BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
------------------------o0o--------------------------
NGUYỄN TRỌNG LƯU
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS CÚM A/H5N6
TRÊN ĐÀN GIA CẦM VÀ ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP
REAL TIME - PCR TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LAN
HÀ NỘI, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: công trình khoa học này là của tôi, các số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn này trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và
hoàn thành luận án này đều được cảm ơn. Các thông tin trích dẫn trong luận án
đều chính xác và được nêu rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015.
Tác giả
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan....................................................................................................... i
Lời cảm ơn ........................................................................................................ iii
Mục lục ............................................................................................................. iv
Danh mục viết tắt .............................................................................................. vi
Danh mục bảng ................................................................................................ vii
Danh mục hình ................................................................................................ viii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
1.1.
Khái niệm bệnh cúm gia cầm .................................................................. 3
1.2
Tình hình bệnh cúm gia cầm trên thế giới ............................................... 3
1.2.1. Tình hình chung ...................................................................................... 3
1.3.
Tình hình cúm ở Việt Nam...................................................................... 6
1.3.1. Tình hình chung ...................................................................................... 6
1.3.2. Tình hình cúm H5N6 ở Việt Nam ......................................................... 11
1.4.
2.1.
Đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 35
2.2.
Địa điểm nghiên cứu ............................................................................ 35
2.3.
Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 35
2.4.
Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 35
2.4.1. Nguyên liệu ......................................................................................... 35
2.4.2. Các bước tiến hành phản ứng Real time – PCR .................................... 36
2.5.
Phương pháp xử lý số liệu .................................................................... 39
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 40
3.1.
Kết quả điều tra vị trí địa lý và tình hình buôn bán gia cầm tại 5 chợ
của tỉnh Lạng Sơn ................................................................................. 40
3.2.
Avian Influenza
cs
:
Cộng sự
CT
:
Cycle of threshold
DNA
:
Acid Deoxyribo Nucleic
GDP
:
Gross Domestic Product
GP
:
Neuraminidase
OIE
:
Office International des Epizooties
PB1
:
Polymerase basic protein 1
PB2
:
Polymerase basic protein 2
PBS
:
Phosphate Buffered Saline
PCR
:
Trang
Master mix cho lượng phản ứng là 15µl với Invitrogen Superscript
III platinum one-step qRT-PCR kit (No.11732-020) ................................. 38
3.1
Số lượng gia cầm buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm ..................41
3.2
Nguồn gốc gia cầm được buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn ............... 44
3.3
Kết quả tiêm vacxin cúm A/H5N1 tại một số huyện của tỉnh Lạng Sơn............45
3.4
Số lượng mẫu được thu thập tại các chợ tiến hành lấy mẫu lấy mẫu ..................48
3.5
Số lượng mẫu thu thập được theo 12 tháng tại 5 chợ nghiên cứu .............. 49
3.6
Số lượng mẫu thu thập được theo loài gà, vịt và ngan ............................... 50
3.7
Cấu trúc bên ngoài của virus cúm gia cầm ............................................ 14
1.2
Cấu trúc hệ gen của virus cúm type A ................................................... 17
1.3
Mô hình cơ chế xâm nhiễm và nhân lên virus cúm A ở tế bào chủ
(Beard, 1998). ....................................................................................... 24
1.4
Cơ chế hoạt động của Taqman probe .................................................... 33
3.1
Số lượng gia cầm buôn bán tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn qua 3 năm .......... 42
3.2
Kết quả tiêm phòng vacxin cúm gia cầm cho đàn gia cầm tại 3
huyện/TP có các chợ tiến hành lấy mẫu trong năm 2014 ....................... 47
3.3
Kết quả xác định virus cúm type A tại 5 chợ của tỉnh Lạng Sơn
theo 3 đối tượng là gà, vịt, ngan ............................................................ 51
3.4
Ngoài ra nhà nước còn chi hàng trăm tỷ đồng cho công tác chống dịch. Một số
vùng tuy không có dịch nhưng việc duy trì đàn gia cầm rất khó khăn, đặc biệt đối
với cơ sở chăn nuôi tập trung quy mô lớn do không tiêu thụ được gia cầm, sản
phẩm gia cầm. Dịch cúm đầu năm 2004 đã giảm 0,5% tăng trưởng GDP quốc
gia, tương đương trên ba nghìn tỷ đồng.
