đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở việt nam - Pdf 40

A. KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG
Tên bài giảng
BÀI 3: ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM
Thời gian giảng: 04 tiết
Đối tượng người học: Cán bộ lãnh đạo, quản lí cơ sở.
Mục tiêu:
a. Về kiến thức:
Trang bị những cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự cần thiết, nội dung và điều
kiện, tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với
phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh mới của cách mạng khoa
học – công nghệ hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế.
b. Về kỹ năng:
Trên cơ sở các kiến thức trên và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, người học có
thể phát triển việc nghiên cứu, đề xuất việc vận dụng chủ trương, quan điểm của
Đảng và chính sách của Nhà nước về CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri
thức vào thực tiễn ngành, địa phương mà mình công tác.
c. Về thái độ:
Nhận thức đúng tầm quan trọng của đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam trong các nhiệm vụ kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta để chủ động sáng tạo trong hoạch định chính
sách và tổ chức thực tiễn.
Kế hoạch chi tiết:


Bước

Nội dung


3 phút

phấn,

Bước 3

bảng.
BÀI 3: ĐẨY MẠNH CÔNG Thuyết trình Micro, máy 2 tiết.

(giảng

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI kết hợp hỏi chiếu

bài mới)

HÓA

GẮN

TRIỂN

VỚI

KINH

PHÁT đáp

TẾ

TRI


kết
phấn,


2.

QUAN

ĐIỂM,

MỤC Thuyết trình Micro, máy 1 tiết

TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA kết hợp hỏi chiếu
CÔNG

NGHIỆP

HÓA, đáp

HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRI

THỨC

CỦA

VIỆT



hợp
bảng.

kết
phấn,


trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức.
2.2.2.1.

Đẩy

mạnh

công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn; giải quyết
đồng bộ các vấn đề nông
nghiệp, nông thôn, nông dân.
2.2.2.2. Phát triển nhanh hơn
công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ.
2.2.2.3. Phát triển kinh tế
vùng.
2.2.2.4. Phát triển kinh tế biền

TRI

THỨC Ở VIỆT NAM
3.1. Ưu tiên phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao
3.2. Phát triển khoa học –
công nghệ.
3.3. Tạo lập nguồn vốn đầu

kết
phấn,


tư cho đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri
thức.
3.4. Mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh tế đối ngoại
3.5. Bảo đảm sự ổn định về
chính trị, kinh tế, xã hội;
tang cường vai trò lãnh đạo
của Đảng và nâng cao hiệu
lực quản lý của Nhà nước.
Bước 4

Chốt kiến thức

Thuyết trình


Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI


C. NỘI DUNG BÀI GIẢNG
Bước 1: Ổn định lớp (3 phút)
- Kiểm tra sĩ số
- Thống nhất một số quy định chung của lớp
Bước 2 : Kiểm tra bài cũ (7 phút)
Câu hỏi:
Bước 3: Giảng bài mới
BÀI 3: ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM.
1.TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC.
1.1.Một số quan niệm cơ bản
1.1.1.Công nghiệp hóa
Đặt vấn đề : Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, cuộc Cách mạng công nghiệp được
diễn ra ở nước Anh. Nước Anh trở thành quê hương của Cách mạng công
nghiệp, là nước tiến CNH đầu tiên. Sau Anh là lần lượt các nước: Pháp vào đầu
thế kỷ XIX, Mỹ và Đức vào giữa thế kỷ XIX, Nhật, Nga và nhiều nước châu Âu
khác vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tiến hành CNH và đã lần lượt trở thành
nước công nghiệp.
Do thời điểm lịch sử tiến hành CNH ở các nước không giống nhau nên đã có
những quan niệm khác nhau về CNH. Việc nhận thức đúng phạm trù CNH
trong một giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước là rất cần thiết, nó không chỉ
có ý nghĩa về lý luận mà còn có tính thiết thực trong hoạch định và thực thi
chính sách phát triển.




