. Họ đúc kết kinh nghiệm
thành lý luận, họ đem hiểu biết của một người truyền bá cho nhiều người. Sức
mạnh của cộng đồng được coi trọng là điều đầu tiên rút ra được của các nhà tư
tưởng. Cộng đồng người Việt là một thực thể xã hội hình thành trong lịch sử và
được củng cố bởi những thành viên của nó ý thức được rằng họ cùng một giống
nòi, cùng một lãnh thổ, cùng một sinh hoạt và cùng một vận mệnh. Cộng đồng đó
sẽ yếu ớt nếu những thành viên đó không có gì để gắn bó với nhau, và ngược lại nó


nhằm hạn chế mâu thuẫn giai cấp trong xã hội và tiến tới một sự thịnh vượng của
xã hội của dân tộc.
Việc nhận thức được vai trò của dân và nêu lên được một số yêu cầu nhân
quyền, dân chủ của dân đối với các nhà tư tưởng, các nhà lãnh đạo cuộc kháng
chiến chống xâm lược của ngoại bang không phải là ngẫu nhiên, mà còn là sự khái
quát, tổng kết những kinh nghiệm của lịch sử trong dòng chảy của chủ nghĩa yêu
nước, kết tinh trong Đạo làm người không chỉ là quan niệm sống, lối sống mà là lý
của con người Việt Nam. Tuy nhiên, do lập trường phong kiến và đặc điểm cuộc
sống đã hạn chế nhãn quan của họ. Nhưng là những nhà yêu nước lớn, họ thấy
được yêu cầu cần phải cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh của dân tộc nên đã
vượt qua được những hạn chế giai cấp vốn có của mình.
Như vậy, Đạo làm người trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam khác biệt với
tư tưởng yêu nước của các dân tộc khác. Nó được đúc kết bằng xương máu và bằng
trí tuệ trong trường kỳ lịch sử của các cuộc đấu tranh cứu nước, dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là đạo lý của dân tộc Việt Nam, của con
người Việt Nam về độc lập dân tộc, về tự do và hạnh phúc, về quyền lợi và nghĩa
vụ của người dân trong quá trình dựng nước và giữ nước trong văn hóa truyền
thống Việt Nam.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status