Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC
STT
Nội dung
Trang
1
Mục lục
01
2
Quy ước viết tắt
02
3
PHẦN I: MỞ ĐẦU
03
4
1. Mục đích của sáng kiến
07
10
Chương II: Thực trạng
09
11
Chương III: Những giải pháp thực hiện
11
12
1. Nguyên tắc chung
11
13
2. Biện pháp thực hiện chung
12
14
3. Kỹ năng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản
33
20
3. Kiến nghị
33
21
PHẦN IV: PHỤ LỤC
35
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
1
Sáng kiến kinh nghiệm
STT
Từ viết tắt
Từ đầy đủ
1
THCS
Trung học cơ sở
Trong chương trình địa lí THCS mỗi khối lớp đều có những kỹ năng nhất định, và
yêu cầu học sinh không ngừng rèn luyện tiếp cận và hoàn thiện các kỹ năng đó qua
các bài học theo từng khối lớp.
Một trong những kỹ năng quan trọng và được quan tâm nhiều trong môn địa
lí là kỹ năng vẽ biểu đồ. Trong 4 khối lớp ở bậc THCS thì chương trình Địa 9 là
chương trình thể hiện kỹ năng vẽ biểu đồ được thể hiện rõ nhất và phong phú nhất.
Đối với môn địa lý 9 mục tiêu của bộ môn là nhằm trang bị cho học sinh
những kiến thức phổ thông cơ bản về dân cư, các ngành kinh tế. Sự phân hóa lãnh
thổ về tự nhiên, kinh tế xã hội của nước ta và địa lý tỉnh, thành phố nơi các em
đang sinh sống và học tập. Để đạt được điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải nắm
vững phương pháp, nội dung chương trình để dạy bài kiến thức mới, bài thực hành,
bài ôn tập hệ thống hóa kiến thức từ đó giúp học sinh nắm kiến thức một cách hiệu
quả tốt nhất.
Đối với sách giáo khoa cũng như chương trình địa lý 9 THCS mới đòi hỏi kỹ
năng vẽ ,nhận xét biểu đồ rất cao, đưa ra nhiều dạng biểu đồ mới và khó so với
sách giáo khoa lớp 9 THCS cũ. Nhiều dạng biểu đồ học sinh còn trừu tượng như
biểu đồ miền, đường..... Vì vậy mỗi giáo viên phải tìm ra phương pháp vẽ các dạng
biểu đồ một cách thích hợp dễ nhớ, dễ hiểu đảm bảo tính chính xác, tính mĩ quan.
Hình thành cho học sinh những kỹ năng cơ bản cần thiết áp dụng cho việc học tập
cũng như cuộc sống sau này. Trong khi dạy bài kiến thức mới có nhiều loại biểu đồ
mà học sinh phải dựa vào đó nhận xét, phân tích để tìm ra kiến thức mới sau đó đi
đến một kết luận địa lý và ngược lại
3
Sáng kiến kinh nghiệm
Trong các tiết thực hành, ôn tập, kiểm tra học sinh phải căn cứ vào bảng số
liệu để lựa chọn biểu đồ thích hợp, tính cơ cấu......chuyển từ bảng số liệu thành biểu
đồ từ đó học sinh nhận xét, kết luận các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội được dễ
dàng hơn.
khai thác Átlat Địa lí Việt Nam dễ dàng và hiệu quả hơn, góp phần nâng cao kết
quả học tập. Từ đó sẽ góp phần xóa dần suy nghĩ rằng môn Địa lí là một môn học
thuộc khô khan, dập khuôn và kém hứng thú, để rồi cho các em một cái nhìn tích
cực, sáng tạo khi học bộ môn này.
Việc dạy học địa lí trong trường THCS hiện nay chưa phát huy được hết vai
trò của bài tập thực hành địa lí trong thực hiện các nhiệm vụ dạy học. Dạy học sinh
vẽ biểu đồ địa lí là một công việc không phải là đơn giản và thuần nhất, ở đó bộc lộ
rõ trình độ, phương pháp truyền đạt của người giáo viên trong việc hướng dẫn hoạt
độnặtt duy trí tuệ của học sinh.
Về vấn đề này đã có rất nhiều tài liệu tham khảo của nhiều tác giả khác nhau
đề cập đến, hầu hết đều đáp ứng được yêu cầu giúp học sinh rèn luyện kĩ năng xác
định và vẽ biểu đồ địa lí, củng cố và nâng cao kiến thức địa lí. Song nhìn chung
giáo viên chưa phát huy hết khả năng tự học tự khám phá của học sinh. Hơn nữa,
các kỹ năng trong chương trình địa lí 9 còn xuyên suốt lên các chương trình địa lí
của lớp trên, gắn liền với các bài thi của học sinh về bộ môn này trong những bậc
học cao hơn.
Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả về kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ?
Câu hỏi này đã từng làm tôi chăn chở rất nhiều. Qua một năm học, tôi áp dụng quy
trình hướng dẫn kỹ năng này cho các em, tôi thấy chất lượng bộ môn được cải tiến
rõ ràng, đồng thời trong giờ học các em cũng tích cực học bài hơn rất nhiều, đặc
biệt là các giờ làm bài tập và giờ thực hành. Từ đó, tôi quyết tâm thực hiện việc
“Hướng dẫn kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ địa lí cho học sinh lớp 9” trong quá
trình dạy học bộ môn.
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Cơ sở khoa học của sáng kiến
5
Sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm
Quan điểm trong quá trình dạy học là học phải đi đôi với hành. Học sinh muốn
hiểu và nhận thức chính xác về các đơn vị kiến thức đã học thì phải biết cách vận
dụng kiến thức đó vào trong quá trình thực hành giải bài tập. Học địa lí cũng vậy,
để học sinh tiếp cận kiến thức nhanh và hiểu rõ về nó, phân tíc được nó thì biểu đồ
là phương tiện trực quan đơn giản và hiệu quả nhất.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của xã hội môn Địa lí trong nhà trường
nói chung và môn Địa lí lớp 9 nói riêng không ngừng cải tiến chương trình, cải tiến
phương pháp dạy học nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Trong đó việc thực hành
vẽ và nhận xét biểu đồ đóng vai trò quan trọng, nó có nhiệm vụ củng cố, rèn luyện
kĩ năng Địa lí cho học sinh một cách thuần thục và chắc chắn hơn .
Việc thực hành vẽ và nhận xét biểu đồ trong bài tập, bài thực hành Địa lí giúp
cho học sinh củng cố kĩ năng vẽ biểu đồ đã học ở lớp 8 mà còn vận dụng những
kiến thức đã học vào nhận xét và giải thích biểu đồ đã vẽ được. Từ đó làm cho học
sinh có cách nhìn nhận đánh giá các sự vật, hiện tượng một cách đúng đắn, chính
xác và khách quan.
Theo cấu trúc chương trình, hầu như sau mỗi bài học ở Địa lí lớp 9 đều có một
bài tập hoặc một bài thực hành vẽ biểu đồ. Đây là một thuận lợi rất lớn giúp giáo
viên thực hiện tốt các phương pháp và biện pháp rèn luyện kĩ năng Địa lí cho học
sinh trong quá trình dạy học. Từ đó học sinh nhận thức tri thức một cách khách
quan đồng thời học sinh thấy rõ những thuận lợi và khó khăn về các vấn đề Địa lí ở
nước ta.
2. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến:
Những số liệu, khi được thể hiện thành biểu đồ, bao giờ cũng có tính trực
quan làm cho học sinh tiếp thu tri thức được dễ dàng, tạo nên hứng thú học tập.
Trong dạy học Địa lí, việc yêu cầu học sinh vẽ biểu đồ là một nội dung không thể
thiếu được khi làm các bài tập và bài thực hành. Có vẽ được biểu đồ thì các em
hình thành được các kĩ năng, hiểu rõ được được công dụng của từng loại biểu đồ và
từ đó nắm vững cách phân tích, khai thác những tri thức Địa lí. Trong chương trình
7
việc rèn luyện kỹ năng địa lí của học sinh, phát hiện ra những học sinh có kỹ năng
8
Sáng kiến kinh nghiệm
thực hiện tốt hoặc thực hiện còn yếu để kịp thời có biện pháp điều chỉnh khắc phục
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn này.
CHƯƠNG 2: Thực trạng vấn đề mà sáng kiến đề cập đến.
Trước khi thực hiện đề tài, qua giảng dạy ở trường THCS , qua tìm hiểu và
trao đổi với đồng nghiệp tôi nhận thấy:
- Đa số học sinh xem môn Địa lí là môn phụ, do đó ít chú ý đến học tập bộ
môn này. Kết quả cho thấy điểm tổng kết của các em phần lớn chỉ đạt điểm trung
bình, nhiều em học môn Địa lí khá, giỏi nhưng khi giáo viên lấy đội tuyển bồi
dưỡng học sinh giỏi thì các em không tham gia vì cho rằng đây chỉ là môn học phụ.
Từ đó giáo viên dạy Địa lí làm sao phát huy được năng lực của mình khi phương
pháp dạy học được đổi mới, đồ dùng dạy học phong phú, đa dạng...
