SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI
TRƯỜNG THPT LÊ HOÀN
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
ĐỀ TÀI: DẠY HỌC CHỦ ĐỀ DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI THUỘC
CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC VÀ TRẢI NGHIỆM
(áp dụng tại trường THPT Lê Hoàn)
NGƯỜI THỰC HIỆN: HỒ VĂN QUANG
CHỨC VỤ:
Năm học 2015 -2016
TỔ TRƯỞNG
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Cùng với sự đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục, đổi mới về cách dạy, cách
học, đổi mới trong tư duy, dạy học hướng tới phát triển năng lực người học. Dạy
như thế nào để học sinh có thể vận dụng được kiến thức vào cuộc sống.
Ứng dụng và sử dụng có hiệu quả những thiết bị hiện có ở phòng thực hành
cũng như sử dụng những linh kiện mà ở gia đình học sinh hiện có để thực hành và
vận dụng kiến thức học được vào tình huống thực tiễn. Dựa vào những hoạt động
trải nghiệm mà học sinh khắc sâu hơn, hiểu rõ hơn về mạch điện, phân biệt được
các mạch điện không những trên lý thuyết mà còn nhìn ra những cách mắc điện,
cũng như giải thích được các hiện tượng liên quan đến độ sáng của các bóng đèn
trên lý thuyết và thực tế.
Giải pháp tôi lựa chọn kết hợp giữa học lý thuyết cơ bản ở trên lớp với vận
mạch điện đó trên lý thuyết, khi vận dụng vào thực tế còn nhiều lúng túng và thậm
chí còn không hiểu tại sao lại như vậy, để tăng hiệu quả của sự tiếp thu các kiến
thức khoa học và tin tưởng vào kiến thức học được tôi đã kết hợp giữa học lý
thuyết với các hoạt động trải nghiệm trên thực tế, tạo một tinh thần tốt nhất cho
hoạt động học tập của học sinh.
Tại trường THPT Lê Hoàn, giáo viên đa số dạy theo hướng phát huy năng
lực học sinh nhưng chủ yếu bám vào sách giáo khoa và những kiến thức học sinh
thu thập được cũng chỉ mang tính lý thuyết, phần lớn giáo viên chưa mạnh dạn cho
học sinh thực hành.
Qua việc thăm lớp, dự giờ khảo sát trước tác động, tôi thấy giáo viên chỉ sử
dụng các hình ảnh để phân tích về đoạn mạch nối tiếp và đoạn mạch song song ,các
giáo viên đã cố gắng đưa ra những câu hỏi gợi mở, tổ chức các hoạt động học tập
theo nhóm, hoạt động tự nghiên cứu của học sinh. Nhưng kết quả học sinh cũng chỉ
nhận biết và phân tích được các mạch điện đơn giản còn các mạch điện có trật tự
sắp xếp các linh kiện hơi khác một chút hoặc yêu cầu phân tích mạch điện trong
phòng học thì học sinh lại không làm được, từ đó có thể nhận thấy kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tế của học sinh là chưa cao.
Để thay đổi hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu này đã sử dụng một số tiết
hoặc một phần của tiết học vào việc vận dụng ngay kiến thức đã học vào thực tế
hoặc làm thực nghiệm để xây dựng lý thuyết và coi đó là nguồn dẫn đến kiến thức.
Giải pháp thay thế: Chuyển một số tiết học trên lớp sang phòng thực
hành,tận dụng tối đa các thiết bị ở phòng thực hành để đo, tính toán và xây dựng lý
thuyết cũng như để giải thích một số tính chất của mạch điện hoặc yêu cầu các
nhóm học sinh chuẩn bị một số linh kiện, vật chất để nối mạch điện, ... Giáo viên
yêu cầu học sinh nối các bóng đèn theo kiểu nối tiếp, song song và hỗn hợp sau đó
để các bóng đèn không đúng trật tự và yêu cầu học sinh xác định lại tính chất đoạn
mạch và so sánh với hình vẽ trên lý thuyết, dự đoán độ sáng của các bóng đèn
giống nhau trong các mạch điện kiểm chứng lại trên thực tế khi nối vào nguồn điện
hai lớp có những điểm tương đồng để nghiên cứu.
