Skkn sử dụng phương pháp hợp tác theo nhóm nhằm tích cực và nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học thpt - Pdf 41

MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
1. Cơ sở đề xuất giải pháp...........................................................................................4
1.1. Sự cần thiết hình thành giải pháp.............................................................................4
1.2.Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp..........................................................5
1.2.1. Quá trình dạy học ở trường phổ thông..................................................................5
1.2.2. Nhiệm vụ của môn Hóa học ở trường THPT.........................................................6
1.2.3. Phương pháp dạy học tích cực................................................................................7
1.2.3.1. Khái niệm ...........................................................................................................7
1.2.3.2. Đổi mới phương pháp dạy học Hóa học theo hướng tích cực ...........................8
1.2.3.3. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học.........................................................9
1.2.4. Một số phương pháp dạy học hóa học ở trường THPT.......................................11
1.2.5. Ứng dụng dạy học tích cực trong lớp học............................................................13
1.2.6. Một số kĩ thuật dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh.......................13
1.3. Mục tiêu của giải pháp.............................................................................................19
1.4. Các căn cứ đề xuất giải pháp...................................................................................19
1.5. Phương pháp thực hiện............................................................................................20
1.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu..........................................................................20
1.5.2. Phương pháp thống kê phân tích số liệu...............................................................20
1.5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.....................................................................20
1.6. Đối tượng và phạm vi áp dụng................................................................................21
1.7. Điểm mới của đề tài.................................................................................................21
2. Quá trình hình thành và nội dung giải pháp........................................................22
2.1. Quá hình hình thành nên giải pháp .........................................................................22
2.2. Những cải tiến để phù hợp với thực tiến phát sinh...............................................22
2.3. Nội dung của giải pháp mới hiện nay .....................................................................22
2.4. Một số ví dụ minh họa.............................................................................................23
3. Hiệu quả giải pháp.................................................................................................37
3.1. Thời gian áp dụng hoặc áp dụng thử của giải pháp.................................................37
1


dd:

dung dịch

ĐC:

đối chứng

GV :

giáo viên

HS:

học sinh

SGK:
TN:

sách giáo khoa
thực nghiệm

3


Giải pháp
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỢP TÁC THEO NHÓM NHẰM TÍCH CỰC VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC THPT
1. Cơ sở đề xuất giải pháp
1.1. Sự cần thiết hình thành giải pháp

Xuất phát từ lí do trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
HỢP TÁC THEO NHÓM NHẰM TÍCH CỰC VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG
DẠY MÔN HÓA HỌC THPT” với mong muốn công trình của mình sẽ góp phần thiết
thực vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
1.2. Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp
1.2.1. Quá trình dạy học ở trường phổ thông
- Quá trình dạy học hóa học là một hệ toàn vẹn bao gồm nội dung dạy học, việc dạy và
việc học hóa học.
Việc dạy: Đó là toàn bộ hoạt động của thầy trong quá trình dạy học nhằm làm cho trò
nắm vững kiến thức, kỹ năng, trên cơ sở đó phát triển ở họ những năng lực nhận thức,
hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, chủ nghĩa khoa học vô thần và tình cảm, thái
độ.
Cách 1: Truyền đạt một chiều từ thầy đến trò. Đánh giá chủ yếu nhằm xem trò nắm
được thông tin bao nhiêu và chính xác ở mức độ nào hơn là xem trò hiểu thế nào.
Cách 2: Dạy theo kiểu tiếp cận hợp tác hai chiều. Cách tiếp cận này dựa trên nguyên
tắc làm cho việc học được dễ dàng thông qua việc giúp trò phát triển kỹ năng ‘giải quyết
vấn đề’ và ‘tư duy sáng tạo’.
Việc học: Đó là hoạt động của trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm nắm vững kiến thức,
kỹ năng phát triển những năng lực nhận thức, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng,
đạo đức, nhân cách. Việc dạy và việc học là hai mặt của một quá trình thống nhất: Sự dạy
học. Việc dạy của thầy phải có tác động điều khiển (tổ chức, chỉ đạo, đánh giá) sự học của
trò nhằm phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, tự lực của trò. Dạy tốt là làm cho trò biết
học, biết biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo. Sự học một mặt phải biết dựa vào sự dạy,
mặt khác phải là quá trình tự giác, tích cực và tự lực của trò.

