Thiết Kế Hệ Thống Bài Tập Rèn Luyện Kỹ Năng Học Số, Số Lượng Cho Trẻ Lớp Tiền Tiểu Học Tại Trung Tâm Sao Biển - Pdf 40

Danh mục từ viết tắt
Khuyết tật trí tuệ

KTTT

Giáo viên

GV

Trung tâm

TT

Đại học Sư phạm

ĐHSP


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
1.Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................. 2
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu.................................................... 3
4.Giả thuyết khoa học ................................................................................................ 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................ 3
6. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................... 3
7. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 4
CHƢƠNG I : CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KỀ HỆ THỐNG BÀI
TẬP RÈN KỸ NĂNG HỌC SỐ - SỐ LƢỢNG CHO TRẺ KTTT TRONG
LỚP TIỀN TIỂU HỌC TẠI TRUNG TÂM SAO BIỂN ..................................... 5
1.1. Sơ lược về lịch sử phát triển vấn đề nghiên cứu ................................................ 5

2.2.7.Đánh giá của GV về việc sử dụng các phương tiện dạy học khi hướng dẫn
cho trẻ khuyết tật trí tuệ học số - số lượng ở lớp tiền tiểu học. .............................. 23
2.3.Đánh giá chung .................................................................................................. 24
2.3.1.Những khó khăn của trẻ khuyết tật trí tuệ khi học số - số lượng . ................. 24
2.3.2. Những thuận lợi của trẻ KTTT khi học số - số lượng ................................... 24
2.3.3. Nguyên nhân thực trạng dạy học số - số lượng cho trẻ KTTT ở lớp tiền tiểu
học tại trung tâm Sao Biển. ..................................................................................... 25
2.4.Tiểu kết. ............................................................................................................. 25
Chƣơng 3: Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyệ kỹ năng học số - số lƣợng cho
trẻ khuyết tật trí tuệ lớp tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển ......................... 26
3.1. Nguyên tắc thiết kế bài tập ............................................................................... 26
3.2.Hệ thống bài tập ................................................................................................. 26
Kết luận và khuyến nghị ....................................................................................... 27
Tài liệu tham khảo ................................................................................................. 29
Phụ lục


MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong trong thế kỉ 21, những năm thực hiện chiến lược
vì quyền lợi và tương lai tương lai tốt đẹp cho mọi người. Để đạt được mục tiêu
đó, mỗi thành viên trong xã hội phải giữ một vai trò đóng góp quan trọng làm đòn
bẩy thúc đẩy quá trình thực hiện.
Trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng đều là tương lai của đất nước.
Điều 23 của công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em đã thừa nhận: Trẻ em
khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt, được hưởng quyền giáo dục bình
đẳng, được đào tạo để có điều kiện hòa nhập vào xã hội, phát triển nhân cách cả về
thể chất lẫn tinh thần nhằm giúp trẻ tham gia tích cực vào cộng đồng.
Giáo dục Tiểu học là cấp học cơ bản và nền tảng trong toàn bộ hệ thống giáo
dục quốc dân góp phần hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

trong các hoạt động, tư duy mang tính trực quan, cụ thể, yếu về khái quát. Chính vì
vậy việc đưa ra các biện pháp hỗ trợ trẻ KTTT trong việc học số - số lượng là vô
cùng cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống bài tập toán nói chung và bài tập toán
về số - số lượng nói riêng sử dụng ở lớp tiền tiểu học tại các trung tâm Sao Biển có
trẻ KTTT chủ yếu là các bài tập dành cho trẻ bình thường , chưa được thiết kế
riêng cho trẻ KTTT, chưa phù hợp với đặc điểm tư duy của trẻ. Vì vậy việc thiết kế
các bài tập riêng cho trẻ KTTT là rất cần thiết nó tạo hứng thú cho trẻ và phù hợp
với khả năng tư duy của trẻ. Từ những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “ Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng học số - số lượng cho trẻ lớp
tiền tiểu học tại trung tâm Sao Biển”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn về trẻ KTTT, chương
trình tiền tiểu học, số - số lượng, quá trình dạy kỹ năng học số - số lượng cho trẻ
KTTT, đề tài thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng học số - số lượng cho trẻ
KTTT tại trung tâm Sao Biển nhằm giúp trẻ có kỹ năng học số - số lượng tốt hơn
trong lớp tiền tiểu học.
2


3. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
3.1.Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy kỹ năng học số - số lượng cho trẻ tiền tiểu học.
3.2.Đối tƣợng nghiên cứu.
Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng học số - số lượng trẻ KTTT lớp tiền tiểu
học tại trung tâm Sao Biển.
4.Giả thuyết khoa học
Hiện nay hệ thống các bài tập rèn luyện kỹ năng học số - số lượng cho trẻ
KTTT chưa được thiết kế phù hợp với đặc điểm của trẻ vì vậy việc học số - số
lượng của các em còn gặp nhiều khó khăn. Nếu thiết kế hệ thống bài tập học số số lượng phù hợp với đặc điểm tư duy, nhận thức của trẻ KTTT thì có thể nâng cao
kỹ năng học số - số lượng của trẻ KTTT tại trung tâm Sao Biển.

năng học của trẻ và kỹ năng dạy của giáo viên.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Mục đích: điều tra kỹ năng học của trẻ KTTT và kỹ năng dạy của giáo
viên trong việc dạy số - số lượng cho trẻ KTTT.
- Thiết kế phiếu
7. 2. 3. Phương pháp phỏng vấn.
Thiết kế mẫu phỏng vấn để thu thập thông tin về khả năng học số - số lượng
của trẻ và cách dạy số - số lượng của cha mẹ cho trẻ KTTT.
7.2.4. Phương pháp trắc nghiệm
Thông qua việc kiểm tra các bài tập mà trẻ làm để rút ra được kỹ năng học
số - số lượng của đang ở mức độ nào.
7.2.5. Phương pháp đàm thoại.
Thông qua việc trò chuyện, trao đổi với giáo viên để bàn về những thuận lợi
và khó khăn khi dạy số - số lượng cho trẻ KTTT lớp tiền tiểu học.

4


CHƢƠNG I : CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KỀ HỆ THỐNG
BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG HỌC SỐ - SỐ LƢỢNG CHO TRẺ KTTT
TRONG LỚP TIỀN TIỂU HỌC TẠI TRUNG TÂM SAO BIỂN
1.1. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc điều chỉnh nội
dung dạy học. Vào cuối thế kỉ XX các công trình nghiên cứu của các tác giả người
Mỹ như Eggen và Kauchak, R.R.Singh, Donald P. Kauchk và Pau D. Eggen,…
không chỉ đề cập đến sự điều chỉnh nội dung dạy học mà còn đề cập đến sự điều
chỉnh tất các thành tố khác trong quá trình dạy học cho cả học sinh bình thường và
học sinh có nhu cầu đặc biệt.
Nhà giáo dục học người Mỹ , Richard vill đã có những nghiên cứu về điều
chỉnh thích ứng theo cách tiếp cận tổng thể một chương trình, một bài học. Chính

