Phần I: mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hội nghị Trung ơng Đảng lần thứ IV, khoá VIII bàn về công tác văn hoá
giáo dục đã nêu rõ: ...đổi mới phơng pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc
học ...; đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền
thụ độc thoại một chiều ..., từng bớc áp dụng các phơng pháp tiên tiến và phơng
tiện hiện đại vào quá trình dạy học...
Để hình thành con ngời năng động, sáng tạo, thích ứng và tự chủ, biết giải
quyết những vấn đề nảy sinh, đáp ứng mục tiêu xã hội đặt ra cho dạy học thì dạy
học ngày nay không đơn thuần là việc truyền thụ những kiến thức có sẵn, rập
khuôn, máy móc mà phải biết tổ chức cho ngời học tự khám phá, tìm tòi, phát
hiện kiến thức.
Trong những năm gần đây đã có sự đổi mới về mục tiêu, nội dung, phơng
pháp, phơng tiện hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá (KTĐG). Song
mức độ đổi mới và hoàn thiện cha đáp ứng đợc mục tiêu đề ra, đặc biệt là ở khâu
KTĐG.
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình dạy học không
những cung cấp thông tin phản hồi ngợc ngoài và ngợc trong cho quá trình dạy
học mà điều quan trọng thông qua KTĐG nhằm phát hiện ra những lệch lạc,
khiếm khuyết từ quá trình dạy và học trên cơ sở đó có kế hoạch điều chỉnh uốn
nắn kịp thời.
Có rất nhiều hình thức KTĐG khác nhau: quan sát, vấn đáp, TNTL,
TNKQ.... Mỗi phơng pháp có u nhợc điểm riêng. Để nâng cao chất lợng KT ĐG
cũng nh chất lợng dạy - học trên thế giới ngời ta đã kết hợp tất cả các phơng pháp
KTĐG này.
ở Việt Nam, việc KTĐG thành quả học tập của học sinh chủ yếu bằng
TNTL, rất ít bằng TNKQ.
Trong mỗi hình thức trắc nghiệm điều có u nhợc điểm riêng. Trắc nghiệm tự
luận có u điểm là: đo đợc khả năng diễn đạt câu từ, hành văn, lập luận ... Song nó
bộc lộ nhiều nhợc điểm đó là: làm bài mất nhiều thời gian dẫn đến không KTĐG
đợc nhiều nội dung và mục tiêu dạy học, đánh giá còn lệ thuộc vào quan điểm cá
Xây dựng đợc bộ câu hỏi TNKQ chơng I và chơng II phần II Sinh học tế
bào, SH10 nâng cao, nhằm góp phần nâng cao chất lợng dạy học kiến thức sinh
học tế bào ở trờng THPT.
3. Đối tợng nghiên cứu:
Bộ câu hỏi TNKQ chơng I Thành phần hoá học của tế bào và chơng II
Cấu trúc tế bào phần II Sinh học tế bào SH10 nâng cao - THPT.
4. Giả thuyết khoa học:
Nếu áp dụng đúng quy trình xây dựng câu hỏi TNKQ sẽ xây dựng đợc bộ
câu hỏi TNKQ có giá trị góp phần nâng cao chất lợng dạy học chơng I và chơng
II phần II Sinh học tế bào SH10 nâng cao - THPT.
5. Nhiệm vụ của đề tài:
5.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận về xây dựng câu hỏi TNKQ nói chung và
phần Sinh học tế bào ", SH10 nâng cao nói riêng.
5.2. Phân tích cấu trúc nội dung phần Sinh học tế bào , SH10 nâng
cao THPT. Cấu trúc nội dung cơ bản của ch ơng I và chơng II, để xác định
tổ hợp các câu hỏi TNKQ ở từng kiến thức, từng bài, từng chơng.
5.3. Xây dựng bộ câu hỏi TNKQ chơng I và chơng II phần II Sinh học
tế bào , SH10 nâng cao-THPT.
5.4. Thực nghiệm, xác định giá trị của bộ câu hỏi và giá trị của bài trắc
nghiệm tổng thể trên cơ sở đó có kế hoạch điều chỉnh, nâng cao chất lợng câu hỏi.
6. Phơng pháp nghiên cứu:
6.1. Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trơng, đờng lối của Đảng và nhà nớc trong
công tác giáo dục và các tài liệu, sách báo có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu nội dung chơng trình sách giáo khoa lớp 10- THPT phần
Sinh học tế bào.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận về câu hỏi TNKQ, quy trình, nguyên tắc, kỹ
thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi TNKQ nói chung.
