MỤC LỤC
PHẦN I - MỞ ĐẦU
3
1. Lí do chọn đề tài
3
2. Mục tiêu nghiên cứu
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5
4. Phương pháp nghiên cứu
5
PHẦN II - NỘI DUNG
Chương I. Khái quát chung bản đồ giáo khoa và kĩ năng bản đồ
7
7
1. Khái niệm bản đồ
7
15
lí cho học sinh lớp 10
1. Vận dụng rèn luyện kĩ năng bản đồ trong chương trình sách
15
giáo khoa Địa lí lớp 10
2. Vận dụng rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ trong chương trình
29
Địa lí lớp 10 dành cho học sinh dự thi học sinh giỏi Địa lí các cấp.
1
PHẦN III - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
40
PHỤ LỤC
44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
46
PHẦN I- MỞ ĐẦU
2
phương pháp dạy học tích cực của người giáo viên. Quá trình giảng dạy nhận
thấy rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác các bản đồ Địa lí vừa trang bị
kiến thức và kĩ năng, vừa rèn luyện cho các em phương pháp học tập thích
hợp với đặc tính bộ môn, ít tốn thời gian và có điều kiện để phát triển tư duy
nữa. Kĩ năng bản đồ được coi là một trong những kĩ năng quan trọng hàng đầu
trong học tập Địa lí, đặc biệt đối với học sinh lớp 10, vì bên cạnh mục đích
giúp các em học tập, rèn luyện các kĩ năng Địa lí tại lớp; thì một số học sinh
học giỏi môn Địa, có khả năng dự thi học sinh giỏi Địa lí các cấp. Mặt khác,
rèn luyện kĩ năng bản đồ sẽ tạo nền tảng để học sinh có thể sử dụng thành
thạo, khai thác hiệu quả tri thức Địa lí trong bản đồ, Atlat địa lí trong các năm
học kế tiếp. Do vậy, với sáng kiến kinh nghiệm năm học mới 2015- 2016, tôi
xin chọn đề tài “Rèn luyện học sinh kĩ năng bản đồ sách giáo khoa nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí lớp 10” để nghiên cứu và hoàn thành, nhằm
đóng góp một số ý kiến về phương pháp, kĩ năng sử dụng bản đồ sách giáo
khoa mà bản thân đã rèn luyện cho học sinh trong những năm học vừa qua
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí lớp 10, đồng thời mở rộng phạm vi và
đối tượng nghiên cứu của đề tài đã thực hiện trong năm học 2014- 2015 “Rèn
luyện học sinh kĩ năng bản đồ sách giáo khoa nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học Địa lí lớp 12”.
Quá trình rèn luyện và hình thành cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ
sách giáo khoa đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong dạy học Địa lí lớp
10, góp phần tạo tâm thế tự tin cho học sinh ở đội tuyển dự các kì thi học sinh
giỏi Địa lí các cấp đạt kết quả cao và nền tảng để học tập tốt môn Địa lí ở
những năm học tiếp theo.Từ đó tạo niềm yêu thích cho người học người dạy,
góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
4
+ Trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn về đề tài
nghiên cứu.
- Phương pháp thực nghiệm thông qua hoạt động dạy học trên lớp trong
những năm qua.
PHẦN II- NỘI DUNG
6
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG BẢN ĐỒ SÁCH GIÁO KHOA
VÀ KĨ NĂNG BẢN ĐỒ
1. Khái niệm bản đồ
Bản đồ là hình ảnh thu nhỏ một phần hay toàn bộ bề mặt Trái Đất lên mặt
phẳng, trên cơ sở toán học nhất định nhằm thể hiện các đối tượng địa lí tự
nhiên, kinh tế- xã hội và mối quan hệ giữa chúng; thông qua khái quát hóa nội
dung và được trình bày bằng hệ thống kí hiệu bản đồ.
2. Vai trò của bản đồ trong học tập
Bản đồ là một phương tiện để học sinh học tập và rèn luyện các kĩ năng địa
lí tại lớp, ở nhà và trả lời các câu hỏi kiểm tra về địa lí.