CNH rút ngắn hiện đại. Nó khác với kiểu CNH rút ngắn cổ điển đã từng tiến
hành ở các nước như Liên Xô (cũ) và Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX trước đây.
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về
CNH và căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam là một nước đi sau
đang trong quá trình phát triển, Đảng cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Trung
ương lần thứ bảy khóa VII (năm 1994), nêu chủ trương tiến hành xây dựng cơ
sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới
bằng con đường CNH, HĐH và nêu quan niệm: “CNH, HĐH là quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và
quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp
tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học
công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.

1.1.3. Kinh tế tri thức
Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, do nhận thức về vai trò quan trọng hàng đầu
của sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trong tăng trưởng kinh tế, các nhà
khoa học và tổ chức thực tiễn đã sử dụng thuật ngữ “kinh tế tri thức”. Thuật ngữ
này nhanh chóng được thừa nhận và đưa vào sử dụng rộng rãi. Tuy đã có nhiều
quan niệm và giải thích khác nhau về thuật ngữ này 2, song các nhà khoa học đều
có sự thống nhất trong nhận thức về bản chất của nền kinh tế tri thức khác với
hai nền kinh tế trước nó.
Nền kinh tế tri thức có các đặc điểm chủ yếu như sau:
- Tri thức là nguồn vốn vô hình to lớn, quan trọng trong đầu tư phát
triển, nền kinh tế dựa chủ yêu vào tri thức.
- Sáng tạo là động lực của sự phát triển.
2





chọn giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là
cấp thiết.
Việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức ở nước ta được bắt nguồn từ các yêu cầu chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, công nghiệp hóa hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức là
con đường tất yếu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển.
- Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
là cách thức để đất nước sớm ra khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển.
Trong những năm qua, tuy đã có những bước phát triển tích cực, nhưng
về cơ bản, nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nước nghèo và kém
phát triển. Chúng ta vẫn phải đương đầu với những thách thức gay gắt và
những nhiệm vụ nan giải: một mặt, tập trung giải quyết các vấn đề cơ
bản đặt ra cho nền kinh tế trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp
lên trình độ của nền kinh tế công nghiệp, như bảo đảm lương thực, thực
phẩm, nhu cầu nước sạch, trường học, đi lại cho người dân; mặt khác,
phải nhanh chóng nắm bắt các xu thế phát triển hiện đại không những chỉ
để chống tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ chung của thế giới, mà
còn phải thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển khi bản thân họ
đã·có trình độ phát triển cao hơn. Khi các yếu tố cho phát triển không chỉ
đơn thuần là vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, mà còn có thêm yếu
tố tri thức với ý nghĩa là yếu tố quan trọng và trực tiếp đối với quá trình
phát triển, thì việc không nhanh chóng nắm bắt và vận dụng được tri thức
mới sẽ không thể tránh khỏi sự tụt hậu tuyệt đối so với các nước khác.
Tri thức đã trở thành yếu tố của lực lượng sản xuất trực tiếp và có tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong điều kiện đó,
nước ta không thể bỏ lỡ cơ hội, mà phải tìm giải pháp bứt phá, tức là
phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.Là một
nước đang phát triển vừa mới nằm trong nhóm nước có thu nhập trung

công nghệ tiên tiến, được hình thành có kế hoạch trên toàn bộ nền kinh tế
quốc dân. Nó không chỉ kế thừa những thành quả văn minh mà nhân loại
đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản, mà còn được phát triển và hoàn thiện