6.2. Phơng pháp điều tra, quan sát s phạm:
Trao đổi với giáo viên, học sinh về bộ câu hỏi đã soạn thảo làm cơ sở hoàn
0,2 : Độ phân biệt thấp.
- 0,21
DI
0,49 : Độ phân biệt trung bình.
- 0,5
DI
1 : Độ phân biệt cao.
6.4.3. Xác định độ tin cậy của tổng thể câu hỏi trắc nghiệm:
R
2,1
=
1
K
K
1-
2
.
)(
K
XKX
(3)
Trong đó:
K: Số lợng câu hỏi của bài trắc nghiệm của bài trắc nghiệm tổng thể.
Phần I: Mở đầu
Phần II: Tổng quan tài liệu
Phần III: Kết quả nghiên cứu
Chơng I: Cở sở lý luận của đề tài.
Chơng II: Kết quả xây dựng câu hỏi TNKQ.
Chơng III: Kết quả thực nghiệm.
Phần IV: Kết luận và kiến nghị
Phần phụ lục:
Phụ lục I: Bộ câu hỏi TNKQ chơng I và chơng II Phần Sinh học tế bào,
SH 10 nâng cao - THPT.
Phụ lục II: Đáp án của bộ câu hỏi TNKQ.
Phụ lục III: Mẫu phiếu hớng dẫn làm bài.
Phụ lục IV: Độ khó và độ phân biệt của từng câu hỏi.
Phần II: TổNG Quan Tài Liệu
1. TRÊN THế GiớI :
ở Mỹ, từ đầu thế kỉ XIX ngời ta đã dùng phơng pháp T chủ yếu để phát
hiện năng khiếu, xu hớng nghề nghiệp của học sinh. Sang đầu thế kỉ XX
E.Thođaicơ là ngời đầu tiên đã dùng T nh một phơng pháp khách quan và nhanh
chóng để đo trình độ kiến thức học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó
là đối với một số loại kiến thức khác.
Đến năm 1940 ở Hoa Kỳ đã xuất bản nhiều hệ thống T dùng để đánh giá
thành tích học tập của học sinh.
Năm 1961 Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chơng trình T chuẩn.
Năm 1963 đã xuất hiện công trình của Ghecberich dùng máy tính điện tử
xử lí các kết quả T trên diện rộng.
Vào thời điểm đó ở Anh đã có Hội đồng quốc gia hàng năm quyết định
các T chuẩn cho trờng trung học.
Trong thời kì đầu việc sử dụng phơng pháp T ở các nớc phơng Tây đã có
một số sai lầm nh đã sa vào quan điểm hình thức, máy móc trong việc đánh giá
năng lực trí tuệ, chất lợng kiến thức của học sinh hoặc quan điểm phân biệt giai
học ở từng bộ môn là con đờng có nhiều triển vọng.
phần III: KếT QUả NGHIÊN CứU
Chơng I
CƠ Sở Lí LUậN CủA Đề TàI
1 . Câu hỏi và câu hỏi trắc nghiệm trong dạy học:
1.1. Khái niệm về câu hỏi trong dạy học:
Aristotle là ngời đầu tiên đã phân tích câu hỏi dới góc độ logic ông cho
rằng: Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái cha biết
[6.Tr 23]
Khái niệm câu hỏi cũng đợc diễn đạt dới dạng khác nh: Câu hỏi là dạng
cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh cần đợc
giải quyết. [6.Tr 23]
Trong dạy học, câu hỏi đợc sử dụng nh là một công cụ dùng để tổ chức h-
ớng dẫn quá trình nhận thức, quá trình kiểm tra, tự kiểm tra và tự học. Đó là
những yêu cầu đợc đặt ra (trong câu hỏi) mà ngời học cần phải giải quyết.
1.2 . Các loại câu hỏi trong dạy học:
Tuỳ theo bản chất, mục đích, cách sử dụng mà ngời ta chia câu hỏi thành
nhiều loại khác nhau: [4] ,[6]
1.2.1. Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh:
- Câu hỏi yêu cầu tái hiện sự kiện, hiện tợng, quá trình
-Câu hỏi yêu cầu mức hiểu khái niệm.