Ví dụ: Thông qua bản đồ có thể xác định được vị trí địa lí một điểm nào đó
trên mặt đất (tọa độ địa lí), ở đới khí hậu nào, chiụ ảnh hưởng của biển như
thế nào, liên hệ với các trung tâm kinh tế- xã hội ra sao…
Qua bản đồ biết được hình dạng và quy mô của châu lục này so với châu
lục khác; biết được sự phân bố của các dãy núi và độ cao của chúng, biết được
chiều dài của một con sông, phạm vi lưu vực sông… cũng như sự phân bố dân
cư, phân bố các trung tâm công nghiệp…
3. Phân loại bản đồ sách giáo khoa
Theo phân loại bản đồ sách giáo khoa đặc biệt ở chương trình Địa lí lớp
10, bản đồ sách giáo khoa được chia làm hai nhóm cơ bản: Bản đồ địa lí tự
nhiên đại cương gồm các nội dung như Trái Đất trong hệ Mặt Trời, Bản đồ,
hướng Đông, đầu bên trái cuả vĩ tuyến chỉ hướng Tây.
+ Đối với những bản đồ không vẽ kinh, vĩ tuyến thì chúng ta cần dựa vào mũi
tên chỉ hướng Bắc để xác định hướng Bắc, từ đó xác định các hướng còn lại.
- Xác định vĩ độ, kinh độ, vị trí các đối tượng địa lí trên lãnh thổ.
- Hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố địa lí trong bản đồ, Atlat.
8
Đọc bản đồ không phải là đọc từng dấu hiệu riêng lẻ của bản đồ như: Đây
là núi gì, sông nào?… mà cần phải đọc được mối quan hệ giữa các dấu hiệu
(đối tượng điạ lí) ở bản đồ.
Ví dụ: Đọc một con sông ở bản đồ địa hình, chúng ta phải thấy được mối
qua hệ giữa hướng chảy, độ dốc, đặc điểm của lòng sông với địa hình ở đó
như thế nào? Nói cách khác là phải biết dựa vào địa hình để giải thích: hướng
chảy, độ dốc,… của dòng sông.
Khi đọc bản đồ ở Atlat, giải thích một sự vật hoặc một hiện tượng Địa lí
nào đó, chúng ta cần phải tìm hiểu các bản đồ có nội dung liên quan như: Để
giải thích tình hình phân bố mưa của một khu vực, ngoài bản đồ khí hậu ta cần
tìm hiểu thêm bản đồ địa hình có liên quan đến khu vực đó; hoặc để giải thích
sự phân bố một số trung tâm công nghiệp thực phẩm, chúng ta cần tìm hiểu
các bản đồ nông nghiệp và ngư nghiệp,… Ngoài ra, khi cần tìm hiểu đặc
điểm, bản chất của một đối tượng địa lí ở một khu vực nào đó, chúng ta cần so
sánh với bản đồ cùng loại của khu vực khác.
* Một số lưu ý khi sử dụng khai thác bản đồ, Atlat:
- Thông thường khi phân tích hoặc đánh giá một số đối tượng địa lí hoặc giải
thích một hiện tượng địa lí, học sinh cần tái hiện vốn kiến thức đã có của bản
thân vào việc đọc bản đồ, Atlat. Ví dụ tìm hiểu về nguyên nhân vì sao Nhật
Bản là một quốc gia thường xuyên xảy ra thiên tai động đất, núi lửa và sóng
thần. Để trả lời câu hỏi này, học sinh có thể tái hiện định hướng khai thác trên
1. Phương pháp sử dụng để rèn luyện kĩ năng bản đồ cho học sinh
Nhiều năm trước đây, các bản đồ trong sách giáo khoa ít được chú ý sử
dụng trong dạy học, nhiều người cho rằng những bản đồ này chỉ có tính chất
minh hoạ cho bài học. Thật ra, bản đồ trong sách giáo khoa không phải chỉ có
nhiệm vụ và chức năng đơn giản như vậy. Trong mỗi quyển sách, mỗi bài học
có kênh chữ và kênh hình; cũng có khi hình có tác dụng minh hoạ cho phần
chữ, nhưng cũng có khi hình bổ sung nội dung mà chữ không thể trình bày hết
được.
