Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật làm tăng khả năng giâm cành của giống chè kim tuyên tại lai châu - Pdf 40

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

----------------------------------

NGUYỄN DUY HÙNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN
PHÁP KỸ THUẬT LÀM TĂNG KHẢ NĂNG
GIÂM CÀNH CỦA GIỐNG CHÈ
KIM TUYÊN TẠI LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN – NĂM 2015

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

----------------------------------

NGUYỄN DUY HÙNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN

trồng và nâng cao thu nhập cho ngƣời nông dân.
Lai Châu là tỉnh địa đầu biên giới phía Bắc, có điều kiện tự nhiên về đất
đai, khí hậu phù hợp cho sinh trƣởng phát triển của cây chè. Tại nghị quyết Đại
hội tỉnh Lai Châu lần thứ XII đã xác định: Cây chè là một trong những cây trồng
chủ lực, cần đƣợc phát triển theo hƣớng thâm canh, tăng năng suất và mở rộng
diện tích, cần đƣa các giống mới có chất lƣợng vào sản xuất để tạo ra sản phẩm
chè chất lƣợng cao từ đó giải quyết việc làm và giảm nghèo nhanh, bền vững cho
ngƣời trồng chè. Tỉnh có kế hoạch đến năm 2020 có 4350 ha chè, trong đó trồng
mới 1000ha, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, chất lƣợng cao với các
giống chủ lực là Shan tuyết và Kim Tuyên trên địa bàn thành phố Lai Châu và các
huyện Tam Đƣờng, Tân Uyên, Than Uyên.
Theo Sở Nông Nghiệp tỉnh Lai Châu tính đến đầu năm 2014, diện tích chè
toàn tỉnh Lai Châu đạt 3357,6 ha. Trong đó diện tích chè kiến thiết cơ bản là
343,98 ha, diện tích chè kinh doanh là 2414,6 ha. Diện tích chè giai đoạn kiến
thiết cơ bản chủ yếu là trồng giống chè Kim Tuyên. Một trong những khó khăn
trong phát triển chè Kim Tuyên ở Lai Châu là chƣa tự sản xuất cây con, thƣờng
phải mua cây giống từ nơi khác, chƣa có quy trình kỹ thuật giâm cành phù hợp
với giống chè Kim Tuyên. Hiện tại vƣờn ƣơm có tỷ lệ xuất vƣờn thấp, năm 2013
vƣờn ƣơm giống của công ty chè Tam Đƣờng – tỉnh Lai Châu chỉ đạt tỷ lệ cành
giâm để xuất vƣờn hơn 50%.
Nghiên cứu kỹ thuật giâm cành còn có tính thực tiễn cao, góp phần nâng cao
tỷ lệ xuất vƣờn, thúc đẩy sự phát triển của chè trong giai đoạn kiến thiết cơ bản,
nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngƣời trồng chè trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Đó là lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


