Vận dụng lý thuyết đa thông minh trong dạy học Lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN ANH PHƢƠNG

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐA THÔNG MINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN ANH PHƢƠNG

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT ĐA THÔNG MINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 01 11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thanh Tú

HÀ NỘI – 2015

giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn


hóa và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số
IQ” [5, tr.34].
Việc tồn tại cả tám trí thông minh với mức độ cao thấp khác nhau sẽ
ảnh hưởng đến thiên hướng tiếp thu năng lực trí tuệ nào hiệu quả hoặc kém
hiệu quả. Thêm nữa, trí thông minh không phải là cái bất biến. Thông qua đào
tạo có thể tạo điều kiện phát triển hoặc làm thui chột năng lực trí tuệ của HS.
Trong khi đó, giáo dục nhà trường hiện nay lại chưa thực sự chú trọng đến
DH tiếp cận trí thông minh của HS. GV cũng chưa thực sự đầu tư lựa chọn
các PPDH phù hợp với thiên hướng tiếp thu của HS. Đó thực sự là thực trạng
đáng lo ngại trong giáo dục Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Sử dụng PPDH hiệu quả sẽ góp phần quyết định sự thành công của mục
tiêu dạy học. Vì thế, có thể xem việc kế thừa những thành tựu trong nghiên
cứu của Howard Gardner về trí thông minh đa dạng như một gợi ý để lựa
chọn PPDH phù hợp trong tất cả các môn học, trong đó có LS.
Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra chủ trương đổi mới căn bản và toàn
diện nền giáo dục Việt Nam nhằm hướng đến chất lượng thực sự của nền giáo
dục. Đó vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với việc nâng cao chất lượng
giáo dục, trong đó có giáo dục PT.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự thay đổi trong nhận thức
xã hội, việc DH hướng đến phát triển năng lực và trí tuệ của từng cá nhân
đang được xem trọng thay vì DH đại trà. Chính bởi thế, việc DH phân hóa
cũng đang là chủ trương được các nhà giáo dục và dư luận quan tâm rất nhiều.
“Bản chất của DH phân hóa là tạo ra những khác biệt nhất định trong nội
dung và phương thức hoạt động dựa vào nhóm năng lực, hứng thú hoặc nhu
cầu của người học và mục tiêu giáo dục của xã hội” [7]. Tính phân hoá thể
hiện ở sự phân biệt dựa theo các đối tượng khác nhau, áp dụng cách thức tổ
chức, vận dụng nội dung, PP và hình thức, hoạt động khác nhau,... sao cho

cái, giúp GV DH theo các PP nhằm phát huy năng lực trí tuệ nổi trội của con
em mình.


Trên cơ sở tìm hiểu thuyết đa thông minh của Howard Gardner,
Thomas Armstrong đã có quá trình nghiên cứu nghiêm túc để đưa ra những
tác phẩm mang tính kế thừa, được các nhà giáo dục và dư luận xã hội quan
tâm. Một trong số đó là cuốn “7 loại hình thông minh”. Cuốn sách được được
Mạnh Hải, Thu Hiền dịch và do nhà xuất bản Lao động – xã hội phát hành.
Ngoài phần mở đầu, cuốn sách bố cục thành 15 nội dung nhỏ. Bên cạnh việc
chỉ ra 7 loại hình trí thông minh (trừ trí thông minh tự nhiên), Thomas
Armstrong có đưa thêm một số nội dung thú vị khác như: “Đánh thức những
tiềm năng nở muộn” hay “Củng cố mối liên kết lỏng lẻo”, “Liệu còn tồn tại
những loại hình thông minh khác”…
Ngay chương I với tên gọi “Thuyết trí thông minh đa dạng”, Thomas
Armstrong đã đưa ra những tình huống gần gũi trong cuộc sống hàng ngày để
dẫn dắt người đọc có được cảm nhận đầu tiên về trí thông minh. Tình huống
đặt ra khi bạn bị một đàn voi ma mút uy hiếp hay xe hơi của bạn bị hỏng trên
đường cao tốc. Trong cả hai trường hợp, bạn đều cần sự giúp đỡ. Với cuộc
sống muôn hình vạn trạng, trí thông minh giải quyết những nhu cầu khác
nhau thì cần có những năng lực khác nhau. Và như vậy, trí thông minh phụ
thuộc vào hoàn cảnh, nhiệm vụ và những yêu cầu mà cuộc sống đặt ra cho
chúng ta.
Thomas Armstrong cũng chỉ ra rằng: các bài kiểm tra IQ mới chỉ đánh
giá được một thứ có thể tạm gọi là “năng khiếu đi học”, trong khi trí thông
minh thật sự phải được hiểu trong phạm vi rất rộng lớn với nhiều loại kĩ năng
khác nhau [19]. Ông cũng đưa ra một cách hệ thống tên gọi, các khái niệm mà
Howard Gardner đã khái quát và những bằng chứng làm cơ sở cho thuyết trí
thông minh đa dạng. Một là, mỗi trí thông minh đều có khả năng biểu tượng
hóa. Hai là, mỗi trí thông minh đều có LS phát triển riêng của nó. Ba là, mỗi

thuyết đa thông minh và đề xuất việc vận dụng trong DH. PGS.TS Trần
Khánh Đức đề xuất việc vận dụng ở góc độ người học (SV) và người dạy
(giảng viên) còn TS Trần Đình Đức đề xuất việc đánh giá các dạng năng lực
trí tuệ ở HS và vận dụng bằng việc lựa chọn các PPDH phù hợp.