Nhiều tác giả không sử dụng trắc nghiệm về chỉ số thông minh để đoán biết
mức độ KTTT mà lại thích dựa vào mức độ thích nghi với môi trường và văn hóa
của cá nhân. Những người theo cách tiếp cận cho rằng người KTTT là người trong
quá trình phát triển và trưởng thành thì đạt đến cuộc sống độc lập được.
Cách tiếp cận thứ ba để định nghĩa trẻ KTTT là dựa trên những hoạt động
xem xét có tính chất lý luận để tìm hiểu nguyên nhân hoặc tính chất cơ bản của loại
khuyết tật này.
Các cách tiếp cận trên đều có ưu điểm và hạn chế của nó. Nhìn chung chúng
chưa thể hiện được khái niệm về KTTT một cách đầy đủ và chính xác. Đôi khi ở
một hoàn cảnh nhất định, người ta không thể sử dụng được một trong những cách
tiếp cận trên.
Theo AAMR như sau: KTTT là một dạng tật có đặc điểm là bị hạn chế đáng
kể trong việc thực hiện chắc năng trí tuệ và các kỹ năng thích nghi thực tế, thích
nghi xã hội, kỹ năng nhận thức. Loại tật bắt đầu trước 18 tuổi (16).
Theo tôi trẻ KTTT là trẻ có những khó khăn về nhận thức, tư duy, giao tiếp,
vận động. Trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập và thực hành các kỹ năng
tự lập trong cuộc sống. Loại tật này bắt đầu trước 18 tuổi.
6


1.2.2. Đặc điểm tâm lí.
1.2.2.1. Đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh cấp cao của trẻ KTTT
Các công trình nghiên cứu về hoạt động thần kinh cấp cao của Paplop chỉ ra
4 đặc điểm hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ KTTT:
Quá trình hình thành các kiến thức mới diễn ra chậm chạp và không vững chắc.
Khó khăn trong quá trình phân biệt hóa. Đối với những trẻ bị chấn thương
não, khả năng làm việc của các tế bào thần kinh giảm sút, cho nên sau thời gian
làm việc ngắn các tế bào thần kinh rơi vào trạng thái ức chế, làm cho hoạt động trí
tuệ của các em giảm đi rõ rệt, quá trình học tập trở nên khó khăn. Những trẻ này
nếu được nghỉ ngơi hợp lý thì hoạt động học tập sẽ đạt kết quả tốt, trẻ sẽ trở nên

Thời gian tri giác chậm chạp: Trẻ KTTT thường tri giác các đối tượng chậm
hơn trẻ bình thường. Trong cùng một thời gian thì khối lượng thông tin các em thu
được ít hơn so với trẻ bình thường (chỉ bằng 40 so với trẻ bình thường). Tri giác
thị giác của trẻ cũng rất hạn chế, khả năng phân biệt bắt chước hình dạng kém.
Khả năng phân biệt hạn chế: Khi chúng ta đư trẻ KTTT một bức tranh yêu
cầu các em quan sát rồi kể lại những gì thây trong tranh. Nhiều trẻ gặp khó khăn
khi phân biệt hình dạng, màu sắc, kích thước đặc biệt là những vật có kích thước
giống nhau như: hình vuông, hình chữ nhật. Trẻ cũng khó nhận biết và phân biệt
được âm thanh.
Thiếu tích cực trong quá trình tri giác: Trong quá trình quan sát trẻ thường
có biểu hiện không muốn xem xét kỹ càng các chi tiết, không muốn hiểu rõ nội
dung cần tri giác mà chỉ muốn tri giác qua loa, hời hợt. Ngưỡng cảm giác của trẻ
có nhiều bất thường:
Phần lớn ngưỡng cảm giác của trẻ KTTT nhạy cảm hơn so với trẻ bình
thường, có nghĩa là ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía dưới của
trẻ thấp. Do đó độ nhạy cảm cao.
Một số trẻ KTTT không nhạy cảm hoặc quá nhạy cảm với các kích thích:
Trường hợp không nhiều thường có ở trẻ KTTT có kèm theo tự kỉ hoặc AD/ HD,
Rett… Trẻ rất thiếu hoặc quá nhạy cảm với âm thanh, ánh sáng cũng như các kích
thích khác.
8


Khó khăn trong quá trình tri giác không gian:
Khả năng bao quát các sự vật của trẻ KTTT han chế, trẻ khó có khả năn tri
giác cùng một lúc nhiều đối tượng mà chỉ có thể tri giác tập trung vào một đối
tượng.
- Tính bất thường trong tri giác: Đặc điểm này rơi vào một số trẻ KTTT kèm
tự kỷ và tăng động, giảm chú ý. Khi quan sát đối tượng, trẻ bình thường thì nhìn
tổng thể của nó, nhưng trẻ KTTT chỉ nhìn thấy chi tiết của đối tượng đó thôi.