4
do đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật làm tăng khả

http://www.lrc.tnu.edu.vn


5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu.
1.1.1. Đặc điểm sinh lý của cành chè giâm.
Đối với thực vật nói chung và cây chè nói riêng để duy trì nòi giống của
mình chúng đều phải thông qua cơ quan sinh sản hoặc chúng có khả năng tái
sinh từ các bộ phận khác của cơ quan sinh dƣỡng nhƣ : lá, chồi, thân, rễ…Nếu
đƣa các bộ phận của chúng vào môi trƣờng thích hợp chúng sẽ phát triển thành
rễ, mầm và cây con. Đối với phƣơng pháp giâm cành chè ta dùng một đoạn thân
lá (cơ quan dinh dƣỡng) để tái sinh ra cây chè mới.
Phiến lá của hom là cơ quan để quang hợp tạo ra chất dinh dƣỡng nuôi hom
và tái sinh cây, lá có vai trò quan trọng trong việc tạo thành cây chè con, nhƣng
cũng dựa vào nhiều yếu tố khác nhƣ: chất lƣợng hom giống, đất đóng bầu, chế độ
sáng, chế độ chăm sóc và bón phân cho vƣờn ƣơm.
Để tạo thành cây chè hoàn chỉnh và sinh trƣởng tốt trong vƣờn ƣơm, đủ
tiêu chuẩn đƣa ra trồng trên nƣơng nó phụ thuộc nhiều vào chất lƣợng hom
giống, môi trƣờng giâm, chế độ chiếu sáng, chế độ chăm sóc và phân bón cho
vƣờn ƣơm. Môi trƣờng cắm hom chè thƣờng dùng là một loại đất xốp có thành
phần cơ giới trung bình, độ chua thích hợp pH kcl từ 4,5 – 5,5. Từ vết cắt hom chè
sau khi giâm xuống đất nó sẽ hình thành một màng mộc thiêm để chống sự xâm
nhập của vi sinh vật, dần dần tạo thành mô sẹo và từ đó mọc ra rễ đầu tiên, mầm
nách của hom chè cũng đƣợc phát triển cùng với sự phát triển của rễ, và lá đầu
tiên xuất hiện là lá vẩy ốc nở, sau đó đến lá cá và các lá thật, để tạo thành cây
con hoàn chỉnh. Nếu để mầm phát triển sớm hơn phát triển rễ là không có lợi cho
cây chè giâm do đó phải điều chỉnh sinh trƣởng cân đối giữa mầm và rễ.
Thực vật nói chung và cây chè nói riêng có khả năng tái sinh cơ thể mới từ

phân cành nhiều, giúp hình thành diệp lục, tăng hoạt động quang hợp và tích lũy,
giảm năng suất chất lƣợng cây trồng nghiêm trọng. Đạm là dinh dƣỡng giúp cải
thiện kích thƣớc chồi, lá, tăng năng suất, giúp ra lá nhiều, ra búp mới, lá mới.
Đối với cây chè khi cung cấp đầy đủ lƣợng phân đạm, chè phát triển nhanh thân,
cành, lá, búp, đâm chồi, nảy mầm ở các nách lá (Hoàng Minh Tấn, 2006) [26].
Phân lân có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi năng lƣợng và
protein. Thúc đẩy ra rễ giúp tăng thu chất dinh dƣỡng, góp phần tạo năng suất và
nâng cao chất lƣợng. Đối với cây chè, giúp sinh trƣởng tốt, hệ thống rễ phát triển,
tạo khung tán mà cây chè tuổi nhỏ có nhu cầu, tham gia xúc tiến hình thành cơ
quan sinh sản, tiến hành trao đổi chất và năng lƣợng mạnh, xúc tiến các hoạt động
sinh lý đặc biệt là quang hợp và hô hấp... giúp cây tăng năng suất cây trồng
(Hoàng Minh Tấn, 2006) [26].
Phân kali có vai trò sinh lý quan trọng đối với cây trồng: giúp các hoạt động
trao đổi chất và các hoạt động sinh lý của cây; có tác dụng điều chỉnh các đặc tính lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


7
hóa của keo nguyên sinh chất; điều chỉnh đóng mở của khí khổng; điều chỉnh dòng
vận chuyển các chất trong mạch libe; hoạt hóa các enzyme; làm tăng khả năng chống
chịu của cây đối với điều kiện ngoại cảnh bất thuận. Giúp tăng khả năng thẩm thấu
qua màng tế bào, điều chỉnh PH, lƣợng nƣớc qua khí khổng hoạt hóa enzim có liên
quan đến quang hợp và tổng hợp hydratcacbon (Hoàng Minh Tấn, 2006) [26].
Chăm sóc vƣờn cây chè mẹ quan trọng nhất là chế độ phân bón và phòng trừ
sâu bệnh trong quá trình nuôi hom giống. Vƣờn giống gốc để lấy hom cần đƣợc
chăm sóc chu đáo, luôn sạch cỏ, sạch sâu bệnh. Hàng năm bón cân đối N: P: K, liều
lƣợng, thời kỳ và phƣơng pháp bón phân cần đƣợc thực hiện đúng.
1.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng giâm cành của cây chè.