Năm 2014, virus cúm chủng H5N6 lần đầu tiên được phát hiện gây bệnh
trên gia cầm và gây chết người tại tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc. Tháng 8 năm
2014, Cục Thú y cũng lần đầu tiên phát hiện cúm A/H5N6 trên lãnh thổ Việt
Nam, cụ thể là trên đàn gà tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và trên đàn vịt
tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi phát hiện virus cúm A/H5N6 tại Lạng
Sơn và Hà Tĩnh, Cục Thú y cho biết, virus cúm A/H5N6 tiếp tục được phát hiện
ở các tỉnh khu vực miền Trung như: Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Nhận
thấy, virus cúm A/H5N6 có độc lực cao, có khả năng lây lan nhanh và nguy hiểm
khi có khả năng lây trực tiếp sang người, vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài:
1
“Nghiên cứu sự lưu hành virus cúm A/H5N6 trên đàn gia cầm và ứng dụng
phương pháp Real time - PCR trong chẩn đoán bệnh”
MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
-
Góp phần xác định sự lưu hành của virus cúm type A/H5N6 tại Lạng Sơn
-
Ứng dụng phương pháp Real time – PCR trong chẩn đoán bệnh
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Cúm gia cầm lần đầu được phát hiện ở Italia vào năm 1878 với tên gọi là
dịch hạch gà (Fowl plague) (Stubb et al., 1965) nhưng mãi tới năm 1901 mới xác
định được yếu tố gây bệnh là căn nguyên siêu nhỏ có khả năng qua màng lọc và tới
năm 1955 mới xác định được nguyên nhân chính xác nguyên nhân gây bệnh cúm
gia cầm là virus cúm type A thông qua kháng thể bề mặt A/H7N1 và A/H7N7 gây
chết nhiều ở gà và gà tây và các loại động vật khác (Beard et al., 1998).
Đã xuất hiện 8 đại dịch cúm trong thế kỷ XVII, 5 đại dịch trong thế kỷ
XX. Đại dịch cúm lần đầu tiên được xác nhận đã xảy ra vào những năm 1510 và
1580. Kể từ đó đến năm 2003, trên toàn thế giới có nhưng đợt dịch lớn như:
-
Năm 1918 – 1919, một đại dịch cúm đã nổ ra với mức độ trầm trọng đã
gây tử vong khoảng 20 – 40 triệu người trên toàn thế giới. Vào thời kỳ đó, chưa
3
có các phương pháp phòng thí nghiệm để giám định tác nhân gây bệnh. Các số
liệu có sức thuyết phục sau này cho thấy đại dịch này do virus cúm type
A/H1N1.
-
Cúm Châu Á – Asian Flu do virus cúm type A/H2N2 gây nên, bắt đầu từ
Hong Kong năm 1957.
-
Cúm Hong Kong – Hong Kong Flu do virus cúm type A/H3N2, xảy ra
năm 1968
quốc gia ở châu Âu như Nga, Hungari, Rumani, Anh cũng ghi nhận có các ổ dịch
trên gia cầm.
Năm 2008 có 16 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo phát hiện các ổ dịch
cúm bao gồm : Ukraina, Anh, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy Sĩ, Liên bang Nga, Isarel,
Pakistan, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, đặc khu kinh tế Hong kong,
Indonesia, Thái Lan, Việt Nam.
Dịch cúm gia cầm ngày càng lan rộng với diễn biến phức tạp. Năm 2009
dịch cúm gia cầm phát ra tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài thiệt hại về
kinh tế tính đến năm 2009 đã có 423 người nhiễm và 258 người tử vong
(Ivanlarrendelle, “ Cúm gia cầm”, bách khoa toàn thư Whikipedia)
Tám tháng đầu năm 2010, dịch cúm gia cầm phát ra trên 16 quốc gia và
vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam.
Trước tình hình đó cả thế giới liên kết lại đề ra nhiều biện pháp phòng
chống dịch cúm gia cầm, nhiều hội nghị tổ chức nhằm thảo luận và tìm ra biện
pháp kiểm soát dịch bệnh không riêng mỗi quốc gia mà là khu vực và toàn cầu.
