ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
VĂN HÓA HỌC
Tài liệu tham khảo:
1.
2.
3.
4.
5.
Đoàn Văn Chúc, Văn hóa học, Nxb VHTT, Hà nội 1997
V.M.RôĐin, Văn hoá học. Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 2000.
A.A Radugin, Từ điển bách khoa văn hóa học, Viện nghiên cứu
VHNT, Hà nội – 2002.
S.Freud, Bệnh lý học tinh thần về sinh hoạt đời thường, Nxb
VHTT, Hà nội,2002.
Bùi Quang Thắng, Hành trình vào văn hóa học, Nxb VHTT, Hà
nội 2003
Soạn giảng: T.S. Phan Quốc Anh
Bài 1:
NHẬP MÔN VĂN HÓA HỌC
1. Khái niệm văn hoá
Từ “Văn hóa” được dùng rất tuỳ tiện:
- Nghĩa rộng
- Nghĩa hẹp
- Theo trình độ học vấn,
trị giáo hoá của TQ. Văn trị đối lập với
vũ trị.
1.2. Một vài khái niệm văn hóa.
- Khái niệm văn hóa của UNESCO.
Tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô
có hơn một nghìn đại biểu đại diện cho
hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày
26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta đã đưa
ra trên 200 định nghĩa. Cuối cùng Hội
nghị chấp nhận một định nghĩa như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng
thể những nét riêng biệt về tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết
định tính cách của một xã hội hay của
một nhóm người trong xã hội. Văn hóa
bao gồm nghệ thuật và văn chương,
những lối sống, những quyền cơ bản
của con người, những hệ thống các
giá trị, những tập tục và tín ngưỡng ”.
Ông tổng giám đốc UNESCO F. May - ơ
(Federico Mayor Zaragoza) cũng đưa
ra định nghĩa của riêng mình như sau:
“Văn hóa là tổng thể sống động của
các hoạt động sáng tạo trong quá khứ
Từ định nghĩa này, GS Trần Ngọc Thêm
đã phát triển thành định nghĩa riêng
cho
mình:
“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các
giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội”
(Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.10)
Định nghĩa này mang tính triết học,
có phần nghiêng về hoạt động
sáng tạo trong lịch sử xã hội loài
người mang tính giá trị, được hình
thành trên cơ sở chủ nghĩa Mac Lê nin. Vì vậy, tôi thường chọn
định nghĩa này trong các hoạt
động cũng như trong các nghiên
cứu về văn hóa.
Phân tích thêm, so sánh với khái
niệm:
“văn hóa là thiên nhiên thứ hai của
con người”. Những giá trị do con
người sáng tạo ra. Thiên nhiên
trò-hoạt động mang tính tích cực xã hội của con
người),
Các khoa học lịch sử (bình diện di truyền-niên đại của
tồn tại tập thể con người), Nghiên cứu sự sinh
thành, phát triển của các nền văn hoá, sự xâm
nhập, giao thoa lẫn nhau (bình diện di truyền-niên
đại của tồn tại tập thể con người)
/ Các khoa học về văn hoá: Do tính không đồng nhất
của văn hoá, ngôn ngữ học, dân tộc học, các
ngành nghệ thuật học v.v…để nghiên cứu sâu
từng lĩnh vực chuyên ngành văn hoá (các bình
diện giá trị-điều chỉnh và giao tiếp của hoạt động
sống tập thể và cá nhân của con người).
Văn hoá học (các bình diện giá trị-điều chỉnh và giao
tiếp của hoạt động sống tập thể và cá nhân của
con người).
• Khái niệm
• “Văn hoá học là một bộ môn khoa học liên
ngành nghiên cứu những quy luật hình
thành, phát huy, phát triển của văn hoá nói
chung”
• Văn hóa học nghiên cứu từ khởi nguyên, bản
chất, cấu trúc, hệ giá trị cũng như toàn bộ
các biểu hiện của nó, bao gồm cả lý thuyết
và thực tiễn lịch sử văn hóa, văn hoá cá
• Hai khuynh hướng trên của Văn hoá học
còn khác nhau rõ rệt ở phương pháp luận
nhận thức chủ đạo:
• ở trường hợp thứ nhất (VHH xã hội) là
phương pháp luận giải thích - hợp lý.
• ở trường hợp thứ hai (VHH nhân văn) là
phương pháp luận diễn giải - miêu tả.
Văn hoá học cơ bản
• Nghiên cứu văn hoá với mục đích nhận
thức lý luận và lịch sử về hiện tượng đặc
biệt này, tạo lập hệ thống các phạm trù và
các phương pháp nghiên cứu v.v…,
• Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống
nhất về mặt lý luận và phương pháp
nghiên cứu văn hoá. Đối với Việt Nam,
đây là lĩnh vực rất mới mẻ.
Văn hoá học ứng dụng
• Nhằm hướng tới sử dụng các kiến thức
cơ bản về văn hoá vào mục đích dự báo,
định hướng cho sự phát triển văn hoá, lập
dự án và điều chỉnh các quá trình văn hoá
cấp thiết, (đề xuất các cơ chế chính sách
về văn hoá như bảo tồn văn hoá vật thể,
phi vật thể của các cộng đồng xã hội…)