Khi chọn cành cắm hom thì yêu cầu màu sắc của hom khi cắm tùy thuộc vào
giống, giống PH1 yêu cầu màu xanh, nhƣng TRI 777 và các giống chè LDP1, LDP2
lại có yêu cầu màu nâu sáng (Đỗ Văn Ngọc, 2003) [15].
Sau khi giâm cành đƣợc 60 ngày các cây chè Shan đầu dòng có tỷ lệ ra rễ
rất khác nhau, biến động từ 46,7% đến 93,3%, trong đó có 8 cây có tỷ lệ ra rễ cao
hơn giống TRI 777 (đối chứng) từ 20,0% đến 26,6%, cao nhất là các cây
C.BP:109-06; C.BP:120-06. Ở giai đoạn 90 ngày, các cây chè Shan đầu dòng đều
có tỷ lệ ra rễ tƣơng đƣơng với đối chứng, đạt trung bình từ 86,7% đến 100%
(Hoàng Văn Chung, 2012) [5].
Khi nhân giống vô tính bằng giâm hom với 2 giống chè nhập nội chất lƣợng
cao Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích (2005 – 2006). Chè ƣơm sinh trƣơng phát triển
tốt, đạt và vƣợt tiêu chuẩn cây con xuất vƣờn quy định đối với giống Phúc Vân Tiên
và Keo Am Tích. Tỉ lệ xuất vƣờn đạt 91,2% với giống chè Phúc Vân Tiên và 84,6%
với giống Keo Am Tích (Nguyễn Văn Thiệp, 2005-2006) [28].
Giống chè 1A là một giống khó giâm cành, ra mô sẹo, ra rễ muộn, tỷ lệ sống
thấp và đặc biệt bộ rễ phát triển kém (Lê Tất Khƣơng, 2006) [12].
Trong 3 giống chè thí nghiệm, giống 1A và giống Shan Chất Tiền khi tăng
tuổi cây giống thì tỷ lệ sống và mức sinh trƣởng của cây tăng nhiều, giống Kim
Tuyên thay đổi ít hơn. Chính vì vây, tác giả đã khuyến cáo trong sản xuất để có hiệu
quả, giống Shan Chất Tiền và giống 1A nên trồng cây có 12 tháng tuổi. Giống chè
Kim Tuyên dùng cây 9 tháng tuổi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


9
Đối với vƣờn sản xuất hom giống: trồng các giống chè LDP1, LDP2, LDD97
và TB14. Riêng giống Tứ Quý nên có một tỷ lệ nhất định để nâng cao chất lƣợng