Bản đồ tự nhiên không những có mối quan hệ với phần nội dung kiến
thức về điều kiện tự nhiên mà còn quan hệ với những bản đồ trong toàn bộ bài
học (bản đồ phân bố dân cư, bản đồ kinh tế nông nghiệp, bản đồ kinh tế công
nghiệp,…).
Nếu giáo viên sử dụng phương pháp diễn giảng, hỏi đáp và dùng bản đồ
như một hình ảnh để minh hoạ lại sẽ đưa đến vấn đề: học sinh không biết cách
đọc những thông tin trên bản đồ và xác định các đối tượng địa lý phân bố trên
bản đồ thậm chí có những học sinh không nhìn lên bản đồ và xem bản đồ là
một “hình ảnh chết”, các em cố gắng học thuộc và ghi nhớ lại vị trí các đối
Địa lí. Điều đó không những không rèn được kĩ năng bản đồ mà còn dẫn đến
tình trạng “học vẹt”.
Những năm học vừa qua, nhờ đổi mới nội dung sách giáo khoa địa lí 10,
bản đồ được bổ sung rất nhiều và màu sắc bản đồ trực quan, sinh động hơn.
Bằng phương pháp cho học sinh nghiên cứu bản đồ, thảo luận và trình bày
trên bản đồ, từ đó lí giải các hiện tượng Địa lí bằng hiểu biết của các em đã
góp phần bổ sung một lượng kiến thức phong phú, đồng thời phát huy được
11
tính chủ động, tìm tòi và tư duy trong học tập của học sinh. Như vậy, bản đồ
có vị trí rất quan trọng trong dạy- học Địa lí, bản đồ được xem là “sách giáo
khoa” thứ 2 trong dạy học Địa lí. Tuy nhiên, để đọc và hiểu nội dung “cuốn
vừa xác định trực quan vị trí địa lí trên bản đồ giúp các em nhớ lâu hơn.
- Thảo luận lớp dựa trên bản đồ: Học sinh có thể sẽ tập hợp với nhau để thảo
luận nhóm về một số vấn đề trong bài học mà phần lớn kiến thức được khai
thác trong bản đồ. Hình thức này sẽ khai thác được nhiều kiến thức, kinh
nghiệm từ phía học sinh.
- Tổ chức cho học sinh thuyết trình trên bản đồ: Hình thức thuyết trình được
giáo viên sử dụng để cung cấp thông tin cho học sinh, ở đây thay vì giáo viên
chủ động dùng lời nói để truyền thụ tri thức, cung cấp thông tin một cách có
hệ thống, logic thì giáo viên chủ đạo hướng dẫn cho học sinh thực hiện. Từ
đó, giáo viên sẽ dễ dàng nhận xét đánh giá nhiều vấn đề đúng, sai từ phía học
sinh; đồng thời chuẩn xác kiến thức, giúp các em tiếp thu kiến thức đúng và
khắc sâu hơn.
Trên đây là một số hình thức dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động
học tập kết hợp sử dụng bản đồ sách giáo khoa Địa lí cho học sinh. Giáo viên
chủ đạo phân công nhiệm vụ, qua đó học sinh chủ động khai thác kiến thức
trên bản đồ, tìm hiểu và giải thích được mối tương quan giữa các đối tượng
Địa lí, chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được giáo viên sắp đặt sẵn.
3. Các bước tiếp cận để có kĩ năng bản đồ
3.1. Xác định các đối tượng địa lí
Khi nghiên cứu các nội dung trong các chủ đề về dân cư, về kinh tế- xã
hội… trên bản đồ, giáo viên hướng các em cần tìm hiểu mối liên hệ các yếu tố
13
tự nhiên, dân cư và kinh tế trên bản đồ, kết hợp vốn hiểu biết để trình bày,
nhận xét và giải thích về sự phân bố và phát triển của các đối tượng kinh tếxã hội. Từ đó, các em sẽ dần dần hình thành và phát triển kĩ năng sử dụng bản
đồ, ở nhà có thể tìm hiểu khai thác kiến thức cho những bài học mới, hoặc một
quốc gia nào đó mà các em muốn tìm hiểu thêm.
