TRẦM CẢM Ở BÀ MẸ CÓ CON SINH NON ĐANG NẰM VIỆN TẠI KHOA SƠ SINH – BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I - Pdf 40

TRẦM CẢM Ở BÀ MẸ CÓ CON SINH NON ĐANG NẰM VIỆN
TẠI KHOA SƠ SINH – BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I
Phạm Ngọc Thanh, Isabelle Santarelli, Phạm Thị Yến Trinh, Dương Tố Trân, Đơn vị
Tâm lý & Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Nhi Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: CN Phạm Thị Yến Trinh, ĐT: 0903312064, Email:

TÓM TẮT
Các bà mẹ có con nhập viện tại khoa Sơ sinh – bệnh viện Nhi Đồng I được giả thiết là bị
đau khổ nặng.
Mục tiêu: Xác định mức độ và tỷ lệ trầm cảm dựa trên thang lượng giá EPDS và các yếu
tố có thể liên quan đến trầm cảm của bà mẹ.
Phƣơng pháp: Nghiên cứu tiền cứu mô tả hàng loạt, nghiên cứu định lượng kết hợp với
định tính, các bà mẹ có con sinh non đang điều trị tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I
được chọn vào nhóm nghiên cứu từ tháng 12/2010 đến tháng 5/2011, đồng ý tham gia hợp
tác.
Kết quả: Điểm EPDS trung bình trong khảo sát 15,83 ± 5,785 (5 – 28). 29,2% bà mẹ có
EPDS

Mô tả các yếu tố liên quan đến trầm cảm của bà mẹ.

-

Xác định mức độ trầm cảm dựa trên thang lượng giá EPDS

-

Xác định tỷ lệ trầm cảm ở bà mẹ có con sinh non nằm viện.

ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Dân số chọn mẫu:
-

Các bà mẹ có con sinh non đang điều trị tại khoa Sơ Sinh từ tháng 12/2010 đến tháng

5/2011, đồng ý tham gia hợp tác.
Địa điểm nghiên cứu:
-

Khoa Sơ Sinh (lầu 2) bệnh viện Nhi Đồng I
3


Phương tiện thu thập dữ liệu và thời gian:
-

Các bà mẹ được liên lạc trong khoa Sơ Sinh của Bệnh viện Nhi Đồng 1, trong khoảng


Giải thích và làm phiếu thông tin thu thập từ hồ sơ bệnh án.

-

Tiếp xúc trực tiếp để thông báo và giải thích cho các bà mẹ hiểu về mục tiêu nghiên
cứu và giấy đề nghị hợp tác.

-

Thực hiện thang lượng giá trầm cảm: Edinburg Postpartum Depression Scale (EPDS)

-

Thực hiện phỏng vấn .
Cách thu thập số liệu:

-

Sau khi bà mẹ được giải thích và đồng ý tham gia nghiên cứu, thành viên của nhóm
nghiên cứu tại khoa Sơ sinh thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án của trẻ.

-

Phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt.

-

Cuộc phỏng vấn được tiến hành tại một phòng của khoa Sơ Sinh hoặc đơn vị Tâm lý,
thời gian cho một cuộc phỏng vấn 20 – 30 phút/ bà mẹ. (không ghi âm theo ý kiến của

-

Bảng câu hỏi: đã được soạn sẳn bao gồm về đặc tính dân số học của các bà mẹ, những
nghịch cảnh trước sinh, chất lượng sống, chất lượng và số lượng mạng lưới nâng đỡ xã
hội (nguồn lực, cấu trúc gia đình).
Xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn để giúp thực hiện phân tích định tính trầm cảm và
yêu cầu trợ giúp và hỗ trợ y tế / tâm lý.

-

Nội dung phỏng vấn (phụ lục 1, 2, 3)
3. Khái niệm và thuật ngữ

-

Trầm cảm (F32) : Theo bảng phân loại DSM-IV và ICD-10: trong các giai đoạn trầm
cảm điển hình nhẹ, trung bình, hoặc nặng bệnh nhân bị giảm khí sắc, giảm năng lượng
và giảm hoạt động. Khả năng thích thú, quan tâm và tập trung đều giảm sút và thường
mệt mỏi rõ rệt dù chỉ là một cố gắng rất nhỏ sau khi cố gắng dù là rất ít. Thường có rối
loạn giấc ngủ và ăn kém ngon miệng, sút cân và khả năng tình dục kém.Tính tự trọng
và sự tự tin hầu như luôn luôn giảm sút.

-

Phỏng vấn: Là một phương pháp thu thập thông tin bằng cách trưng cầu ý kiến thông
qua trò chuyện. Trong phỏng vấn lâm sàng, không chỉ quan tâm đến chất lượng nội

5




45,8% bà mẹ có thai ngoài ý muốn. 75% bà mẹ sinh con đầu lòng.

-

Tuổi thai trung bình 30,21± 2,721 (25 – 36).

-

Cân nặng lúc sinh trung bình 1525,62 ± 342,705 (1000 – 2400)

Đặc điểm
Tuổi của mẹ
Nơi ở
Số con
Trình độ
văn hóa của mẹ
Lần này
có thai
Nghề nghiệp

Dịch tể
< 20
20 - 30
> 30
Tỉnh
Thành phố
Con so
Con rạ
≤ cấp 2

2. Mô tả các dấu hiệu lâm sàng của bệnh lý trầm cảm.
-

Trong lúc tiếp xúc có 87,5% các bà mẹ đã khóc thật nhiều, họ luôn cảm thấy buồn và
không quan tâm đến những sự việc xung quanh, không còn cảm thấy thích thú đối với
những hoạt động mà trước kia ưa thích như xem phim, nghe nhạc…

-

Họ không muốn ăn, luôn cảm thấy mệt mỏi và cảm thấy bản thân vô giá trị hoặc có
mặc cảm tội lỗi. Họ cảm thấy bi quan về tương lai và có suy nghĩ đến cái chết.