a) Ảnh hưởng của yếu tố thời vụ.
Với thời vụ giâm hom khác nhau có điều kiện ngoại cảnh khác nhau. Điều
kiện này sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến tỷ lệ hom giống, khả năng ra rễ, bật mầm từ đó
ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây con.
Khi nghiên cứu trên giống chè araxenli-1 (Anon., 1986) [36] đã kết luận:
Những hom chè có lƣợng đạm thấp và lƣợng đƣờng cao khi giâm có khả năng ra rễ
tốt hơn, những cành giâm nhƣ thế thƣờng ở thời vụ tháng 8. Ở thời kỳ này hàm
lƣợng đƣờng trong lá cao hơn so với trong cuộng nên có tác dụng tốt đối với quá
trình ra rễ. Theo tác giả để tăng thời gian khai thác vƣờn chè giống cần tiến hành cắt
hom luân phiên, có nghĩa năm thứ nhất cắt vào vụ xuân, năm thứ hai cắt vào vụ hè
và ngƣợc lại. Bằng cách cắt cành nhƣ vậy sẽ làm cho vƣờn chè giống phát triển hơn,
cành khỏe hơn và do đó khả năng ra rễ của cành giâm tốt hơn.
Nghiên cứu về giâm cành chè Shan, cho biết thời vụ nuôi hom tiến hành vào
tháng 5 – 6 (sau lứa hái 1) nuôi hom đến tháng 8, cắt hom và cắm cành vào tháng 9
– 10, năm sau tiến hành trồng mới, tỷ lệ xuất vƣờn nhìn chung đạt từ 65 – 80%,
trong đó có những cây đầu dòng ở Tủa Chùa đạt tỷ lệ cao nhất 90,7%. Cây chè Shan
sau 10 tháng giâm cành có chiều cao trung bình 32 – 38 cm, có những cây ở Tủa
Chùa cao 48,2 cm. Đƣờng kính gốc cây chè con đạt trung bình 0,25 – 0,3 cm (có
cây đạt 0,37 cm – Tủa Chùa) tỷ lệ cây chè sống khi trồng đạt 80% (sau 3 tháng).
Đặc biệt khi trồng cây chè bằng giâm cành với kích thƣớc cao 40 – 50 cm, đƣờng
kính thân 0,25 cm, sau 3 năm đạt chiều cao 3,5 m, đƣờng kính gốc 7 – 10 cm, có thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


11
sớm trở thành cây rừng. Trong khi cây trồng bằng hạt chỉ đạt chiều cao 2,2 m và
đƣờng kính gốc 3 – 4 cm (Đỗ Văn Ngọc, 2003) [16], (Đỗ Ngọc Quỹ, 2007) [19].
Theo nghiên cứu về thời vụ giâm cành cho giống chè Shan (2012) ở Bằng

hom chè sinh trƣởng chậm; nhiệt độ thích hợp cho hom chè sinh trƣởng và phát
triển tốt là 25 – 30oC (Patarava, B. D., 1987) [37].
b) Ảnh hưởng của kích thước bầu.
Chè Shan sinh trƣởng khỏe, thời gian sống trong vƣờn ƣơm dài nên kích
thƣớc túi PE cần lớn hơn giâm chè vùng thấp. Kích thƣớc túi 18 x 25 cm, hàn đáy
túi và đục 6-10 lỗ ở nửa dƣới túi, đƣờng kính lỗ từ 0,8 - 1 cm.
c) Ảnh hưởng của lát cắt quan sát.
Trong kỹ thuật giâm cành chè bằng hom, sự tạo thành mô sẹo và sự ra rễ là
những chỉ tiêu quan trọng giúp cành giâm có một bộ rễ phát triển cá thể hoàn chỉnh.
Tùy thuộc vào đặc điểm cấu tạo của từng giống khác nhau mà hoạt động trao đổi
chất và các chức năng sinh lý cũng sẽ khác nhau. Theo nghiên cứu về cấu tạo giải
phẫu hom chè của các giống PH1, LDP1, 1A, ĐBT (Nguyễn Thị Ngọc Bình, Đỗ
Văn Ngọc, 2003) [3] quan sát trên lát cắt ngang hom, tại các vị trí cách vết cắt của
hom 0,5mm; 1,5mm và 2,5mm của 4 giống đều có cấu tạo giải phẫu về cơ bản nhìn
từ ngoài vào trong bao gồm các phần nhƣ sau: biểu bì; vỏ: hậu mô, nhu mô vỏ; nội
bì; cƣơng mô; trụ bì; libe; tƣợng tầng; gỗ (xylem); ruột.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