3.2. Rèn kĩ năng bản đồ
Mỗi bản đồ, kiến thức Địa lí được sắp xếp theo một dụng ý, thể hiện nội dung
15
Hướng dẫn trả lời:
Học sinh đọc chú giải kí hiệu bản đồ, kết hợp quan sát hình 2.2 để chứng
minh phương pháp kí hiệu có khả năng thể hiện trên bản đồ:
- Nêu được tên và vị trí. Ví dụ:
+ Nhà máy thủy điện Yaly, Xê Xan phân bố ở Tây Nguyên.
+ Nhà máy nhiệt điện Phú Mĩ, Bà Rịa phân bố ở Đông Nam Bộ.
- Thể hiện cả chất lượng của các đối tượng trên bản đồ. Ví dụ:
+ Ngôi sao màu xanh biểu hiện nhà máy thủy điện (Hòa Bình, Yaly…)
+ Ngôi sao màu đỏ biểu hiện là nhà máy nhiệt điện (Phú Mĩ, Bà Rịa…)
Câu 2: Quan sát hình 2.3- Gió và bão ở Việt Nam (trang 12 sách giáo khoa),
hãy cho biết phương pháp kí hiệu đường chuyển động biểu hiện được những
đặc điểm nào của gió và bão trên bản đồ.
16
Hướng dẫn trả lời:
- Học sinh đọc chú giải kí hiệu bản đồ, kết hợp quan sát hình 2.3 để trả lời.
- Phương pháp kí hiệu đường chuyển động biểu hiện được những đặc điểm
của gió và bão trên bản đồ:
+ Hướng di chuyển của đối tượng thể hiện qua hướng những mũi tên trên
bản đồ.
Ví dụ: Gió mùa Hạ có hướng chủ yếu là tây nam; gió mùa Đông có hướng
chủ yếu là đông bắc…
+ Thể hiện số lượng, tốc độ di chuyển của đối tượng bằng những mũi tên
dài, ngắn hoặc dày, mảnh khác nhau.
luôn đến sớm hơn ngày ở bán cầu Tây.
b. Xác định múi giờ của Việt Nam, Trung Quốc và liên bang Nga. Từ đó nhận
xét.
- Múi giờ của Việt Nam: Có 1 múi giờ (múi giờ thứ 7)
- Múi giờ của Trung Quốc: Có 1 múi giờ (múi giờ thứ 8)
- Múi giờ của liên bang Nga: Có 10 múi giờ (múi giờ thứ 12, 11, 10…)
=> Nhận xét: Đất nước có lãnh thổ rộng lớn sẽ có nhiều múi giờ. Tuy nhiên,
trong thực tế, ranh giới múi giờ thường được quy định theo biên giới quốc gia;
18
Một số nước có lãnh thổ rộng lớn nhưng có thể dùng 1 giờ chung cho cả nước
(Trung Quốc), một số khác lại chia ra nhiều múi giờ (liên bang Nga).
Chủ đề: Cấu trúc của Trái Đất
Nội dung 1. Cấu trúc của Trái Đất. Thạch quyển. Thuyết kiến tạo
mảng
Câu 1: Dựa vào hình 7.3- Các mảng kiến tạo lớn của Thạch quyển (trang 27
sách giáo khoa) kết hợp nội dung sách giáo khoa và vốn hiểu biết hãy:
a. Kể tên các mảng kiến tạo lớn của thạch quyển.
b. Nhận xét hình thức tiếp xúc của các mảng kiến tạo: Mảng Bắc Mĩ và mảng
Âu- Á; mảng Philipin và mảng Thái Bình Dương.
c. Giải thích vì sao Nhật Bản là một quốc gia thường xuyên xảy ra nhiều thiên
tai động đất, núi lửa và sóng thần?