các em có thể làm đúng. Nhưng sau một thời gian thi sai sót, trẻ chóng mệt mỏi và
không chú ý tới công việc.
Hiện tượng yếu vai trò điều chỉnh của tư duy: Thể hiện ở chỗ khi được giao
nhiệm vụ trẻ hăng hái làm ngay hoặc khi giáo viên đưa câu hỏi trẻ giơ tay xin trả
lời ngay lập tức, không suy nghĩ kỹ càng nghĩa là thiếu giai đoạn định hướng nên
kết quả bao giờ cũng có sai sót và phải làm đi làm lại nhiều lần. Những trẻ này ít
khi nhận ra sai lầm của bản thân.
1.1.2.5.Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ KTTT
Qua các nghiên cứu, các nhà tâm lý đã kết luận rằng ngôn ngữ của trẻ KTTT
chậm hơn so với trẻ bình thường khác cùng độ tuổi. Khi đến tuổi đến trường những
trẻ KTTT có vốn từ nghèo nanfhown, các em ít dùng các câu phức tạp, câu có liên từ
khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ để diễn tả ý kiến của bản thân và hay trả lời
cộc lốc. Trẻ KTTT thường không hiểu các từ có tính chất trừu tượng (ví dụ như các
từ mô tả phẩm chất của con người như: tốt bụng, dũng cảm, chân thật…). Trong
quá trình giao tiếp trẻ rất khó đáp ứng được những yêu cầu của người khác. Đặc biệt
là những yêu cầu nhiều nhiệm vụ, trẻ cũng kém phát triển hệ thống ngữ pháp.
Trẻ KTTT kém trong việc phân biệt âm thanh ngôn ngữ của những người
xung quanh, chậm nắm vững các từ mới và mệnh đề.
Công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học người Nga như R.Luria,
G.M.Đunhep…đã khẳng định rằng: Vốn từ của trẻ KTTT nghèo nàn hơn rất nhiều
so với trẻ bình thường cùng độ tuổi. Sự khác nhau giữa những từ tích cực và từ tiêu
cực chiếm đa số, từ tích cực rất hạn chế. Các em ít sử dụng tính từ, động từ và liên
10


từ. Hơn nũa vốn từ mà trẻ KTTT có được mất một thời gian dài để hoàn thiện được
ý nghĩa. Ở trẻ KTTT, quá trình chuyển từ tên riệng đến từ khái niệm được hoàn
thiện rất lâu và khó khăn nhiều hơn.
Hệ thống ngữ pháp ở trẻ KTTT cũng rất khó hoàn thiện. Những câu nói của
chúng thường rất đơn giản, ít sử dụng mệnh đề phụ và rất khó khăn trong việc lựa