13
Trên đoạn hom chè sau khi cắm, hoạt động tạo mô sẹo bao trùm lên vết
cắt của hom cũng xảy ra tập trung gần vết cắt. Càng xa vết cắt thay đổi xảy ra
càng ít, bởi các mô ở xa vết cắt chỉ duy trì hoạt động bình thƣờng không tham
gia tạo sẹo cho vết cắt. Sau cắm hom 40 ngày với giống chè PH1, biến động độ
lớn bán kính hom thay đổi, tại vị trí lát cắt quan sát cách vết cắt của hom 0,5mm
đạt 2685,0µ; cách vết cắt 1,5mm đạt 2610,2µ và cách vết cắt hom 2,5mm, bán
kính hom đạt 2509,8µ. Với giống LDP1 tại các vị trí lát cắt quan sát cách vết cắt

Trong điều kiện chăm sóc vƣờn nuôi hom theo quy trình, giống chè 1A
khi giâm cành có tỷ lệ xuất vƣờn thấp nhất đạt 51,32%, bộ rễ phát triển kém. Tỷ
lệ xuất vƣờn cao nhất là giống Kim Tuyên đạt 72,15%. Khi bổ sung phân bón
cho vƣờn cây mẹ nhƣ công thức 4: Quy trình + (8kg phân chuồng + 15g ure +
20g supe lân + 15g kali sulfat) sẽ có hiệu quả nhất về số lƣợng, chất lƣợng hom
giống, sinh trƣởng, sinh khối cây chè con, tỷ lệ xuất vƣờn đạt cao nhất cho cả 3
giống chè 1A - Shan Chất Tiền - Kim Tuyên tƣơng ứng là 70,82 - 85,02 87,50% (Đặng Văn Thƣ, 2006-2007) [29].
Muốn có hom chè tốt phải bón cho cây mẹ 20gam đạm sulfat, 20gam supe
lân, 20gam kalisulfat (Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm, 1979) [20].
Theo nghiên cứu ảnh hƣởng của phân bón đến hoạt động của bộ lá và năng
suất chè Trung du Phú Thọ (Lê Văn Đức, 1997) [9] cho thấy bộ lá phát triển thì cây
càng hoàn thiện. Nếu bón các yếu tố riêng lẻ chỉ có đạm có tác dụng làm tăng số lá
chè 261,8%, lƣợng đạm tích lũy trong lá chiếm tới 57%. Bón đơn lẻ lân và kali
không làm tăng, thậm chí còn làm giảm số lá, hiệu quả phân bón thấp. Khi bón đầy
đủ NPK ở mức N1P1K1 làm cho chỉ số lá cao nhất, tổng sinh khối đạt mức cao nhất
246,3%, sinh khối cành 520%, cây phát triển toàn diện làm. Kết quả nghiên cứu trên
bƣớc đầu cho thấy khả năng hấp thụ dinh dƣỡng và hiệu quả sử dụng phân bón của
cây chè kiến thiết cơ bản (cây chè mẹ nuôi hom) không phụ thuộc vào lƣợng tuyệt
đối mà phụ thuộc vào kiểu phối hợp các yếu tố phân bón.
Nghiên cứu về vai trò của phân bón đối với cành chè giâm (Đỗ Ngọc Quỹ,
Lê Tất Khƣơng, 1998) [21] đã kết luận: bón phân là biện pháp quyết định đến tỷ lệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


15
chè con xuất vƣờn. Nguyên tắc bón phân là bón từ ít đến nhiều với lƣợng tƣơng ứng
của các giai đoạn. Tổng số phân NPK/m2 bầu là 140g, cụ thể theo quy trình:
Bảng 1.1: Quy trình bón phân cho chè giâm cành ( cho 1m2)