Đáng chú ý khu vực Đông Nam Á do mật độ chăn nuôi gia cầm cao nên đây vẫn
đã, đang và sẽ là một điểm nóng về cúm gia cầm, trong đó những nước như Việt
Nam, Trung Quốc, Indonesia là các quốc gia có nguy cơ tái bùng phát dịch cúm
gia cầm cao.
Chủng virus cúm type A/H5N6 đã từng được phát hiện ở vịt trời và chim
hoang dã tại Thụy Điển, Đức, Mỹ và Đài Loan. Chủng virus này lần đầu được
phát hiện gây bệnh trên gia cầm vào tháng 4 năm 2014 tại Tứ Xuyên, Tây Nam,
Trung Quốc, cơ quan chức năng đã phải tiêu hủy 1.338 con gia cầm. Gà ở các
khu vực gần đó được giám sát chặt chẽ, song lực lượng chức năng cũng không
phát hiện thêm điều gì bất thường. Cũng tại đây, lần đầu tiên một người đàn ông
49 tuổi tử vong do mắc chủng virus cúm A/H5N6.
Vào tháng 7 năm 2014, tại tỉnh Luang Prabang, Lào cũng đã phát hiện các
mẫu gia cầm dương tính với virus cúm A/H5N6 nhưng không gây bệnh lâm sàng
cho người và gia cầm.
5
470.495, 825.689 vịt, ngan. Trong năm 2005, có 61 ca bị nhiễm virus cúm
A/H5N1 ở người, trong đó có 19 ca tử vong.
6
- Đợt 4: từ tháng 10/2005 đến 1/2006: dịch xảy ra ở cả 3 miền với 24 tỉnh,
thành tái phát. Tổng số gia cầm tiêu hủy là 3.972.763 con, trong đó gà:
1.338.523; thủy cầm và loài khác: 2.135.081.
- Đợt 5: bắt đầu kéo dài trong suốt năm 2007. Dịch không tập chung mà rải
rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và có thể chia nhiều đợt:
+ Từ 12/2006 đến thang 3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường của 33
quận, huyện thuộc 11 tỉnh, thành. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là
294.894 con (21.525 gà, 264.549 vịt và 8.775 ngan). Sau khi bị khống chế trong
vòng 1 tháng, đến tháng 10/2007, dịch lại tái phát ở 15 xã, phường của 9 huyện,
quận, thị trấn thuộc 6 tỉnh, thành phố.
+ Năm 2007 có 8 ca bị nhiễm virus cúm A/H5N1 ở người, trong đó có 5
người chết.
- Đợt 6: từ đầu năm 2008: xảy ra rải rác với 74 đàn gia cầm tại 57 xã,
phường của 40 huyện thị thuộc 21 tỉnh phát dịch. Tổng số gia cầm tiêu hủy là
60.090 con, trong đó có 23.498 gà, 36.592 thủy cầm. Năm 2008 có 6 ca mắc
H5N1 ở người và 5 trong số 6 ca tử vong.
- Năm 2009, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 68 xã, phường, thị trấn của 34
huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh, thành với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy
trên 127.000 con. Năm 2009 có 5 ca mắc H5N1 ở người bà tỷ lệ tử vong là 100%.
- Năm 2010, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở ít nhất 63 xã, phường của 37
huyện, quận thuộc 24 tỉnh, thành phố, làm hơn 76.000 con gia cầm mắc bệnh,
chết và buộc phải tiêu hủy, trong đó chủ yếu là vịt (chiếm hơn 70%). Trong năm
2010, có 7 ca mắc H5N1 ở người và có 2 ca tử vong
- Bệnh cúm gia cầm năm 2011
Trong năm 2011, thì diễn biến dịch bệnh cúm gia cầm ngày càng phức
Mau)… Cũng trong tháng 3 năm 2013, mặc dù tại tỉnh Đồng Tháp chưa xảy ra
dịch cúm A/H5N1, nhưng qua kiểm tra 72 mẫu xét nghiệm gia cầm tại các chợ
ở Đồng Tháp, nghành chức năng đã phát hiện 24 mẫu dương tính với virus
cúm A/H5N1, chiếm tỷ lệ 33,3%. Ngoài ra một trường hợp tử vong được xác
định do nhiễm virus cúm này là một cháu bé 4 tuổi. Tháng 4/2013, cơ quan
thú y vùng 6 đã phối hợp với chi cục thú y Ninh Thuận lấy mẫu chim yến chết
để xét nghiệm, kết quả cho thấy trong một số mẫu chim chết tại Ninh Thuận
có dương tính với virus cúm A/H5N1.