những phương thức, hành động phù hợp trong giao tiếp.
1.1.2.7. Đặc điểm nhân cách của trẻ KTTT
Nhân cách của trẻ KTTT có cấu trúc khác nhau về căn bản so với trẻ bình
thường.
Các nghiên cứu của V.Stecner, P.Gutler, A.Adler và các nhà nghiên cứu
khác chỉ thấy có 3 đặc trưng trong nhân cách của trẻ KTTT: nhân cách phát triển
chậm, cảm giác thiếu hụt, xu hướng tích cực bù trừ.
Trong cấu trúc nhân cách của trẻ KTTT có mối quan hệ vừa tác động đến
nhau giữa các yếu tố vận động và các yếu tố trí tuệ. Các công trình nghiên cứu của
M.O.Gurevic, T.Geller và của nhiều nhà tâm lý học khác đã cho thấy có sự độc
lập tương đối vận động với chậm trí tuệ trong trẻ KTTT. Trong nhiều trường hợp
có sự kết hợp khác chỉ có trí tuệ bị chậm còn yếu tố vận động vẫn phát triển bình
thường. Mặt khác so với trí tuệ, các yếu tố vận động có khả năng bù trừ cao hơn.
Vì vậy điều có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động nghiên cứu và khắc phục sự
chậm trễ về trí tuệ của trẻ KTTT là việc tách yếu tố vận động, huấn luyện và phát
triển của nó đồng thời sử dụng nó như phương tiện bù trừ cho trí tuệ trẻ.
Trong trí tuệ của trẻ KTTT mức độ và nhịp độ chậm của các thành phần
không giống nhau. Trong các nghiên cứu của M.Pechecon, P.Pinche…. đã chỉ ra
hai dạng chậm trí tuệ: chậm hiểu và chậm hành động. Hai dạng này không nhất
thiết trùng nhau trong một trẻ. Nhiều thực nghiệm trên trẻ KTTT theo phương pháp
của Leler đối với trí tuệ thực hành của khỉ hình người, cho thấy phần trí tuệ thực
hành của trẻ KTTT thường ít bị ảnh hưởng so với trí tuệ ngôn ngữ. Do vậy, có thể
tập trung phát triển thành phần trí tuệ thực hành cho trẻ KTTT, trên cơ sở đó hình
thành các kỹ năng lao động, nghề nghiệp.
12


Trong trí tuệ của trẻ KTTT không có sự kết hợp giữa hai phương diện tự
nhiên và văn hóa. Với trẻ KTTT, các chức năng tâm lý tự nhiên còn ở dạng nguyên
thủy, đặc biệt là công cụ ngôn ngữ. Trẻ KTTT có vốn từ ít ỏi, đồng thời trẻ không

Theo từ điển Tiếng Việt (2002): Rèn luyện được hiểu là luyện tập nhiều
trong thực tế để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo.
1.2.5. Kỹ năng.
Theo từ điển Tiếng Việt (2002): Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được vào thực tế.
Theo nhà tâm lí học Nga K.K.Platonov: “Kỹ năng là khả năng của con người
thực hiện một hoạt động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở kinh nghiệm
cũ”.
Theo tác giả Đặng Thành Hưng (2000): Kỹ năng là một dạng hoạt động tự
giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện học sinh
– tâm lí khác của cá nhân (chủ thể có kỹ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí,
tính tích cực của cá nhân…để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định
hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định.
1.2.6. Số - số lƣợng
1.2.6.1. Số
Theo từ điển Tiếng Việt (2002): Số là khái niệm dùng làm cơ sở cho toán
nhờ đó dùng để đếm, ghi số thứ tự.
1.2.6.2. Số lượng
Theo từ điển Tiếng Việt (2002): Số lượng là phần nhiều hoặc phần ít của vật
gì mà người ta tính.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì “kỹ năng học số - số lượng” đươc
hiểu là khả năng vận dụng các kiến thức toán học về số vào thực tế trong việc nhận
biết, tính toán phần nhiều hoặc phần ít của các vật.
1.2.7. Lớp tiền tiểu học
1.2.7.1. Lớp.
Theo từ điển Tiếng Việt: Lớp là tập hợp người cùng một lứa tuổi hay cùng
chung những đặc trưng xã hội nào đó.
14




Tách một nhóm đối tượng thành hai nhóm nhỏ bằng các cách khác nhau.