14

Sau 8 tháng

21

12

19

Tổng số

60

30

50

Theo nghiên cứu của Bộ môn cây công nghiệp Trƣờng đại học Nông lâm
Thái Nguyên ( 1982 - 1989) có thể tăng lƣợng phân bón trên 1,5 lần và tăng số
lần bón gấp 2 lần, bón hàng tháng (từ tháng 3 đến tháng 8), có thể tăng tỷ lệ xuất
vƣờn từ 5-6% (Chu Xuân Ái, Đinh Thị Ngọ, Lê Văn Đức, 1990-1999) [1].
Kết quả nghiên cứu ảnh hƣởng của một số loại phân bón cho chè Shan giâm
cành cho thấy các loại phân bón nghiên cứu đều có ảnh hƣởng tốt đối với vƣờn ƣơm
chè Shan giâm cành. Trong đó, loại phân thích hợp nhất là phân NPK Việt Nhật và
NPK Hiến Nông, khi bón 2 loại phân này tỷ lệ xuất vƣờn đạt từ 74,7% đến 75,7%,
cây chè con có bộ lá, thân và rễ phát triển tốt. Cũng theo tác giả, khi chia lƣợng
phân bón làm 7 lần bón cho chè Shan giâm cành thì tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vƣờn và
chất lƣợng cây giống sẽ cao hơn so với chia lƣợng phân bón làm 4 lần (Hoàng Văn
Chung, Lê Tất Khƣơng, 2007) [6].

làm tăng tỷ lệ bật mầm, tăng tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vƣờn của cành giâm từ đó làm
giảm giá thành cây xuất vƣờn từ 3,2-8,1% (Lê Tất Khƣơng, 2006) [12].
Trƣớc khi cắm hom chè có thể xử lý bằng sun phát đồng (CuSO 4) 0,1% để
trừ nấm bệnh. Trƣớc khi cắm hom bầu đất cần đƣợc tƣới ẩm 80 – 85%, hom chè
đƣợc cắm thẳng đứng, lá xuôi theo chiều gió, cuống lá gần sát đất. Không cắm
sâu quá mầm dễ bị thối, sau khi cắm xong phải tƣới ẩm ngay, tốt nhất là tƣới
dƣới dạng sƣơng mù (Đỗ Văn Ngọc, 2003) [15].
Có thể xử lý hóa chất humat amon 75 ppm xử lý đất trƣớc khi cắm, 10 ml dung
dịch/ bầu; xử lý bằng 2,4 D, NAA, NOA để rút ngắn thời gian ra rễ và nảy mầm, tăng
tỷ lệ sống và tỷ lệ xuất vƣờn (Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khƣơng, 2000) [22].
Khi nghiên cứu về ảnh hƣởng của một số chất kích thích sinh trƣởng trên
giống chè 1A, đã kết luận: khi xử lý hom chè bằng hóa chất làm cho cành giâm ra
rễ tốt hơn, cây sinh trƣởng khỏe và cân đối do đó tỷ lệ xuất vƣờn, tỷ lệ sống cao
hơn hẳn đối chứng. Các công thức xử lý IAA nồng độ 4000 và 6000 ppm làm cho
cành giâm phát triển khá, các công thức xử lý 2,4D có tác dụng làm tăng tỷ lệ xuất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


17
vƣờn nhƣng không rõ. Các công thức xử lý NAA cho hiệu quả cao nhất, tỷ lệ xuất
vƣờn cao hơn đối chứng, hom xanh và hom bánh tẻ có tỷ lệ xuất vƣờn trên 70%.
1.3. Một số quy trình kỹ thuật giâm cành chè.
1.3.1. Quy trình nhân giống chè LDP1 và LDP2 (Nguyễn Văn Tạo, 2004) [24].
* Vƣờn sản xuất hom giống.
- Vƣờn lấy hom giống là: Các giống đã đƣợc Viện Nghiên cứu Chè tuyển
chọn, những giống đã đƣợc Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận có năng suất chất
lƣợng và tính chống chịu cao, ổn định. Viện Nghiên cứu Chè trồng vƣờn giống gốc
cung cấp giống gốc để các địa phƣơng xây dựng vƣờn chuyên để lấy hom giống.