trên cơ sở những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, tham
gia tích cực và có hiệu quả vào phân công lao động và hợp tác quốc tế.
- Thứ tư, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức bắt nguồn từ yêu cầu hội nhập kinh tế sâu hơn, đầy đủ hơn.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung chủ yếu của toàn cầu hóa kinh
tế, đó là quá trình các quốc gia gắn kết nền kinh tế của nước mình với
nền kinh tế khu vực và thế giới bằng các nỗ lực thực hiện tự do hóa, mở
cửa kinh tế trên các cấp độ song phương, đa phương và giảm thiểu sự
khác biệt để trở thành một bộ phận hợp thành chỉnh thể nền kinh tế toàn
cầu. Nó không chỉ đơn thuần là quá trình hợp tác, mà còn là quá trình
cạnh tranh có tính quyết định sống còn giữa các doanh nghiệp và các nền
kinh tế quốc gia. Nếu trước đây, sự phân công và trao đổi bị giới hạn bởi
tính vùng, địa phương và quốc gia, thì ngày nay trong xu hướng toàn cầu
hóa, sự phân công và trao đổi được thực hiện thông qua mạng liên kết
toàn cầu. Xu hướng này tất yếu làm cho ngày càng nhiều các sản phẩm
công nghiệp được sản xuất ra có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp
thuộc các quốc gia khác nhau, rồi tổ hợp chúng lại với nhau. Sự phân
công lao động đã làm cho biên giới quốc gia không còn giới hạn chặt chẽ
như trước đây, mà xích lại gần nhau. Tri thức, đặc biệt là công nghệ
thông tin, kinh tế mạng là những yếu tố quan trọng kết dính các doanh
nghiệp và các quốc gia với nhau. Do vậy, hội nhập kinh tế quốc tế làm
cho hệ thống thông tin không còn là của riêng từng quốc gia, mà là
chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho
các doanh nghiệp và các quốc gia sẵn sàng hợp tác với nhau để cùng
hưởng lợi do hợp tác mang lại.Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng

công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.


Trong ''Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020, ngoài một số mục tiêu
khối lượng như: tăng trưởng GDP bình quân 7-8%/năm; GDP bình quân đầu
người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD... còn có một số chỉ tiêu về chất
lượng, như là những nấc thang trên lộ trình CNH-HĐH, phát triển KTTT. Cụ
thể là: tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP; giá
trị sản phẩm công nghệ cao đạt 45% GDP; yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp
vào tăng trưởng đạt 35%; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 2,5-3%/năm;
giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 30-35%...


Nhiệm vụ đặt ra là ‘từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân
ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công
nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa’

2.1.2. Quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức của Việt Nam
Một là, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững.
Bốn là, coi phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Năm là, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi

bởi vì công nghiệp hóa là quá trình thu hẹp khu vực nông nghiệp, nông thôn và
gia tăng khu vực công nghiệp, xây dựng dịch vụ và đô thị. Nông nghiệp là nơi
cung cấp lương thực, nguyên liệu và lao động cho công nghiệp và thành thị, là
thị trường rộng lớn của công nghiệp và dịch vụ. Nông thôn chiếm đa số dân cư
ở thời điểm khi bắt đầu công nghiệp hóa. Vì vậy, quan tâm đến nông nghiệp,
nông dân và nông thôn là một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu của quá trình


công nghiệp hóa. Ở nước ta, trong những năm qua, vấn đề công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn được đặt ở vị trí quan trọng. Trong
những năm tới, định hướng phát triển cho quá trình này là:
Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra
giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; đẩy
nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao
năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa, phù hợp đặc
điểm từng vùng, từng địa phương.
Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và
dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp.
+ Về quy hoạch phát triển nông thôn:
Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn, thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no
đủ, văn minh, môi trường lành mạnh.
Hình thành các khu dân cư đô thị với kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ
như thủy lợi, giao thông, điện nước, cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế,
bưu điện, chợ…
Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao
trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan, bảo đảm an
ninh, trật tự an toàn xã hội.
+ Về giải quyết lao động, việc làm ở nông thôn:
Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng sử