Lớp 11B6 làm lớp thực nghiệm
Lớp 11B3 làm lớp đối chứng
Lý do tôi chọn lớp 11B6 làm lớp thực nghiệm là vì lớp học gần phòng thực
hành hơn nên thuận lợi cho việc di chuyển và ít làm ảnh hưởng đến lớp khác trong
trường.
* Học sinh:
Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về
tỉ lệ giới tính, dân tộc. Cụ thể như sau:
Bảng 1. Giới tính và thành phần dân tộc của HS lớp 11B3 và 11B6 trường
THPT Lê Hoàn.
Số HS các nhóm
Dân tộc
Tổng số
Nam
Nữ
Kinh
Jarai
Tày
Lớp 11B3
40
chứng. Tôi dùng bài kiểm tra kết thúc chương I môn Vật lí lớp 11 làm bài kiểm tra
trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai lớp có sự khác
nhau, do đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch
giữa điểm số trung bình của 2 lớp trước khi tác động.
Kết quả:
Bảng 2. Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Đối chứng
Thực nghiệm
5,85
5,79
TBC
p=
0,861
p = 0,861 > 0,05; từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm TN
và ĐC là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương
đương (được mô tả ở bảng 2):
Bảng 3. Thiết kế nghiên cứu
Nhóm
Kiểm tra trước TĐ
trường theo kế hoạch được phê duyệt từ đầu năm, quy trình chuẩn bị bài như bình
thường.
- Đối với lớp thực nghiệm: Thiết kế kế hoạch học có bổ sung các hoạt động thực
hành và trải nghiệm cho từng tiết dạy và một phần của tiết dạy, có tiết dành riêng
để làm việc ở phòng thực hành, yêu cầu học sinh thực hiện thêm ở nhà, phân tích
các mạch điện cụ thể trong thực tế.
* Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà
trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan. Cụ thể:
Bảng 4. Thời gian thực nghiệm
Thời gian
Môn/
Tiết theo
Lớp
PPCT
07/10/2015 Vật lí/
11B6
Tên bài dạy
Nội dung trải nghiệm
Nội dung Dòng điện không Yêu cầu học sinh chuẩn bị
1
thành các bộ nguồn nối
tiếp, song song. Dùng đồng
hồ vạn năng đo suất điện
động, điện trở trong của các
bộ.
28/10/2015 Vật lí/
11B6
Nội dung Phương
5
pháp- Khảo sát các mạch điện nối
giải bài toán về tiếp, song song trong thực
mạch điện
14/11/2015 Vật lí/
11B6
Nội dung Xác
6
tế.
định suất Học cách đo suất điện
điện
câu 4
câu 7
câu 8
lớp đối chứng 11B3
1(2,5%)
13(32,5%) 13 (32,5%) 4 (10%)
lớp thực nghiệm 11B6
35 (83,3%)
31(73,8%) 27 (64,3%)
12 (28,6%)
Bảng 6. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Đối chứng
Thực nghiệm
ĐTB
5,25
6,14
thuộc chương trình vật lý lớp 11
Lớp đối
chứng
theo hướng vừa học lý thuyết và
Lớp thực nghiệm
kết hợp với các hoạt động thực
hành vận dụng vào thực tế sẽ
nâng cao kết quả học tập chương
dòng điện không đổi” đã được
kiểm chứng.
Hình 1. Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động
của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
BÀN LUẬN
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là TBC = 6,14;
kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là TBC = 5,25. Độ chênh lệch
điểm số giữa hai nhóm là 0,89; Điều đó cho thấy điểm TBC của hai lớp đối chứng
và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm TBC cao hơn
lớp đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,78. Điều
này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Phép kiểm chứng T-test ĐTB sau tác động của hai lớp là p=0.00061< 0.001.
Kết quả này khẳng định sự chênh lệch ĐTB của hai nhóm không phải là do ngẫu
nhiên mà là do tác động.
* Hạn chế:
Hồ Văn Quang