5


Ngày nay có thể coi việc học như là quá trình thu nhận, ghi nhớ, tích lũy, sử dụng, liên
kết, lí giải và xử lí thông tin, giải quyết vấn đề. Đó là cách tiếp cận việc học theo mô hình

*Năng lực tính toán
Thông qua các bài tập hóa học sẽ hình thành năng lực tính toán cho học sinh. Các em sẽ
có thể vận dụng thành thạo phương pháp bảo toàn (bảo toàn khối lượng, bảo toàn điện
tích, bảo toàn electron) cho việc tính toán giải các bài tập hóa học..
Học sinh có thể vận dụng thành thạo phương pháp đại số trong toán học và mối liên hệ với
các kiến thức hóa học để giải các bài toán hóa học, đồng thời sử dụng hiệu quả các thuật
toán để biện luận và tính toán các dạng bài toán hóa học.
*Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học
Qua quá trình học tập trên lớp, học sinh sẽ phân tích được tình huống, phát hiện và nêu
được tình huống có vấn đề trong học tập và trong cuộc sống.
Các em sẽ thu thập và làm rõ các thông tin có lên quan đến vấn đề. Đề xuất và phân tích
được một số giải pháp giải quyết vấn đề, suy ngẫm về cách thức, tiến trình giải quyết vấn
đề để điều chỉnh và lựa chọn giải pháp phù hợp với bối cảnh.
*Năng lực vận dụng kiến thức hóa học và cuộc sống
Qúa trình học tập giúp học sinh có năng lực hệ thống hóa kiến thức, phân loại kiến thức
hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức đó. Khi vận dụng kiến
thức chính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ
thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội.
Học sinh sẽ định hướng các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi vận dụng kiến
thức hóa học phải ý thức thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học đó được ứng dụng trong
lĩnh vực gì, ngành nghề gì trong cuộc sống.
Các em sẽ phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa học trong các vấn đề thực
phẩm, sinh hoạt , y học, sức khỏe, khoa học…
*Năng lực sáng tạo
Môn hóa học sẽ giúp HS đề xuất được câu hỏi nghiên cứu cho một vấn đề hay chủ đề
học tập cụ thể, đề xuất giả thiết nghiên cứu phù hợp với câu hỏi nghiên cứu một cách khoa
học, sáng tạo. Học sinh sẽ đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi để kiểm chứng giả thiết
nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu một cách khoa học, sáng tạo.
1.2.3. Phương pháp dạy học tích cực
7


8


- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến
những ứng dụng của công nghệ thông tin.
* Sự đổi mới mục tiêu
Từ yêu cầu của xã hội hiện đại, mục tiêu giáo dục cũng cần được thay đổi để đào tạo
những con người thích ứng với xã hội phát triển, với bản thân người học. Trong mục tiêu
giáo dục của các cấp bậc học đã có điểm mới là tập trung hơn nữa vào việc hình thành
năng lực cho học sinh đó là: năng lực nhận thức, năng lực hành động (năng lực giải quyết
vấn đề), năng lực thích ứng với điều kiện xã hội.
Trong mục tiêu của môn hoá học đã xác định rõ: ngoài những kiến thức, kỹ năng hoá
học cơ bản mà học sinh phải đạt được cần chú ý nhiều hơn tới việc hình thành các kỹ năng
vận dụng kiến thức, kỹ năng tiến hành nghiên cứu khoa học hoá học như: quan sát, phân
loại, thu thập thông tin, dự đoán khoa học, đề ra giả thuyết, giải quyết vấn đề, tiến hành thí
nghiệm từ đơn giản đến phức tạp…để học sinh có khả năng tự phát hiện và giải quyết một
cách chủ động sáng tạo các vấn đề thực tế có liên quan tới hoá học.
*Sự đổi mới hoạt động dạy của giáo viên
Với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập
của học sinh thì hoạt động của giáo viên hoá học cũng có sự đổi mới. Người giáo viên hoá
học với vai trò người thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động của học sinh để đạt mục
tiêu dạy học. Người giáo viên hoá học cần thực hiện các hoạt động cụ thể như:
Thiết kế giáo án bao gồm các hoạt động của học sinh theo các mục tiêu cụ thể của mỗi bài
học hoá học mà học sinh cần đạt được.
Tổ chức các hoạt động trên lớp để học sinh hoạt động theo cá nhân hoặc theo nhóm
như: nêu vấn đề cần nghiên cứu, tổ chức các hoạt động tìm tòi phát hiện tri thức và hình
thành kỹ năng hoá học.
Định hướng, điều chỉnh các hoạt động của học sinh: chính xác hoá khái niệm hoá học
được hình thành, các kết luận về bản chất hoá học của các hiện tượng mà học sinh tự tìm