- Qua điều tra khảo sát hầu hết học sinh đều cho rằng, cách vẽ và nhận xét
biểu đồ trong bài tập địa lý lớp 9 là bình thường và không khó. Nhưng trong thực
tế, khi thực hiện thì đây là một điều không dễ dàng. Còn nhiều học sinh chưa cả
biết hết tên ccác loại biểu đồ thường gặp, khi đọc yêu cầu bài tập còn không hình
dung được dạng biểu đồ như thế nào.
Một khó khăn nữa là việc rèn luyện kĩ năng này chỉ chiếm một thời lượng rất
ít trong 1 tiết dạy do đó đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu trước các yêu cầu mà bài
tập hoặc bài thực hành mà giáo viên đã giao cho, nhưng nhiều em chưa thực sự tập
trung và quan tâm đến yêu cầu mà giáo viên đã giao nên đây cũng là khó khăn lớn
đối với giáo viên khi thực hiện dạy một bài thực hành vẽ biểu đồ hoặc một bài tập
vẽ biểu đồ, do đó:
- Học sinh không xác định được yêu cầu của đề bài.
- Học sinh không xác định được kiểu biểu đồ sẽ vẽ là gì và việc xử lí bảng số
15
11
9B
27
10
17
K9
53
25
28
100%
47.2%
52.8%
Lớp
T/số học sinh
- Đảm bảo tính chính xác.
- Đảm bảo tính trực quan.
- Đảm bảo tính thẩm mĩ.
Trong giảng dạy, giáo viên cần lựa chọn các phương pháp tích cực trên cơ
sở coi trọng nhận thức của học sinh, tăng cường vai trò tổ chức lĩnh hội, khám phá
kiến thức. Trong giờ giảng, giáo viên giành nhiều thời gian cho học sinh tự làm
việc với sách giáo khoa, biểu đồ, lược đồ và với các thiết bị học tập khác để học
sinh tự chủ động tìm ra kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Tất cả các
khâu này, giáo viên phải thể hiện chu đáo, tỉ mĩ, hết sức cụ thể trong bài soạn,
hướng dẫn học sinh ôn lại những kiến thức đã học để vận dụng vào giải thích sau
khi vẽ biểu đồ.
11
Sáng kiến kinh nghiệm
Trong một tiết thực hành vẽ biểu đồ, giáo viên phải hướng dẫn học sinh
chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng cần thiết cho tiết học: máy tính cá nhân, thước kẻ,
compa... để giúp học sinh chủ động trong khi vẽ biểu đồ.
Giáo viên cần hình thành cho các em một hệ thống kiến thức về các loại biểu
đồ để các em không bị bỡ ngỡ trước yêu cầu của các dạng bài tập.
2. Biện pháp thực hiện:
2.1. Các dạng biểu đồ cơ bản: Có 7 dạng:
- Biểu đồ cột ( cột đơn, cột đa, cột chùm )
- Biểu đồ tròn ( biểu đồ tương đối, biểu đồ tuyệt đối )
- Biểu đồ miền
- Biểu đồ thanh ngang
- Biểu đồ cột chồng
- Biểu đồ đường
- Biểu đồ kết hợp
2.2. Cách lựa chọn biểu đồ và xử lí số liệu:
vận tải, năm 2000 và năm 2005
13
Sáng kiến kinh nghiệm
- Biểu đồ bán tròn
Ví dụ: Biểu đồ cơ cấu giá trị xuất nhập khẩu phân theo thị trường năm 2000
và năm 2004
Khi nào thì vẽ biểu đồ hình tròn
- Khi đề bài yêu cầu cụ thể: “Vẽ biểu đồ tròn …”
14
Sáng kiến kinh nghiệm
- Trong đề có cụm từ: “cơ cấu/tỉ lệ/ tỉ trọng/quy mô/quy mô và cơ cấu/thay
đổi cơ cấu/chuyển dịch cơ cấu” hay “tỉ trọng so
với toàn phần” số năm từ 1 đến 3 năm, hoặc từ 3
địa điểm trở xuống
- Số liệu để vẽ biểu đồ phải có đơn vị là %
Cách vẽ biểu đồ hình tròn
- Xác định tỉ lệ bán kính đường tròn ( Nếu bài yêu cầu thể hiện quy mô)
- Vẽ đường tròn theo tỉ lệ đã xá định
- Chọn trục gốc: Để thống nhất và dễ so sánh. Khi chia cơ cấu trong hình
tròn, thì tia đầu tiên cần bắt đầu từ tia số 12 giờ. Trong trường hợp diễn tả tình hình
xuất nhập khẩu,… trục gốc là đường nằm ngang (Tia số 9 trên mặt đồng hồ).