-

Nhận biết ý nghĩa các con số được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày

(số nhà, số xe, số điện thoại…)
Trong chương trình toán lớp 1 sử dụng các bài:
-

Nhiều hơn, ít hơn

-

Các số 1, 2, 3

-

Các số 1, 2, 3, 4, 5

-

Số 6
15


-

Số 7

2.1.1.Vài nét về địa bàn khảo sát
Trung tâm Sao Biển chính là Trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo dục Đặc
biệt thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội thuộc quận Cầu Giấy Hà Nội. Trung
tâm được thành lập theo Quyết định số 28/QLKH - TCCB ngày 11 tháng 2 năm
1995 của Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội. Tiền thân của Trung tâm là Tổ chức
Giáo dục đặc biệt thuộc Bộ môn Tâm lý – Khoa Tâm lý giáo dục. Đây là trung tâm
giáo dục đặc biệt đầu tiên trong cả nước với chức năng, nhiệm vụ: đào tạo, bồi
dưỡng, nghiên cứu, tư vấn giáo dục đặc biệt và là một trung tâm can thiệp sớm cho
trẻ khuyết tật.
2.1.2.Quá trình khảo sát
Thời gian tiến hành: từ 25/8/2015 -25/9/2015
Địa điểm: Trung tâm Sao Biển –Trường ĐHSP Hà Nội
2.1.3. Phương pháp khảo sát
2.1.3.1.Phương pháp điều tra bằng phiếu
Mục đích: Qua điều tra bằng phiếu đối với các giáo viên trực tiếp dạy lớp
tiền tiểu học và các giáo viên can thiệp các nhân trẻ đang ở độ tuổi chuẩn bị đi học
lớp 1 nhằm nắm bắt thực trạng dạy số - số lượng.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Xây dựng phiếu
Bước 2: Phát phiếu điều tra cho 2 GV dạy lớp tiền tiểu học và 6 GV dạy cá
nhân có trẻ đang học số - số lượng để chuẩn bị đi học tiểu học tại TT Sao Biển.
Bước 3: Xử lí kết quả điều tra
Bước 4: Nhận xét và nêu nguyên nhân thực trạng.
17


2.1.3.2. Phương pháp quan sát
Mục đích: Tìm hiểu thực trạng dạy số - số lượng cho trẻ KTTT ở lớp tiền
tiểu học.
Cách tiến hành: dự giờ 5 tiết dạy số - số lượng cho trẻ KTTT ở lớp tiền tiểu

Nhìn vào bảng 1, 100% ý kiến cho rằng bài tập số - số lượng từ các nguồn
có sẵn chưa phù hợp với khả năng của trẻ và 100% ý kiến cho rằng nguồn bài tập
số - số lượng tự thiết kế cho trẻ KTTT phù hợp với khả năng tư duy và nhận thức
của trẻ.
Bảng 1: Đánh giá mức độ phù hợp với nguồn bài tập.
STT

1
2

Các nguồn
bài tập
Nguồn bài tập
có sẵn
Nguồn bài tập
tự thiết kế

Quá khó
SL
%

Mức độ
khó
Phù hợp
SL
%
SL
%

Dễ

100

0

0

Từ bảng trên cho thấy nguồn bài tập có sẵn là quá khó với trẻ KTTT. Do
vậy khi dạy số - số lượng người giáo viên cần xây dựng các bài tập phù hợp với
khả năng, trình độ của học sinh.
2.2.4. Thực trạng việc giáo viên thiết kế bài tập.
100% giáo viên cho rằng việc sử dụng bài tập tự thiết kế để dạy số - số
lượng cho trẻ KTTT là phù hợp và đem lại hiệu quả cao. Căn cứ vào các đặc điểm
nhận thức, tư duy, trí nhớ của trẻ KTTT là khả năng phân biệt kém, khả năng khái
quát hạn chế, tư duy trừu tượng kém so với tư duy hình ảnh…Nên việc thiết kế bài
tập cho trẻ KTTT nó đáp ứng được khả năng nhận thức, trình độ của học snh cũng
như phù hợp với dặc điểm của trẻ KTTT. Và các giáo viên đều cho rằng khi trẻ
làm các bài tập tự thiết kế do phù hợp với khả năng của trẻ nên trẻ sẽ dễ hiểu và
hoàn thành bài tốt hơn cũng như hứng thú, hào hứng hơn. Từ đó dễ dàng đánh giá
mức độ hieur bài của trẻ hơn.
19