- Câu hỏi yêu cầu mức vận dụng khái niệm.
- Câu hỏi yêu cầu mức sáng tạo.
1.2.2. Dựa vào sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh:
- Câu hỏi rèn luyện kỹ năng quan sát
- Câu hỏi rèn luyện kỹ năng phân tích
- Câu hỏi rèn luyện kỹ năng tổng hợp
- Câu hỏi rèn luyện kỹ năng so sánh
- Câu hỏi rèn luyện kỹ năng sử dụng con đờng quy nạp
Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan
Diễn giải Tiểu luận Luận văn Đúng- Sai MCQ Ghép nối Điềnkhuyết
1.3.1. Trắc nghiệm tự luận ( TNTL )
* Khái niệm:
Là dạng T dùng những câu hỏi mở đòi hỏi học sinh tự xây dựng câu trả lời.
Câu trả lời có thể là một đoạn văn ngắn, một bài tóm tắt, một bài diễn giải hoặc
một tiểu luận [2]
* Ưu điểm:
TNTL có những u điểm sau: Đòi hỏi thí sinh tự trả lời và diễn đạt bằng ngôn
ngữ của chính mình, giáo viên ít tốn thời gian cho việc soạn thảo câu hỏi, thí sinh
có thể tự do diễn đạt ý tởng phát huy khả năng sáng tạo, cách thức giải quyết vấn
đề, rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh.
* Nhợc điểm:
TNTL có số lợng câu hỏi ít, giá trị nội dung không cao, chấm bài tốn thời
gian, cho điểm gặp khó khăn, tính khách quan không cao nên độ tin cậy thấp.
1.3.2. Trắc nghiệm khách quan ( TNKQ )
* Khái niệm về TEST TNKQ:
Trên thế giới ngời ta đã sử dụng câu hỏi TEST vào quá trình dạy học từ
những năm 1930 của thế kỷ XX. Đã có nhiều nhà lý luận đi sâu vào nghiên cứu
về Test và đa ra định nghĩa Test là bài tập làm trong một thời gian ngắn nhất,
mà thực hiện bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lợng và chất lợng, có thể coi là
dấu hiệu về sự hoàn thiện một số chức năng tâm lý. A.V.PETROPSKI. 1970
hoặc Test là thử nghiệm mang tính tích cực.
Theo Trần Bá Hoành 1990: Test có thể tạm dịch là trắc nghiệm, là một
phơng pháp đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý,
tởng tợng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu ) hoặc để kiểm tra đánh giá một số
kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh [2]
* Test có thể phân chia thành những loại sau:
biệt học sinh giỏi và học sinh kém rất thấp.
Loại câu trắc nghiệm ghép- nối:
- Khái niệm: Là dạng câu hỏi T mà trong đó gồm những câu hỏi có 2 dãy
thông tin, một bên là câu hỏi, bên kia là câu trả lời, học sinh phải ghép với nhau
trở thành thông tin hoàn chỉnh.
- Ưu điểm: Loại này thích hợp với các câu hỏi sự kiện, khả năng nhận biết
kiến thức hay tìm những mối tơng quan (giữa cấu tạo và chức năng, đặc điểm
với cấu trúc)
- Nhợc điểm: Khó có thể đánh giá học sinh ở mức độ t duy cao do học
sinh có thể đạt điểm bằng cách loại suy chứ không phải bằng kiến thức.
Loại câu trắc nghiệm dạng điền khuyết:
- Khái niệm: Là loại câu T trong đó câu dẫn có để một vài chỗ trống học
sinh phải điền vào chỗ trống những từ thích hợp.
Có 2 dạng: Có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn, hay là những câu
phát biểu với một hay nhiều chỗ trống, thí sinh phải điền vào bằng một từ hay
một nhóm từ thích hợp.
- Ưu điểm:
+ Làm mất khả năng đoán mò cuả học sinh và có cơ hội trình bày những
câu trả lời phát huy óc sáng tạo.
+ Giáo viên dễ soạn câu hỏi, thích hợp với các môn tự nhiên.
- Nhợc điểm:
+ Nhợc điểm lớn nhất của loại trắc nghiệm này việc chấm bài mất nhiều
thời gian.
+ Hơn nữa giáo viên sẽ khó cho điểm và tính khách quan không cao, đối với
những câu trả lời của học sinh không đúng với đáp án mà vẫn có lý
* Trắc nghiệm nhiều lựa chọn ( MCQ ).