- Vẽ theo trình tự của đề bài cho và vẽ theo chiều kim đồng hồ. Mỗi %
tương ứng 3,60
Thường thể hiện động thái của sự phát triển, hoặc so sánh quy mô (độ lớn)
giữa các đối tượng địa lí. Biểu đồ cột cũng có thể biểu hiện cơ cấu thành phần của
một tổng thể (biểu đồ cột chồng)
Các loại biểu đồ hình cột
- Biểu đồ cột đơn
Ví dụ: Biểu đồ sản lượng lúa ở nước ta giai đoạn 1980 - 2005
16
Sáng kiến kinh nghiệm
Triệu tấn
40
35.8
35
32.6
30
25
25
19
20
15
nước ta giai đoạn 1980-2005
17
Sáng kiến kinh nghiệm
- Biểu đồ cột chồng
Ví dụ: Biểu đồ tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò ở nước ta…
- Biểu đồ thanh ngang
Ví dụ: Biểu đồ thể hiển tỉ lệ đất nông nghiệp các vùng ở nước ta năm 2006
18
Sáng kiến kinh nghiệm
Khi nào thì vẽ biểu đồ hình cột
- Khi đề bài yêu cầu cụ thể “Hãy vẽ biểu đồ cột”
- Đề bài muốn thể hiện sự hơn kém, nhiều ít, hoặc muốn so sánh các yếu
tố. Thường dựa vào các gợi ý trong đề bài như: số lượng, sản lượng, so sánh, …
- Đề bài chỉ yêu cầu so sánh các yếu tố trong 1 năm nên trục ngang thay vì
đơn vị là “năm” thì được thay thế là “các vùng”, “các nước”, “các loại sản phẩm”,
…
- Đơn vị có dấu: “/” như: kg/người, tấn/ha, USD/người, người/km 2,…
Cách vẽ biểu đồ hình cột
- Biểu đồ được thể hiện trên một hệ trục toạ độ. Trục tung thể hiện giá trị
của các đại lượng (đơn vị). Trục hoành thường thể hiện thời gian (năm).
- Chiều rộng của các cột bằng nhau, chiều cao của các cột phải tương ứng
với các giá trị của các đại lượng.
Ví dụ: Biểu đồ thể hiện tình hình tăng dân số ở Việt Nam, giai đoạn 1901-2006
20
Sáng kiến kinh nghiệm
- Loại có nhiều đường vẽ theo giá trị tuyệt đối khác đơn vị
Ví dụ: Biểu đồ biểu diễn dân số và sản lượng lương thực của nước ta giai đoạn
1980-2005
21
Sáng kiến kinh nghiệm
- Loại có một hoặc nhiều đường vẽ theo giá trị tương đối
Ví dụ: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng sản lượng điện, than, phân bón
hoá học ở nước ta, giai đoạn 1998-2006
22
Sáng kiến kinh nghiệm
Khi nào thì vẽ biểu đồ dạng đường
- Khi đề bài đưa ra yêu cầu cụ thể: “Vẽ đồ thị tả…”, “Vẽ đường biểu diễn”,
…
- Khi đề bài xuất hiện cụm từ: phát triển, tăng trưởng, tốc độ gia tăng, …
Cách vẽ biểu đồ dạng đường
Sáng kiến kinh nghiệm
- Biểu đồ miền thể hiện giá trị tuyệt đối
Ví dụ: Biểu đồ thể hiện diễn biến biến diện tích các vụ lúa ở nước
ta, giai đoạn 1985 - 2005
b. Khi nào thì vẽ biểu đồ miền
- Khi đề bài yêu cầu cụ thể: “Vẽ biểu đồ miền”
- Khi đề bài xuất hiện cụm từ: thay đổi cơ cấu, chuyển dịch cơ cấu, …
c. Cách vẽ biểu đồ miền
- Khung biểu đồ miền vẽ theo giá trị tương đối thường là một hình chữ
nhật. Trong đó được chia làm các miền khác nhau, chồng lên nhau. Mỗi miền thể
hiện một đối tượng địa lí cụ thể.
- Các thời điểm năm đầu tiên và năm cuối cùng của biểu đồ phải được nằm
trên hai cạnh bên trái và phải của hình chữ nhật, là khung của biểu đồ.
- Chiều cao của hình chữ nhật thể hiện đơn vị của biểu đồ, chiều rộng của
biểu đồ thường thể hiện thời gian (năm).
- Biểu đồ miền vẽ theo giá trị tuyệt đối, thể hiện động thái, nên chỉ dựng
hai trục, một trục thể hiện đại lượng, một trục giới hạn năm cuối.
d. Chú ý khi vẽ biểu đồ miền
25