8
- Bệnh cúm gia cầm năm 2014
Đến ngày 4 tháng 3 năm 2014 cả nước còn 63 ổ dịch cúm gia cầm tại
22 tỉnh, toàn bộ số gia cầm trong đàn mắc bệnh đã được địa phương tiêu hủy.
Qua phân tích cho thấy trong năm 2014, virus cúm A/H5N1 nhánh 1.1 đã
được phát hiện tại ổ dịch trên gà tại Long An, Kiên Giang và Cà Mau, hầu hết
các ổ dịch trên gia cầm (gà, vịt, ngan) tại các tỉnh khác do virus cúm H5N1
nhánh 2.3.2.1C. Từ 2/4 đến 15/4/2014, 5 tỉnh cuối cùng có ổ dịch bao gồm
Khánh Hòa, Vĩnh Long, Hà Giang, Bình Thuận và Bến Tre các địa phương
này đã công bố hết dịch.
Các ổ dịch xảy ra chủ yếu trên đàn gia cầm nuôi tại các hộ gia đình và
được chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn thú y phát hiện và xử lý kịp
thời nên chưa có hiện tượng lây lan rộng. Trung bình mỗi tỉnh có 3 ổ dịch xảy ra
tại 2 huyện. Riêng các tỉnh Khánh Hòa và Lào Cai có số lượng lớn gia cầm mắc
bệnh phải tiêu hủy trên 10.000 con/tỉnh.
Cuối tháng 4/2014 phát hiện ổ dịch H5N6 trên 1 đàn gà tại huyện
Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Tháng 6/2014 xuất hiện ổ dịch H5N6 tại huyện
Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh trên 1 đàn vịt 1.900 con. Huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào
Cai có báo cáo ngày 15/8/2014 phát hiện 1 đàn chim trĩ 558 con, đã nuôi
được hơn 2 năm, chết rải rác 498 con. Chi cục thú y Lào Cai đã tiến hành tiêu
hộ chăn nuôi thuộc thôn 2, xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia làm 353 con gia cầm
mắc bệnh (250 con vịt, 103 con gà). Toàn bộ đàn gia cầm mắc bệnh tại 02 hộ
chăn nuôi trên và gia cầm của 14 hộ xung quanh (670 con) đã được tiêu hủy.
Ngày 02/4/2015 đã phát hiện 01 ổ dịch cúm gia cầm H5N6 tại 01 hộ thuộc
thôn Dinh, xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp Nghệ An. Từ 02-04/4 toàn bộ đàn
gia cầm mắc bệnh và một số đàn gia cầm có liên quan (tổng cộng 318 con) đã bị
tiêu hủy
Ngày 05/4/2015 đã phát hiện 01 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 tại 01 hộ thuộc
thôn Nhơn Phú, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Tổng
đàn gồm 900 con gà, trong đó số gà mắc bệnh là 650 con, số chết là 399 con.
Ngày 08/4/2015 toàn bộ đàn gà mắc bệnh đã được tiêu hủy
Ngày 25/4/2015 đã phát hiện 01 ổ dịch cúm gia cầm H5N6 tại 01 hộ thuộc
thôn Phù Đê, xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Tổng đàn gia cầm
1.606 con, tổng số gia cầm chết và tiêu hủy từ ngày 15/4-25/4/2015 là 1.606 con
10
(bao gồm 1458 con vịt, 96 con gà và 25 con ngỗng). Đến nay chưa xuất hiện
thêm ổ dịch mới nào
().
1.3.2. Tình hình cúm H5N6 ở Việt Nam
Cục Thú y Việt Nam đã chính thức báo cáo tới Tổ chức Thú y thế giới
(OIE) về việc lần đầu tiên phát hiện chủng virus cúm gia cầm H5N6 tại 2 tỉnh Hà
Tĩnh và Lạng Sơn. Cụ thể, virus cúm A/H5N6 được phát hiện trên đàn gà 10
tháng tuổi ở thôn Kéo, xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Virus này
cũng được phát hiện trên đàn vịt 1.900 con tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Ðó
là lần đầu tiên Việt Nam tìm ra sự hiện diện của virus H5N6 trên lãnh thổ của
mình. Sau khi tiến hành xét nghiệm, giải trình tự gen các mẫu virus cúm ở đây
cho thấy, có sự tương đồng tới 99% với chủng virus H5N6 lây sang người và làm
một người tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc thiệt mạng hồi tháng 4 năm nay.