tạo.
* Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học
Hình thức tổ chức dạy học lớp – bài được thay đổi đa dạng, phong phú hơn để phù hợp
với hoạt động học tập tìm tòi cá nhân, hoạt động theo nhóm và toàn lớp học. Địa điểm học
của học sinh không chỉ diễn ra trên lớp mà còn được thực hiện ở phòng bộ môn, phòng
10


học đa phương tiện, ở ngoài trường học… Học sinh không chỉ thu nhận thông tin qua sách
giáo khoa mà còn qua sách tham khảo, các phương tiện thông tin, phương tiện kĩ thuật
(băng, đĩa, mạng internet) và tham gia các hoạt động chia sẻ thông tin thu được.
Các phương tiện dạy học được đa dạng hoá, không chỉ là phấn, bảng, sách vở… mà còn
dùng dụng cụ, hoá chất, mô hình, mẫu vật, biểu bảng hình vẽ, băng hình, bản trong, máy
chiếu, máy vi tính, phần mềm ứng dụng dạy học hoá học.
Các thí nghiệm hoá học, phương tiện dạy học được sử dụng chủ yếu như là nguồn kiến
thức để HS tìm tòi, phát hiện, thu nhận kiến thức và cả phương pháp nhận thức. Việc sử
dụng phương tiện dạy học chứng minh cho lời giảng được hạn chế dần.
*Phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp đặc thù của hoá học
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học hoá học GV hoá học cần chú trọng
đến việc khai thác các yếu tố tích cực trong từng phương pháp dạy học được sử dụng và
các phương pháp dạy học đặc thù của hoá học để thực hiện yêu cầu tạo điều kiện cho HS
được hoạt động nhiều hơn, tích cực hơn, chủ động hơn trong giờ học. Giáo viên cần tăng
cường sử dụng các phương pháp dạy học: nêu và giải quyết vấn đề, đàm thoại tìm tòi,
nghiên cứu…kết hợp với thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn hiện đại, các câu hỏi, bài tập
hoá học theo hướng dạy học tích cực như:
Các thí nghiệm hoá học chủ yếu do học sinh thực hiện theo hướng thí nghiệm nghiên
cứu, dùng thí nghiệm kiểm tra giả thuyết khoa học, kiểm nghiệm những dự đoán.
Hoạt động đàm thoại tìm tòi được thực hiện bằng phiếu học tập, trong đó yêu cầu HS trả
lời một hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm giải quyết một nội dung học tập. Học sinh báo cáo
kết quả hoạt động bằng lời, bằng giấy hoặc bản trong – đèn chiếu.

sinh.
Các phương tiện dạy học cơ bản phổ biến trong nhà trường gồm 3 loại:
- Phương tiện kỹ thuật dạy học (các phương tiện nghe nhìn và máy dạy học);
- Phương tiện trực quan (đồ dùng dạy học trực quan;)
- Thí nghiệm nhà trường
Đối với hóa học thì thí nghiệm nhà trường là phương tiện dạy học quan trọng nhất.
1.2.4.2. Phương pháp sử dụng bài tập

12


Bài tập hóa học cung cấp cho học sinh kiến thức, cả con đường để giành lấy kiến thức,
cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức. Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là
nội dung, vừa là phương pháp hiệu nghiệm.
Để học sinh lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng cần thiết qua quá trình dạy-học thì giáo viên
nên soạn hệ thống bài tập đủ các dạng, từ dễ đến khó, phù hợp với thực tế,… và nhất là sử
dụng các bài tập phải phù hợp với trình độ học sinh.
Đây cũng là một phương pháp học tập tích cực đối với học sinh. Ngoài ra, bài tập hóa học
còn được sử dụng nhiều trong quá trình chuẩn bị nghiên cứu các kiến thức mới.
1.2.4.3. Dạy học nêu vấn đề
Bản chất của dạy học nêu vấn đề là đặt ra trước học sinh các vấn
đề của khoa học và mở ra cho các em những con đường giải quyết các
vấn đề đó; việc điều khiển quá trình tiếp thu tri thức của học sinh ở đây
được thực hiện theo phương hướng tạo ra một hệ thống những tình
huống có vấn đề, những điều kiện đảm bảo việc giải quyết những tình
huống đó và những chỉ dẫn cụ thể cho học sinh trong quá trình giải
quyết

các


Đây là phương pháp rất hiệu quả khi giáo viên giao công việc cho
học sinh chuẩn bị trước, cả giáo viên và học sinh chủ động về mặt thời
gian

trong

tiết

học.