Hướng dẫn trả lời:
Học sinh đọc chú giải kí hiệu bản đồ, kết hợp quan sát hình 7.3, kết hợp
nội dung sách giáo khoa và vốn hiểu biết để nhận xét và trả lời câu hỏi:
19
b. Nhận xét về sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ.
Hình 10- Các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ
Hướng dẫn trả lời:
Học sinh đọc chú giải kí hiệu bản đồ, kết hợp quan sát các bản đồ và vốn
hiểu biết để nhận xét và trả lời câu hỏi:
a. Xác định trên bản đồ:
- Các mảng kiến tạo lớn: Mảng Thái Bình Dương, mảng Ô-xtrây-lia - Ấn Độ,
mảng Âu – Á, mảng Phi, mảng Bắc Mĩ, mảng Nam Mĩ, mảng Nam cực.
- Các vành đai động đất, núi lửa:
21
+ Vành đai lửa Thái Bình Dương
+ Khu vực Địa Trung Hải
+ Khu vực Đông Phi…
- Các vùng núi trẻ tiêu biểu:
+ Himalaya (châu Á)
+ Cooc-đie, Anđet (châu Mĩ)
+ An-pơ, Cap-ca, Pi-rê- nê (châu Âu)…
b. Nhận xét về sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ.
- Sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ thường trùng
nhau. Sự liên quan phân bố các vành đai động đất, núi lửa, các vùng núi trẻ
với sự chuyển dịch các mảng kiến tạo của thạch quyển. Các vành đai động
đất, núi lửa và các vùng núi trẻ thường nằm ở các vùng tiếp xúc của các mảng
kiến tạo của thạch quyển.
- Nguyên nhân khi các mảng kiến tạo dịch chuyển tách rời hoặc dồn ép vào
nhau thì tại vùng tiếp xúc sẽ trở thành vùng bất ổn của vỏ Trái Đất, thường
sinh ra nhiều hoạt động động đất, núi lửa, các hoạt động tạo núi…
Chủ đề: Khí quyển
Hoạt động gió mùa ở vùng Nam Á và Đông Nam Á: Ở khu vực Nam Á và
Đông Nam Á, vào mùa hè ở bán cầu Bắc có khu vực chí tuyến nóng nhất, do
đó hình thành trung tâm áp thấp I-ran (Nam Á). Vì vậy, gió Mậu dịch từ bán
23
cầu Nam vượt qua Xích đạo bị lệch hướng thành gió Tây Nam, mang theo
nhiều hơi ẩm và mưa. Đến mùa Đông, lục địa lạnh, các áp cao thường xuyên ở
Bắc cực phát triển mạnh và thường xuyên di chuyển xuống phía nam, đến tận
Trung Quốc, Hoa Kì,…Gió thổi từ phía bắc xuống theo hướng bắc- nam
nhưng bị lệch hướng trở thành gió Đông Bắc lạnh, khô.
Nội dung 4. Thực hành: Đọc bản đồ sự phân hóa các đới khí hậu trên
Trái Đất. Phân tích biểu đồ một số kiểu khí hậu
Câu 1: Quan sát hình 14.1- Bản đồ các đới khí hậu trên Trái Đất (trang 53
sách giáo khoa) hãy:
a. Kể tên các đới khí hậu và các kiểu khí hậu trên Trái Đất.
b. Nhận xét sự phân hóa khác nhau giữa đới khí hậu ôn đới và đới khí hậu
nhiệt đới.
Bản đồ các đới khí hậu trên Trái Đất
24
Hướng dẫn trả lời:
Học sinh đọc chú giải kí hiệu bản đồ, kết hợp quan sát hình 14.1, để nhận
xét và trả lời câu hỏi:
a. Kể tên các đới khí hậu và các kiểu khí hậu trên Trái Đất.
Mỗi bán cầu có 7 đới khí hậu, một số đới phân ra thành các kiểu như sau:
1. Đới khí hậu cực
2. Đới khí hậu cận cực