Từ ngày 12 đến ngày 15/4, bắt đầu có hiện tượng gia cầm chết rải rác, số lượng
ngày một tăng lên. Ngay sau khi nhận được tin báo từ phía gia đình ông Thản
vào ngày 15/4, Chi cục Thú y cùng phòng Nông nghiệp huyện Kim Bảng đã
về kiểm tra tại gia đình ông Thản. Tại thời điểm kiểm tra, đã có thêm 301 con
gia cầm bị chết trong chuồng, tiêu hủy khoảng 1600 con. Trước tình hình đó,
Chi cục Thú y tỉnh Hà Nam đã lấy mẫu bệnh phẩm và hướng dẫn gia đình tiêu
hủy số gia cầm chết, đồng thời phun khử trùng tiêu độc khu vực chuồng trại
chăn nuôi tại gia đình ông Thản. Tuy nhiên, các mẫu bệnh phẩm gửi đi xét
nghiệm đều âm tính với virus H5N1. Nhưng hiện tượng gia cầm chết vẫn diễn
ra, trong các ngày 17 và 22/4, Chi cục Thú y đã mời Giám đốc thú y vùng,
Giám đốc cơ quan chẩn đoán thú y Trung ương về khám và lấy mẫu bệnh
phẩm tiếp tục xét nghiệm. Ngày 25-4 kết quả xét nghiệm dương tính với virus
cúm gia cầm H5N6.
Ngày 12/3, Chi cục Thú y tỉnh Thanh Hóa phát hiện ổ dịch cúm gia cầm
tại hộ gia đình ông Lê Đăng Nhất (ở thôn 2, xã Hải Lĩnh). Chi cục Thú y đã lấy
mẫu đi xét nghiệm tại Cơ quan Thú y vùng 3. Theo đó, mẫu bệnh phẩm trên
dương tính với virus cúm A/H5N6. Hiện đã tiêu hủy 1.023 con gia cầm (gà, vịt)
của 15 hộ xung quanh nơi phát hiện ổ dịch.
Cuối tháng 3/2015, đã xuất hiện ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 ở gia đình
vợ chồng anh Trần Kim Chung và chị Lã Thị Thủy tại xã Nghĩa Xuân (huyện
12
miền núi Quỳ Hợp, Nghệ An). Chi cục Thú y tỉnh Nghệ An cùng lực lượng chức
năng huyện Quỳ Hợp tiêu hủy hơn 300 con gà. Ngày 28-3, anh Chung bị cảm,
sốt cao. Hai ngày sau, vợ của anh Chung là chị Thủy cũng bị ho, cảm, sốt cao.
Người thân anh Chung nghi ngờ vợ chồng anh bị nhiễm cúm gia cầm nên đã đưa
hai vợ chồng ra Hà Nội cấp cứu, điều trị. Tuy nhiên, Bệnh viện Nhiệt đới Trung
ương (Hà Nội) xét nghiệm cho thấy, vợ chồng anh Chung chỉ bị cúm thông
thường, âm tính với cúm gia cầm A/H5N6.
Vỏ virus có chức năng bao bọc và bảo vệ vật chất di truyền RNA của
virus, bản chất cấu tạo là màng lipit kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm
được đặc hiệu hóa gắn vào các protein màng của virus. Trên bề mặt có khoảng
500 “gai mấu” nhô ra và phân bố dày đặc, mỗi gai mấu dài khoảng 10 – 14 nm
có đường glycoprotein gồm: HA, NA, MA (matrix) và các dấu ấn khác của virus
(Bender et al., 1999; Zhao et al., 2008). Có sự phân bố không đồng đều giữa các
phân tử NA và HA (tỷ lệ khoảng 1NA/4HA), đây là 2 loại protein kháng nguyên
có vai trò quan trọng trong quá trình xâm nhiễm của virus ở tế bào cảm nhiễm
(Murphy and Webster, 1996; Uiprasertkul et al., 2007).