sau ở phía dƣới để tập trung dinh dƣỡng vào cành để hom. Cần điều chỉnh mật độ
cành hợp lý cho ánh sáng chiếu đến các cành chất lƣợng hom sẽ tốt hơn. Trƣớc
khi cắt cành để lấy hom giâm 10 – 15 ngày cần tiến hành bấm ngọn để tạo điều
kiện cho mầm nách hoạt động và các hom đều thuần thục.
* Tiêu chuẩn cành và hom giống.
- Cắt cành: cần chọn cành khỏe, không bị sâu bệnh. Cắt vào sáng sớm hoặc
chiều tối. Để cành nơi râm mát, bảo dƣỡng bằng cách thƣờng xuyên phun nƣớc làm
ẩm mặt lá và không khí nơi để hom.
- Cắt hom: Khi cắt cành về cần cắt ra hom ngay. Kích thƣớc hom cắt: mầm dài
không quá 50 mm, lấy hom màu nâu sáng và đang chuyển từ màu xanh sang màu nâu.
* Kỹ thuật vƣờn ƣơm.
- Yêu cầu chung đối với kỹ thuật vƣờn ƣơm.
Nguyên tắc: Vƣờn ƣơm lúc đầu phải đƣợc che kín, sau đó mở dần giàn che
và đặc biệt phải luôn điều chỉnh ánh sáng theo tình hình thời tiết, ngày râm mát nên
mở giàn che để tăng cƣờng ánh sáng và ngày nắng nóng thì ngƣợc lại, phải che bớt
ánh sáng. Ẩm độ phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của cây. Sau hai yếu tố ẩm độ
và ánh sáng thì chế độ phân bón cũng đóng vai trò quan trọng cho quá trình phát
triển của hom giâm. Hom chè lúc đầu đƣợc cắm trong bầu đất nghèo dinh dƣỡng mà
quá trình phát triển của cây chè dần dần yêu cầu một lƣợng dinh dƣỡng cao hơn.
- Điều kiện khí hậu và đất đóng bầu: Ở những vùng trồng chè đƣợc là có thể
tiến hành xây dựng vƣờn ƣơm (nhiệt độ bình quân 18 – 23oC, lƣợng mƣa trên
1200mm, độ ẩm không khí trên 70%).
Đất làm vƣờn ƣơm cần có thành phần cơ giới trung bình, hoặc thịt nhẹ, độ
chua đất từ PHkcl : 4,5 – 5,5.
- Thời vụ giâm hom: Giâm vào 2 thời vụ chính: Vụ đông xuân và vụ hè thu,
vụ đông xuân có thể giâm từ trung tuần tháng 11 đến trung tuần tháng 2 (năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn



5

4

7

Sau 4 tháng

7

6

10

Sau 6 tháng

9

8

14

Sau 8 tháng

10

12

19

+ Hom loại 1: có chiều dài hom 3,5-4,5cm; đƣờng kính hom: 3,0-3,5mm; độ
dài mầm nách <1,0cm, diện tích lá >20cm2.
+ Hom loại 2: có chiều dài hom 3,5-4,5cm; đƣờng kính hom: 2,5-3,0mm; độ
dài mầm nách <1,0-5,0cm, diện tích lá >18cm2.
* Kỹ thuật trong vƣờn ƣơm:
- Kích thƣớc túi bầu thích hợp đối với giống chè PH8, PH9 là nửa chu vi 910cm, chiều cao 15-16cm, hàn đấy; phần ½ đáy đục 6 lỗ, đƣờng kính lỗ đục 0,8-1,0cm.
- Lƣợng phân bón thích hợp cho giống chè PH8, PH9 theo từng giai đoạn
sinh trƣởng là:
Sau 50 ngày bón với tỉ lệ N:P:K = 9:4:7 (g/m2)
Sau 100 ngày bón với tỉ lệ N:P:K = 13:6:10 (g/m2)
Sau 150 ngày bón với tỉ lệ N:P:K = 17:8:14 (g/m2)
Sau 200 ngày bón với tỉ lệ N:P:K = 21:12:19 (g/m2)
Sau 240 ngày bón với tỉ lệ N:P:K = 25:15:23 (g/m2)
-