-

100% bà mẹ có rối loạn giấc ngủ, luôn cảm thấy bồn chồn, lo âu, dễ tức giận.

-

Có 64.6% thiếu tự tin vào khả năng làm mẹ, không muốn chăm sóc con hay sợ mình
sẽ làm hại đứa bé. 70.8% bà mẹ có thay đổi tính khí.

Đặc điểm
Khóc

N = 48 (%)

42 (87,5)
không
6 (12,5)
Thiếu tự tin vào


50% có mối quan hệ xấu với chồng. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của tác giả
Glasser (Israel) và Johanson R (Anh) cho rằng sự không hòa hợp trong hôn nhân ở
sản phụ là một trong những yếu tố dự báo tốt nhất hay có liên quan chặt chẽ với sự
xuất hiện trầm cảm sau sinh(6).
7


-

87,5% bà mẹ quá lo lắng cho sức khỏe của con. Điều này cũng phù hợp với nhận xét
của tác giả Glasser (Israel) cho rằng các vấn đề sức khỏe kéo dài ở đứa con cũng là
một trong những yếu tố dự báo tốt nhất về sự xuất hiện của trầm cảm sau sinh hay
theo tác giả ManlKD (USA) thì mẹ dễ bị trầm cảm sau sinh nếu trẻ sơ sinh có >1 vấn
đề phải khám đa khoa hay phải nhập phòng cấp cứu dù chỉ 1 lần.(6)

-

45,8% bà mẹ không mong muốn có con, điều này cũng phù hợp với nhận định của tác
giả Neter E (USA) cho rằng những sản phụ cảm thấy hài lòng với lần sanh này thì sẽ ít
bị trầm cảm hơn hoặc với tác giả Như Ngọc (VN) cho rằng không mong đợi có liên
quan có ý nghĩa thống kê với trầm cảm sau sinh (6)

-

Có 70,8% bà mẹ thiếu sự nâng đỡ tâm lý. 75% bà mẹ có nhu cầu được trò chuyện tâm
sự trong đó 41.7% tâm sự riêng tư (nâng đỡ tâm lý cá nhân). 27,1% bà mẹ mong được
chia sẻ với những bà mẹ khác (nâng đỡ tâm lý nhóm). 6,2% bà mẹ mong được nâng
đỡ tâm lý cá nhân và nhóm.
4. Mức độ trầm cảm dựa trên thang lƣợng giá EPDS

một trẻ sinh non là sự đau khổ tâm lý rất lớn cho bà mẹ. Bà mẹ đau buồn và tự buộc tội
mình. Đặc biệt sự thiếu nâng đỡ xã hội, xung đột vợ chồng, gia đình và các biến cố gây
căng thẳng trong cuộc sống làm tăng có ý nghĩa sự trầm cảm sau sinh(4)
Trong khảo sát của chúng tôi 13 bà mẹ có tư tưởng tự tử chiếm 27,1 % ít hơn tỷ lệ
41,2% của Lâm Xuân Điền(6) nhưng là một thực trạng đáng được quan tâm hỗ trợ kịp
thời, nếu không được phát hiện và điều trị, trầm cảm ở bà mẹ sau sinh có thể làm tăng
nguy cơ bệnh tâm thần và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm thần và nhân cách của trẻ
trong tương lai.
KẾT LUẬN
Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới ước tính đến năm 2020, rối loạn ức chế tâm thần sẽ là
nguyên nhân đứng thứ hai trong gánh nặng về sức khỏe toàn cầu(9). Vì thế, chúng tôi nghĩ
rằng điều quan trọng là nhân viên y tế phát hiện các bà mẹ trầm cảm để giúp cho sự tương
tác mẹ - con tốt hơn. Với số điểm EPDS cao trong khảo sát này, chúng tôi mong muốn
các bà mẹ có con nằm ở phòng cấp cứu khoa sơ sinh được tầm soát về trầm cảm sau sinh
thường quy hơn. Đồng thời có sự chăm sóc thích hợp nhất cho các bà mẹ này về y tế và
tâm lý trong thời gian có con đang nằm điều trị trong bệnh viện, cũng như hướng dẫn tái
khám, theo dõi sau khi ra viện.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Phương Kiệt.( 2000). ―Những vấn đề tâm lý và văn hóa hiện đại.‖. Tâm lý sản
phụ sơ sinh và quan hệ sớm mẹ-con. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội: 236 238.
2. J. L. Cox, J. M. Holden, and R. Sagovsky (1987), ―Detection of postnatal depression:
development of the 10-item Edinburgh Postnatal Depression Scale,‖ British Journal of
Psychiatry, vol. 150, pp. 782–786.
3. Jason J et al. (1983), ―Homicide as a cause of pediatric mortality in the United‖,
Pediatric,72.

9


4. K. L. Wisner, B. L. Parry, and C. M. Piontek (2002), ―Postpartum depression,‖ The


13. Vũ Thị Chín.(1997) ―Bước đầu tìm hiều tâm lý sản phụ và quan hệ sớm mẹ con ở Việt
Nam ‖ ; 1997:4.12:221-341.
14. Vũ Dũng.(2008) ―Từ điển Tâm lý học‖ Viện khoa học xã hội Việt Nam- Viện tâm lý
học 619-620

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status