Ngoài

ra

sử

dụng

phương pháp này còn tập cho học sinh có kĩ năng sinh hoạt nhóm, kĩ
năng

trình

bày

trước

đám đông, bước đầu tập nghiên cứu khoa học.
1.2.4.5. Phương pháp sử dụng trò chơi
Đây là phương pháp giúp học sinh học mà chơi, chơi mà học, tiết

này. Giáo viên cần đưa ra một số quy tắc trong lớp học khi trở thành
người tạo điều kiện học tập và học sinh cần tăng cường vai trò của mình
không chỉ ở việc học cái gì mà còn học như thế nào. Ứng dụng dạy học
tích cực trong lớp học đòi hỏi học sinh phải làm việc. Có thể sử dụng
những kỹ thuật sau để tạo cơ hội cho học sinh trong lớp tham gia tích
cực vào việc học:
14


- Chia lớp thành từng cặp học sinh. Cho các cặp này suy nghĩ về một
chủ đề và thảo luận với bạn trong cặp này rồi chia sẻ kết quả với phần
còn lại của lớp.
- Cho học sinh ghi các kết quả tổng hợp ra giấy, cho phép học sinh có
một

vài

phút

để trả lời những câu hỏi ra giấy. Điều này nâng cao chất lượng của tiến
trình

học

tập



cung cấp cho giáo viên các phản hồi từ học sinh về những chủ đề mà
giáo

mình. Kết quả là học sinh vừa lĩnh hội được thêm kiến thức mới đồng thời biết được cách
thức đi đến kiến thức đó, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy. Dẫn dắt đàm
15


thoại ơrixtic như vậy rõ ràng mất nhiều thời gian hơn là thuyết trình giảng giải, nhưng kiến
thức học sinh lĩnh hội được sẽ chắc chắn hơn.
Câu hỏi theo cấp độ nhận thức
Khi trả lời câu hỏi, học sinh phải suy nghĩ, thông qua đó nhận thức và phát triển tư
duy. Mức độ phát triển tư duy của học sinh phụ thuộc cấp độ nhận thức mà câu hỏi đặt ra.
Có thể chia các câu hỏi đóng và mở theo cấp độ nhận thức của Bloom. Dưới đây là một số
kĩ thuật đặt câu hỏi theo cấp độ nhận thức:
* Câu hỏi “Biết”
Mục tiêu: Câu hỏi “biết” nhằm kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ kiện, số liệu,
tên người hoặc địa phương, các định nghĩa, định luật, quy tắc, khái niệm...
Tác dụng đối với học sinh: Giúp học sinh ôn lại được những gì đã biết, đã trải qua.
Cách tiến hành: Khi hình thành câu hỏi giáo viên có thể sử dụng các từ, cụm từ sau
đây :Ai...? Cái gì...? Ở đâu...? Thế nào...? Khi nào...? Hãy định nghĩa....; Hãy mô
tả ...; Hãy kể lại....
* Câu hỏi “Hiểu”
Mục tiêu: Câu hỏi “hiểu” nhằm kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các dữ kiện,
số liệu, các đặc điểm ... khi tiếp nhận thông tin.
Tác dụng đối với học sinh:
- Giúp học sinh có khả năng nêu ra được những yếu tố cơ bản trong bài học.
- Biết cách so sánh các yếu tố, các sự kiện ... trong bài học
Cách tiến hành: Khi hình thành câu hỏi giáo viên có thể sử dụng các cụm từ sau
đây :Hãy so sánh ...; Hãy liên hệ....; Vì sao ...? Giải thích....?
* Câu hỏi “Áp dụng”
Mục tiêu: Câu hỏi “áp dụng” nhằm kiểm tra khả năng áp dụng những thông tin đã
thu được (các dữ kiện, số liệu, các đặc điểm ...) vào tình huống mới.