Trong cuốn “Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường trung học phổ
thông – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS. Thanh Tú có đề cập đến:
Cơ sở, vai trò, ý nghĩa, yêu cầu cơ bản, hình thức, biện pháp của việc tổ chức,
hướng dẫn ôn tập trong DHLS ở trường THPT. Một điều rất đáng ghi nhận là
mặc dù không đề cập cụ thể đến việc vận dụng lý thuyết đa thông minh vào
hoạt động ôn tập song TS. Hoàng Thanh Tú đã chỉ ra rằng: “Hiệu quả học tập
của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào phương pháp dạy mà còn chịu ảnh
hưởng của chính phong cách học của họ” [16, tr.216].
Theo đó, “Phong cách học là cách thức mà người học thường sử dụng
để tiếp thu, ghi nhớ kiến thức theo thói quen tư duy và dưới tác động của môi
trường học tập” [16, tr. 217]. Mỗi cá nhân có một phong cách học riêng, quy
định cách họ tiếp nhận tri thức và nhận biết về thế giới xung quanh. Như vậy,
trong tác phẩm này, TS. Hoàng Thanh Tú đã đề cập đến đa kiểu học, hướng
đến DH phân hóa đối tượng nhằm đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động theo
nhu cầu, sở thích và khả năng của mỗi HS nhằm nâng cao hiệu quả DH.
Là một học thuyết có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, nhiều trường
PT đã đề xuất việc ứng dụng lý thuyết đa thông minh vào xây dựng chương
trình đào tạo của mình. Trong đó, không thể không kể đến: Trường PT liên
cấp Olympia, Trường mầm non cao cấp Bibi Home, Trung tâm bé thông minh
hay trung tâm Gene Code (Phân tích vân tay). Bên cạnh đó, thuyết đa thông
minh còn được đăng tải trên một số trang web hay diễn đàn có uy tín như:
Trường THPT Chuyên Hà Nội Amsterdam hay webtretho.
Trên các diễn đàn đó, các bài viết tập trung vào nội dung chủ yếu là
giới thiệu về thuyết đa thông minh: Sự ra đời gắn liền với quá trình nghiên

- Về địa bàn khảo sát, thực nghiệm: Trường PT liên cấp Olympia,
Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
- Trên cơ sở tìm hiểu và khẳng định vai trò, ý nghĩa của thuyết đa thông
minh của Howard Gardner, đề tài chỉ ra quy trình và cách thức vận dụng vào


DHLS ở trường PT, góp phần phát triển năng lực, trí thông minh của HS và
nâng cao chất lượng DHLS.
4.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu cơ s ở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng Lý thuyết đa
thông minh vào DH môn LS ở trường PT.
- Khảo sát, đánh giá năng lực trí thông minh của học sinh lớp 10 trường
PT liên cấp Olympia.
- Nghiên cứu nội dung phần LS lớp 10 (đặc biệt chú ý nội dung văn hóa)
và đề xuất quy trình xây dựng kế hoạch bài dạy trên cơ sở vận dụng Lý thuyết
đa thông minh.
- Thử nghiệm và đánh giá tính hiệu quả, khả thi của việc vận dụng Lý
thuyết đa thông minh trong DHLS.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận:
- Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về LS, giáo dục.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: Sưu tầm, đọc, nghiên cứu, phân tích và tổng hợp
sách báo, internet, tạp chí, luận án, luận văn đề cập các vấn đề liên quan đến
thuyết đa thông minh của Howard Gardner và việc vận dụng thuyết đa thông
minh vào DH nói chung (DHLS nói riêng).
- Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, dự giờ, trao đổi với GV, HS, điều tra

10 ở trường trung học phổ thông liên cấp Olympia.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Th.s Hồ Sỹ Anh (2013), Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp
cận năng lực HS và mục tiêu dạy làm người, Tạp chí Dạy và học ngày
nay, số 4.
2. Nguyễn Tuấn Anh (2010), Sử dụng một số phương pháp dạy học tích
cực trong dạy môn Lịch sử ở trường phổ thông, Tạp chí Dạy và học
ngày nay.
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2015), Chương trình giáo dục phổ thông tổng
thể (Trong chương trình giáo dục phổ thông mới .
4. Bộ giáo dục và đào tạo, Sách giáo viên lịch sử 10, NXB Giáo dục.
5. TS. Trần Đình Châu (2013), Vận dụng thuyết đa trí tuệ trong dạy học
ở trường phổ thông, Tạp chí Giáo dục số 316.
6. GS.TS Nguyễn Thị Côi, Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả
dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm.
7. Th.s Nguyễn Thị Hồng Chuyên (2014), Dạy học phân hóa dựa vào
phong cách học tập của học sinh, Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 10.
8. PGS.TS Trần Khánh Đức, Lý thuyết đa thông minh và đổi mới
phương pháp dạy học ở bậc đại học, Tạp chí Lý luận – Dạy học.
9. Hoàng Thanh Hải (2012), “Ý nghĩa giáo dục qua việc sử dụng di tích
lịch sử trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục số
287, trang 55-57.
10.PGS.TS Vũ Quang Hiển – TS Hoàng Thanh Tú, Phương pháp dạy
học môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội.
11.PGS. TS Đặng Thành Hƣng (2007), Quan niệm và giải pháp phân
hóa dạy học ở trung học phổ thông nhằm hội nhập quốc tế, Tạp chí
Giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status