- Khái niệm: Là dạng T trong đó trớc 1 câu dẫn hay 1 câu hỏi có từ 3-5
câu trả lời sẵn, trong đó chỉ có 1 phơng án là đúng hoặc đúng nhất, còn những
phơng án khác là phơng án gây nhiễu.
- Ưu điểm:
câu trả lời đúng học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà cần phải hiểu rõ vấn
đề. Nhất là đối với câu hỏi TNKQ-MCQ có khả năng gây nên những thắc mắc,
những khó khăn trong t duy, kích thích học sinh có nhu cầu hiểu biết để giải
quyết yêu cầu của câu hỏi.Từ đó, không chỉ hình thành đợc kiến thức mới cho
ngời học mà còn rèn luyện cho họ năng lực t duy, óc suy đoán nhanh nhậy.
+ Sử dụng ở khâu ôn tập, củng cố, hoàn thiện, nâng cao:
Hình thành kiến thức cho học sinh ở khâu nghiên cứu tài liệu mới có vai trò
quan trọng trong quá trình dạy học, song kiến thức của học sinh có trở nên vững
chắc hay không, lại nhờ vào khâu ôn tập, củng cố và hoàn thiện, nâng cao. Sử
dụng câu hỏi TNKQ là biện pháp có hiệu quả để nâng cao trình độ trớc khi bớc
vào kì thi.
Bộ câu hỏi đợc soạn thảo dựa vào các mục tiêu dạy học, phủ kín và phân
bố số lợng câu hỏi theo mức độ quan trọng của từng mục tiêu, nên ngời ôn tập có
thể coi việc trả lời bộ câu hỏi nh là kế hoạch chi tiết cho quá trình ôn tập.
Việc giải quyết các câu hỏi theo hệ thống các câu hỏi là điều kiện để cho
ngời đọc rà soát, ôn lại kiến thức mà mình đã học. Nh vậy sẽ củng cố lại những
kiến thức cơ bản trong 1 thời gian ngắn. Mặt khác khi gặp những câu hỏi T khó
họ phải huy động tìm lời giải đáp, giúp cho ngời học vừa ôn lại kiến thức, vừa
nâng cao đợc trình độ .
+ Sử dụng TNKQ trong khâu tự học:
Vấn đề tự học là rất cần thiết đối với mỗi học sinh do sự phát triển ngày càng
mạnh mẽ của KHKT, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng, mà những kiến thức trên lớp
do thầy cô cung cấp không thể đáp ứng đợc. Trong quá trình tự học thì câu hỏi
TNKQ là bộ công cụ rất có hiệu quả. Học sinh có thể tự đọc sách, nghiên cứu tài
liệu và tự đánh giá bằng câu hỏi TNKQ sau đó đối chiếu với đáp án. Điều này rất
hữu ích giúp học sinh tự hình thành kiến thức cho mình.
2. Quy tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
Để xây dựng đợc bộ câu hỏi TNKQ có chất lợng trớc hết chúng ta cần
phải tuân thủ đúng những quy tắc xây dựng câu hỏi TNKQ.Tuỳ từng loại câu hỏi
TNKQ mà cần có những quy tắc xây dựng sao cho phù hợp.
phải làm, phải đa ra đầy đủ các thông tin cần thiết cho thí sinh để họ xác định đ-
ợc yêu cầu trong câu hỏi.
+ Thờng dùng một câu hỏi, hay câu nhận định không đầy đủ hoặc cha
hoàn chỉnh để lập câu dẫn, đôi khi ngời ta có thể viết câu dẫn dới dạng đa ra
nhiều tổ rồi sau đó tổ hợp lại thành các phơng án chọn.
+ Trờng hợp nhiều câu hỏi trắc nghiệm đợc xây dựng dựa trên cùng một l-
ợng thông tin nh: một đoạn văn, một đồ thị, một sơ đồ, một số các câu trả lời
sẵn thì cần phải chọn câu dẫn sao cho có thể đảm bảo chắc chắn có sự liên
quan với những thông tin đã đa ra đó. Câu nọ phải độc lập với câu kia, chứ không
có sự phụ thuộc vào nhau.
+ Khi lập câu dẫn càng cần phải tránh những từ có tính chất gợi ý hoặc tạo
đầu mối dẫn đến câu trả lời nh Những câu nào sau đây trong khi một trong các
phơng án lựa chọn là tổ hợp của hai hay nhiều câu.