- Câu hỏi tổng hợp đòi hỏi phải có nhiều thời gian chuẩn bị.
* Câu hỏi “Đánh giá”
Mục tiêu: Câu hỏi “đánh giá” nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán
đoán của học sinh trong việc nhận định, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng,...
dựa trên các tiêu chí đã đưa ra.
Tác dụng đối với học sinh: Thúc đẩy học sinh tìm tòi tri thức, xác định giá trị.
17


Cách tiến hành: GV có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra đáp án, tiêu chí đánh
giá,... và đặt câu hỏi yêu cầu học sinh đánh giá.
Câu hỏi ở mức độ tư duy càng cao thì mức độ tư duy của người học càng cao. Hệ
thống câu hỏi trong giờ học phải giúp học sinh đạt dần tới mục tiêu chung của bài
học, không dễ quá để buộc học sinh phải suy nghĩ và không khó quá để đa số học
sinh có thể trả lời được.
Thiết kế một hệ thống câu hỏi hợp lí để hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức,
phát triển tư duy là cần thiết, song việc sử dụng các câu hỏi đó trong quá trình thảo
luận ở lớp học như thế nào thì hiệu quả?đó là điều mà mỗi giáo viên cần tìm hiểu rất
kỉ.
1.2.6.2. Kĩ thuật khăn trải bàn
- Kĩ thuật khăn trải bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp
giữa hoạt động cá nhân và nhóm.
Mục tiêu:
+ Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
+ Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh
+ Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh
Tác dụng đối với học sinh:
- Học sinh học được cách tiếp cận với nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau.
- Rèn kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề.
- Giúp học sinh đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như làm việc cùng nhau để đạt


19


KT mảnh ghép là một KT dạy học tích cực, trong đó có sự tổ chức hoạt động học
tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm.
Mục tiêu của dạy học theo KT mảnh ghép là:
+ Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
+ Kích thích sự tham gia tích cực của HS
+ Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở
giai đoạn 1 mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 2).
Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS
Cách tiến hành: DH theo kĩ thuật mảnh ghép được chia thành 2 giai đoạn
- Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”
+ Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3 - 6 người). Mỗi nhóm được giao
một nhiệm vụ nghiên cứu những nội dung học tập khác nhau. Các nhóm này được gọi là
“nhómchuyên sâu” tương ứng với nhiệm vụ được giao.
+ Hoạt động nhóm cần đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm trả lời được tất cả các
câu hỏi trong nhiệm vụ của nhóm, trở thành HS “chuyên sâu” của lĩnh vực đã tìm hiểu và
có khả năng trình bày lại vấn đề đó ở giai đoạn 2.
- Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”
+ Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giai đoạn 1, mỗi HS “chuyên sâu” từ các nhóm khác
nhau hợp lại thành các nhóm mới, gọi là “nhóm mảnh ghép”. Lúc này, mỗi HS “chuyên
sâu” trở thành những “mảnh ghép” trong “nhóm mảnh ghép”.
+ Từng HS“mảnh ghép” lần lượt có nhiệm vụ chia sẻ, trình bày lại nội dung các mảnh
ghép và nắm bắt được tất cả nội dung ở giai đoạn 1 của các mảnh ghép khác.
+ Từ những kiến thức cơ sở ở của mảnh ghép, các nhóm sẽ cùng thảo luận để hoàn thành
một nhiệm vụ mới.
Như vậy thông qua 2 giai đoạn thảo luận nhóm mà HS lĩnh hội được kiến thức của bài học
một cách tích cực, chủ động.

cơ có thể gặp phải đó là sự ỉ lại, ăn theo hoặc tách nhóm, những nguy cơ này sẽ làm giảm
hiệu quả của thảo luận nhóm. Khi sử dụng PPDH hợp tác chúng ta có thể sử dụng phối
hợp với một số kĩ thuật dạy học khác như: Kĩ thuật khăn trãi bàn, kĩ thuật mảnh ghép, sơ
đồ tư duy… để khắc phục được một số hạn chế của PPDH hợp tác theo nhóm.
1.4. Các căn cứ đề xuất giải pháp.
21