Tạo bước phát triển vượt bậc của các ngành dịch vụ, nhất là những ngành có
chất lượng cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh, đưa tốc độ phát triển của
ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP. Tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế
quốc để tạo bước phát triển ngành “công nghiệp không khói” này. Tiếp tục mở


rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống như vận tải,
thương mại, ngân hàng, bưu chính viễn thông, du lịch. Phát triển mạnh các dịch
vụ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, phục vụ đời sống ở khu vực nông
thôn.
Đổi mới căn bản cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công
cộng. Nhà nước kiểm soát chặt chẽ độc quyền và tạo hành làng pháp lý, môi
trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia
và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường dịch vụ
2.2.2.3. Phát triển kinh tế vùng
Cơ cấu kinh tế vùng là một trong những cơ cấu cơ bản của nền kinh tế quốc
dân. Xác định đúng đắn cơ cấu vùng có ý nghĩa quan trọng, nó cho phép khai
thác có hiệu quả các lợi thế so sánh của từng vùng, tạo ra sự phát triển đồng đều
giữa các vùng trong cả nước. Để phát triển mạnh mẽ kinh tế vùng trong những
năm tới cần phải:
Có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển nhanh
hơn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý của
mỗi vùng và liên vùng, đồng thời tạo ra sự liên kết giữa các vùng nhằm đem lại
hiệu quả cao, khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính.
Xây dựng ba vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam thành
những trung tâm công nghiệp lớn có công nghệ cao để các vùng này đóng góp
ngày càng lớn cho sự phát triển chung của cả nước. Trên cơ sở phát triển các
vùng kinh tế trọng điểm, tạo ra động lực và sự lan tỏa đến các vùng khác và trợ
giúp các vùng khó khăn, đặc biệt các vùng biên giới, hải đảo, Tây Nguyên, Tây
Nam, Tây Bắc. Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các

- Cải cách toàn diện giáo dục và đào tạo
- Xây dựng xã hội học tập dưới nhiều hình thức và biện pháp.
- Nâng cao chất lượng toàn diện người lao động.
3.2. Phát triển khoa học công nghệ


Khoa học- công nghệ có vai trò là động lực, quyết định lợi thế cạnh tranh và
tốc độ phát triển của toàn bộ qua trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đảng ta xác định khoa học và công
nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hang đầu, là nền tảng và
động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
cần:
- Xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai đường lối,
chủ trương công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức đạt hiệu quả cao với tốc độ nhanh.
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học đánh giá chính xác nguồn tài nguyên
quốc gia. Đổi mới sản phẩm, nâng cao năng suất lao động và năng lực
-

cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền học và công nghệ tiên tiến.
Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài.
Phát triển nhanh thị trường khoa học và công nghệ.
Có cơ chế chính sách khuyến khích các doanh nghiệp dử dụng công nghệ

tiên tiến, công nghệ chất lượng cao.
- Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý khoa học và công nghệ, đặc biệt là cơ chế
tài chính phù hợp với đặc thù sang tạo và khả năng rủi ro của hoạt động
3.3.

- Đảm bảo sự ổn định về kinh tế, thị trường, giá cả, kiểm soát lạm phát,
môi trường cạnh tranh lành mạnh.
- Đảm bảo ổn định xã hội
Bước 4: Chốt kiến thức
Những vấn đề cơ bản, nội dung trọng tâm là:
- Đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức là tính tất yếu ở Việt Nam.
- Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với kinh tế tri thức ở Việt Nam.
- Những điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Bước 5: CÂU HỎI ÔN TẬP, THẢO LUẬN, TÀI LIỆU PHỤC VỤ HỌC
TẬP
1. Câu hỏi ôn tập,
1) Phân biệt công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức?
2) Nêu những nhiệm vụ cơ bản nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam?
3) Đánh giá thực trạng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian qua và để xuất giải pháp thúc
đẩy phát triển thời gian tới?
2. Tài liệu phục vụ học tập:


- Đảng Cộng sản Việt Nam: cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời ky
-

quà độ lên chủ nghĩa xã hội.
Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khóa VII
Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Văn kiện hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành trung ướng khóa IX


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status