2.2.5.Thực trạng vận dụng các hình thức dạy học số - số lượng cho trẻ
KTTT
Hình thức dạy học theo lớp là hình thức mà tại một thời điểm các học sinh
cùng làm một việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Việc dạy theo lớp được giáo
viên tổ chức khi cần thông báo, giải thích, tổng kết các ý kiến của học sinh, hướng
dẫn chung cả lớp thực hiện nhiệm vụ học tập tổ chức cả lớp trao đổi ý kiến. Qua
kết quả nghiên cứu ở bảng 2 cho thấy hình thức dạy học théo lớp là hình thức chủ
yếu (chiếm 75%). 25% chỉ thỉnh thoảng mới tổ chức dạy học theo lớp (12,5%)

8

Hoạt động ngoài
giờ lên lớp
Trò chơi
Kể chuyện
Phối hợp với các
môn khác

Thường xuyên
SL
%
6
75
4
50

Mức độ vận dụng
Thỉnh thoảng
Ít khi
Không bao giờ
SL
%
SL
%
SL
%
1
12,5
1


0
12,5

0

0

6

75

2

25

0

0

3
0
4

37,5
0
50

5
4

Đối với đặc trưng của môn Toán, các hình thức dạy học được các GV vận
dụng nhằm khắc phục lối truyền thụ 1 chiều từng bước áp dụng và đổi mới hình
thức dạy học truyền thống.
Tham quan trong dạy học số - số lượng cho trẻ KTTT cũng là hình thức có
nhiều tác dụng tích cực như gây hứng thú cho trẻ. Tuy nhiên thì 25% ý kiến cho
rằng thỉnh thoảng sử dụng hình thức này. 62,5% rất ít khi, 12,5% không bao giờ.
75% giáo viên thỉnh thoảng mới tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp và
25% rất ít khi tổ chức hoạt động này.
Nhận thức được tầm quan trọng của trò chơi trong việc dạy học nên 37,5% ý
kiến cho rằng cần phải thường xuyên tổ chức trò chơi vì thông qua trò chơi đơn vị
kiến thức mà trẻ cần nắm bắt sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn.
Hình thức kể chuyện chỉ có 75% giáo viên thỉnh thoảng thậm chí là rất ít khi
sử dụng, 25% ý kiến thức không bao giờ sử dụng.
50% ý kiến cho rằng cần phải kết hợp với các môn học khác một cách
thường xuyên.
2.2.6. Đánh giá mức độ vận dụng các phương pháp dạy học cho trẻ KTTT
học số - số lượng.
Trong dạy học số - số lượng cho trẻ KTTT thì việc vận dụng các phương
pháp dạy học là một trong những yếu tố quyết định chất lượng dạy học. Để đánh
giá mức độ vận dụng các phương pháp dạy học cho trẻ KTTT ở lớp tiền tiểu học
tại trung tâm Sao Biển chúng tôi đã hành khảo sát và kết quả thể hiện ở bảng 3.

21


Bảng 3: Mức độ vận dụng các phƣơng pháp dạy học số - số lƣợng.
Mức độ vận dụng
ST
T
1


SL
3

%
37,5

SL
1

%
12,5

Không bao
giờ
SL
%
0
0

7

87,5

1

12,5

0


0

0

0

0

8

100

0

0

0

0

0

0

Trong dạy học môn Toán nói chung cũng như dạy học số - số lượng phương
pháp dùng lời được giáo viên sử dụng khi giới thiệu bài mới hoặc hướng dẫn cách
làm bài tập toán. 50% ý kiến cho rằng nên thường xuyên vẫn dụng phương pháp
này vào dạy toán. 37,5% thỉnh thoảng mới sử dụng phương pháp này thậm chí có
12,5% rất ít khi sử dụng phương pháp này. Vận dụng phương pháp này trong dạy
học toán giúp học sinh củng cố, mở rộng vốn từ và phát triển khả năng diễn đạt của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status