Tiêu chuẩn cây con xuất vƣờn đối với giống chè PH8, PH9: Cao cây 2225cm, có 6-8 lá thật, đƣờng kính gốc 2,5-3,0mm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


21
1.3.3. Quy trình nhân giống chè Kim Tuyên trên địa bàn tỉnh Lai Châu [23].
(Ban hành kèm theo quyết định số: 279/QĐ-SNN, ngày 17 tháng 9 năm 2010 của
Giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lai Châu)
Thời kỳ nuôi hom: Hom chè có thể nuôi đƣợc quanh năm. Nhƣng tỷ lệ sống
và tỷ lệ xuất vƣờn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết đặc biệt là thời vụ
trồng chè. Thƣờng nuôi hom chè để giâm cành vào hai thời vụ là hè thu và đông
xuân mà chủ yếu là vụ đông xuân.


Sau cắm 6 tháng

17

8

14

Sau cắm 8 tháng

21

12

19

Cách bón: Hoà tan phân thành dung dịch nồng độ 1 - 2 % tƣới đều trên mặt
luống nếu trời nắng tƣới lại bằng nƣớc lã. Khi mầm mọc cao có 2 - 3 lá có thể phun
urê nồng độ 2% (1 lít cho 5m2) kết hợp với phun thuốc bảo vệ thực vật. Hiện nay
nhiều cơ sở giâm cành đã tăng cƣờng phân bón lên 1,5 - 2 lần, tăng số lần bón 2 - 3
lần đã làm tăng tỷ lệ xuất vƣờn.
Tiêu chuẩn cây con xuất vƣờn: Cao cây từ 18 – 20cm, có 6 – 8 lá thật, đƣờng
kính gốc 1,5 – 2,0mm, thân hóa nâu 50%, cây sạch bệnh, bầu không bị vỡ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn




Lƣợng phân bón bón cho 1 cây mẹ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


23
thức
Quy trình của Bộ Nông Nghiệp năm 2010:
1

2kg phân chuồng + 10g Ns + 10g Kc + 20g Ps

2

Quy trình + 10g Ns

3

Quy trình + 10g Ns + 10g Ps

4

Quy trình + 20g Ns + 10g Ps

Thí nghiệm có 4 lần nhắc lại, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, diện tích
ô 22,5 m2, 45 cây/ô, tổng diện tích thí nghiệm 360 m2.
Sơ đồ thí nghiệm :

1

4

1

3

2

Kỹ thuật bón phân:
Phân chuồng hoai mục: đào rạch vùi lấp cùng với cành chè và lá chè đốn,
bón vào tháng 11 đến tháng 12 năm trƣớc.
Phân hoá học: Chè trên 3 tuổi bón một năm 4 lần vào tháng 2, tháng 5, tháng
8, tháng 10. Tiến hành đào rạch giữa các hàng chè sâu 20cm, vùi lấp.
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của bón bổ sung phân N, P, K cho cây con trong
vườn ươm đến khả năng nhân giống bằng giâm cành của giống chè Kim Tuyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


24
Thí nghiệm có 4 công thức nhƣ sau:
Lƣợng phân bón bón cho 1m2 vƣờn ƣơm

Công thức
1



4

2

4

1

3

3

2

4

1

4

1

3

2

Kỹ thuật bón phân:
Hoà phân vào nƣớc rồi tƣới đều cho diện tích thí nghiệm, sau đó tƣới rửa lá
bằng nƣớc lã.

NL1

NL2

NL3

NL4

3

2

1

4

1

4

2

3

2

3

4



2.5.3. Phƣơng pháp theo dõi các chỉ tiêu.
Phƣơng pháp theo dõi theo 10TCN 446 - 2001 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status