Hệ gen của virus cúm A là RNA sợi đơn âm (viêt tắt là (-) ssRNA), gồm 8
phân đoạn riêng biệt (HA, NA, M, NS, NP, PA, PB1 và PB2) nối với nhau thành 1
sợi duy nhất bên trong vỏ capsid, mã hóa cho 11 protein tương ứng của virus, trong
đó phân đoạn M mã hóa cho 2 protein là M1 và M2; phân đoạn NS mã hóa cho 2
protein là NS và NEP; phân đoạn PB1 mã hóa cho 2 protein là PB1 và PB1-F2 (Ito
et al., 1998; Conenello et al., 2007).
-
Phân đoạn 1 (gen PB2) có kích thước 2431 bp, mã hóa tổng hợp protein
enzyme PB2, là tiểu đơn vị thành phần trong phức hợp enzyme polymerasa của
virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus. Protein PB2 có khối
lượng phân tử theo tính tán khoảng 84.103 Da (trên thực tế là 87,103 Da)
14
(Murphy and Webster, 1996). Tính thích nghi nhiệt độ cơ thể loài vật chủ được
cho là có liên quan đến vị trí amino acid 627 ở protein PB2 (ở virus cúm gia cầm
vị trí này là Glu - thích ứng nhiệt độ cơ thể gia cầm khoảng 400C, còn ở virus
thích nghi trên người là Lys - thích ứng nhiệt độ cơ thể người khoảng 370C)
(Subbarao et al., 1998; Wang et al., 2009).
HA2 là 29.103 Da) (Keawcharoen et al., 2005; Luong and Palese, 1992).
- Phân đoạn 6 (gen NA), là một gen kháng nguyên của virus, có chiều dài
thay đổi theo từng chủng virus cúm A (ở A/H6N2 là 1413 bp, ở A/H5N1 thay đổi
khoảng từ 1350 – 1410 bp) (Lê Thanh Hòa, 2004). Đây là gen mã hóa tổng hợp
15
protein NA - kháng nguyên bề mặt capsid của virus, có khối lượng phân tử
khoảng 50.103 Da
Các phân đoạn gen M, NP, NS mã hóa tổng hợp các protein chức năng khác
nhau của virus, có độ dài tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A, bao gồm:
-
Phân đoạn 5 (gen NP) kích thước khoảng 1556 bp, mã hóa tổng hợp
nucleoprotein (NP) - thành phần của phức hệ phiên mã, chịu trách nhiệm vận
chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế bào chủ.
-
Phân đoạn 7 (gen M) có kích thước 1027 bp, mã hóa cho protein đệm
(matrix protein - M) của virus. Có khoảng 3000 phân tử MP trên bề mặt
capsid của virus. Protein M1 là protein nền, là thành phần chính của virus có
chức năng bao bọc RNA tạo nên phức hợp RNP và tham gia vào quá trình "
nảy chồi" của virus (Luong and Palese, 1993; Murphy and Webster, 1996;
Basler, 2007). Protein M2 là chuỗi polypeptide bé, có khối lượng phân tử theo
tính toán là 11.103 Da, là protein chuyển màng – kênh ion (ion channel) cần
thiết cho khả năng lây nhiễm của virus, chịu trách nhiệm “cởi áo” virus trình
diện hệ gen ở bào tương tế bào chủ trong quá trình xâm nhiễm trên vật chủ
(Scholtissek et al., 2002).
ứng lây nhiễm gây bệnh ở người liên quan đến các đại dịch cúm lịch sử (Murphy
and Webster, 1996). Có khoảng 400 phân tử HA trên bề mặt capsid của một
virus, có vai trò quan trọng trong quá trình nhận diện virus và khởi động quá
trình xâm nhiễm của virus vào tế bào chủ (Bender et al., 1999; Wagner et al.,
2002). Phân tử HA có dạng hình trụ, dài khoảng 130 angstron (Å), cấu tạo gồm 3
đơn phân (trimer), mỗi đơn phân (monomer) được tạo thành từ 2 tiểu đơn vị HA1
(36 kDa) và HA2 (27 kDa), liên kết với nhau bởi các cầu nối disulfide (-S-S-).
17