Thực hiện các chủ trương và chính sách của Đảng, ngành giáo dục
đã và đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
hóa, phát huy tối đa năng lực nhận thức và tư duy của học sinh. Tuy
nhiên, chúng tôi nhận thấy việc đổi mới này chưa được thực hiện đồng
bộ, triệt để và mang lại hiệu quả cao nhất vì nhiều lí do khác nhau.
Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm là một trong các phương pháp dạy học
(PPDH) phát huy được tính tích cực chủ động trong học tập của học sinh (HS), ngoài ra
HS còn học và rèn được các kĩ năng giao tiếp, làm việc cùng nhau – đó là những kĩ năng
rất cần thiết trong xã hội ngày nay.
Môn hóa học là bộ môn khoa học gắn liền với tự nhiên, đi cùng đời sống của con
người. Việc học tốt bộ môn hóa học trong nhà trường sẽ giúp học sinh hiểu được rõ về
cuộc sống, những biến đổi vật chất trong cuộc sống hàng ngày. Từ những hiểu biết này
giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế của Tổ quốc, đồng
thời biết làm những việc bảo vệ môi trường sống trước những hiểm họa về môi trường do
con người gây ra trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm tạo dựng một cuộc
sống ngày càng tốt đẹp hơn.
1.5. Phương pháp thực hiện.
1.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
• Tài liệu chuyên môn: Bộ sách giáo khoa và sách GV môn hóa học THPT; Tài liệu bồi
dưỡng giảng dạy thực hiện chương trình sách giáo khoa môn Hóa học, Tài liệu chuẩn
kiến thức, kĩ năng môn Hóa học THPT; Tài liệu tâp huấn GV dạy học, kiểm tra đánh
giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học

giáo dục nước ta, để bắt kịp theo sự phát triển của xã hội ngày nay. Bản thân tôi, từ năm
2012 đã nghiên cứu, tìm hiểu lí luận về phương pháp dạy học tích cực, tôi đã chọn phương
pháp dạy học theo nhóm để áp dụng vào các giờ dạy của mình vào các năm học tiếp theo.
Qua quá trình áp dụng vào giảng dạy, rút kinh nghiệm từ các tiết dạy, đồng thời có sự
nhận xét góp ý của tổ chuyên môn đã giúp tôi hoàn thành nội dung của đề tài và mang lại
hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập của học sinh.
2.2. Những cải tiến để phù hợp với thực tiển phát sinh.
Để tổ chức thực hiện được giáo viên có thể dùng nhiều phương tiện, nhiều cách có
thể tiến hành dạy trong hoàn cảnh dùng máy chiếu hay không dùng máy chiếu… điều này
cần phụ thuộc vào giáo viên ở mỗi trường THPT, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể và phong
23


cách dạy khác nhau để huy động tối đa vì hiệu quả giáo dục với nội dung đề tài này, có
những kinh nghiệm có thể áp dụng cho nhiều người, nhưng có những phong cách không
thể áp dụng cho giáo viên khác. Vì phong cách dạy “nó như tính cách của mỗi con người
không thể ai cũng giống ai” nhưng đảm bảo được nội dung dạy học theo yêu cầu của
chương trình. Như vậy không có nghĩa người giáo viên không đổi mới phương pháp giảng
dạy mà mỗi giáo viên luôn phải tìm cách đổi mới trong phong cách dạy của mình theo yêu
cầu của thực tiễn hiện hành.
2.3. Nội dung của giải pháp mới hiện nay
2.3.1. Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm
- Khái niệm: PPDH hợp tác theo nhóm là PPDH mà trong đó HS dưới sự hướng dẫn của
GV làm việc phối hợp cùng nhau trong các nhóm để hoàn thành mục đích chung.
- Tiến trình dạy học: Tiến trình dạy học theo PPDH hợp tác theo nhóm gồm 3 bước:
+ Bước 1: Làm việc chung cả lớp (GV giới thiệu chủ đề chung, nêu nhiệm vụ các
nhóm, thành lập các nhóm, hướng dẫn cách làm việc theo nhóm và phân bố thời gian)
+ Bước 2: Làm việc theo nhóm (Các nhóm bầu nhóm trưởng, thư kí, phân công
công việc, thảo luận và chuẩn bị báo cáo kết quả)
+ Bước 3: Thảo luận tổng kết trước toàn lớp (Các nhóm báo cáo kết quả, thảo luận

kết luận nào đó hoặc cùng thực hiện một nhiệm vụ giáo viên giao cho.
2.3.3. nh hng khi thit k bi hc theo hng dy hc tớch
cc
Khi thit k cỏc hot ng theo hng dy hc tớch cc, ta cn chỳ ý:
- Ni dung phi chớnh xỏc, khoa hc;
- m bo cỏc mc tiờu v trng tõm theo chun kin thc, k
nng

ca

chng

trỡnh;

- Phi hp linh hot cỏc phng phỏp, hỡnh thc t chc dy hc
v

vn

dng

cỏc

k thut dy hc tng cng tớnh tớch cc, ch ng, sỏng to v
phỏt

trin

c


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status