+ Những từ chung cho các câu lựa chọn nên chuyển lên phần cấu trúc của
câu dẫn.
+ Nên ít dùng hoặc tránh dùng thể phủ định trong câu hỏi, nếu cần thiết
phải dùng thì nhấn mạnh bằng cách gạch chân, in nghiêng hoặc in đậm thể phủ
định, nhằm thu hút sự chú ý của thí sinh, tránh hiểu nhầm yêu cầu của câu hỏi.
+ Nội dung của câu dẫn phải nằm trong nội dung và mục tiêu cần đánh giá
- Quy tắc lập phơng án chọn: [3]
Đó là những phơng án đa ra để giải quyết nhiệm vụ đặt ra ở câu dẫn thông
thờng có từ 3-5 phơng án lựa chọn, trong đó có một câu chọn là đúng và chính
xác nhất, còn những câu kia là câu gây nhiễu.
Khi lập các phơng án chọn cần phải chú ý các quy tắc sau:
+ Đảm bảo câu dẫn và câu trả lời khi gắn vào nhau phải phù hợp về mặt
cấu trúc (câu cú ,ngữ pháp ) thành một nội dung hoàn chỉnh.
+ Cần tránh xu hớng làm cho câu trả lời đúng luôn dài hơn các câu nhiễu,
tạo cơ sở cho sự đoán mò.
+ Cần làm cho tất cả các câu nhiễu có vẻ hợp lí và có sức hợp dẫn nh nhau
đối với các thí sinh nắm vấn đề đề cha chắc.
trình tìm ra mục tiêu cụ thể cần đạt đợc trong giảng dạy và học tập. Sau đó xác
định tầm quan trọng và thời gian phân bố cho từng nội dung đó, xác định các
trọng số cụ thể theo thứ tự nội dung tổng quát, chi tiết.Từ việc phân tích ở trên
chúng ta có thể lập ra một kế hoạch chi tiết cho toàn bộ câu hỏi.
B ớc 3 : Soạn thảo câu hỏi.
- Căn cứ vào các quy tắc nêu ở trên về xây dựng các câu hỏi TNKQ cho
từng loại (Đúng sai, ghép nối, điền khuyết, MCQ) và dựa vào kế hoạch đã vạch
ra, xây dựng từng câu hỏi theo mục tiêu dạy học.Tuy nhiên để có đợc lợng câu hỏi
theo đúng kế hoạch đặt ra, khi soạn thảo cần xây dựng lợng câu hỏi nhiều hơn thế.
Để đến khi kiểm định câu hỏi qua thực nghiệm sẽ giúp ta loại đợc những câu
không đạt yêu cầu mà vẫn đảm bảo tính hệ thống của bộ câu hỏi
- Khi soạn thảo câu hỏi, ngời soạn luôn tự hỏi: soạn câu ấy để làm gì?
Đánh giá đợc ai? Mức trí lực nào? Độ khó áng chừng khoảng bao nhiêu? Học
sinh phải mất bao nhiêu thời gian để trả lời câu hỏi ấy?
- Khi soạn xong cần có sự rà soát nhiều lần để tránh những sơ suất do chủ quan
B ớc 4 : Thực nghiệm kiểm định các câu hỏi:
- Các câu hỏi dù có soạn thảo cẩn thận, công phu đến đâu cũng chỉ là ý t-
ởng chủ quan của ngời soạn. Muốn biết đợc các chỉ tiêu của từng loại câu hỏi đạt
đến đâu? Có khiếm khuyết đó nh thế nào? Chất lợng câu hỏi so với yêu cầu đặt
ra có đạt không?
Điều đó sẽ đợc giải đáp qua thực nghiệm và xử lí các thông số, theo các
chỉ tiêu đặt ra .
* Để xác định giá trị của bài trắc nghiệm .
Phân tích câu hỏi theo các chỉ tiêu độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy, độ giá
trị (chúng tôi trình bày chi tiết ở chơng III)
* Có thể tóm tắt các bớc xây dựng câu hỏi T theo sơ đồ:
Bớc 1 : Xác định mục đích yêu cầu.
Bớc 2 : Xây dựng kế hoạch cho nội dùng cần T.
Bớc 3 : Soạn thảo câu hỏi.
Bớc 4 : Thực nghiệm kiểm định câu hỏi.