Giải pháp nâng cao chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh hưng yên - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục chữ viết tắt

vii

Danh mục bảng

viii

Danh mục hình

ix

Danh mục hộp

x

PHẦN I. MỞ ĐẦU


4

2.1

4

Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm

4

2.1.2 Vai trò của lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

7

2.1.3 Vai trò KCN trong phát triển kinh tế - xã hội

10

2.1.4 Nội dung nghiên cứu

12

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng lao động trong các khu
công nghiệp tỉnh Hưng Yên

14

Cơ sở thực tiễn

3.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Hưng Yên

27

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

27

3.1.3 Khái quát chung về các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

29

3.2.

34

Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu và mẫu điều tra

34

3.2.2. Thu thập dữ liệu

34

3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

35


4.1.4 Tình hình tuyển dụng lao động tại các KCN tỉnh Hưng Yên

54

4.2

Đánh giá nguồn cung lao động cho các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên

57

4.2.1 Thực trạng nguồn lao động của tỉnh Hưng Yên

57

4.2.2 Kênh kết nối người lao động và Khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên

59

4.4

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng lao động
trong các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên

4.5.

61

Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng lao động trong các khu công
71


5.2

Kiến nghị

88

5.2.1 Đối với Nhà nước

88

5.2.2 Đối với UBND tỉnh Hưng Yên

89

5.2.3 Đối với BQL các KCN tỉnh Hưng Yên

90

5.2.4 Đối với các doanh nghiệp

90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

91

PHỤ LỤC

93


:

Doanh nghiệp

NLĐ

:

Người lao động

NNL

:

Nguồn nhân lực



:

Lao động

LLLĐ

:

Lực lượng lao động

SXKD



DANH MỤC BẢNG
Số bảng
3.1

Tên bảng

Trang

Quy mô dân số và lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai
đoạn 2011-2013

29

3.2.

Tổng hợp các dự án đầu tư theo khu công nghiệp

30

4.1

Tổng số lao động trong các KCN đến năm 2014

38

4.2

Phân bổ lao động ở các KCN Hưng Yên đến năm 2014

Phân loại lao động trong các KCN tỉnh Hưng Yên theo số năm làm việc

45

4.8

Số vụ đình công chia theo loại hình doanh nghiệp tại các KCN

47

4.9

Năng suất lao động tại các KCN và năng suất lao động toàn tỉnh

50

4.10 Phân loại sức khỏe của người LĐ tại các KCN tỉnh Hưng Yên

51

4.11 Nhu cầu tuyển dụng lao động của các KCN tỉnh Hưng Yên phân theo
nghề và trình độ đào tạo

53

4.12 So sánh kết quả tuyển dụng lao động so với nhu cầu tuyển dụng của
4.13

các KCN tỉnh Hưng Yên


Số hình

Tên hình

Trang

4.1

Cơ cấu nhà ở của công nhân trong các KCN được điều tra

4.2

Tỷ lệ lao động được doanh nghiệp đào tạo, bồi dưỡng phân theo giới
tính của lao động

4.3

66
68

Tỷ lệ lao động được đào tạo, bồi dưỡng phân theo doanh nghiệp trong
các KCN Hưng Yên

69

ix


DANH MỤC HỘP
Số hộp



PHẦN I
MỞ ĐẦU
1. 1 Tính cấp thiết
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển
kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong
các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết
định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay.
Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại
nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn
lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: Con người luôn ở vị
trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Tri
thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và luôn được tái sinh với chất
lượng ngày càng cao hơn bất cứ một nguồn lực nào khác. Lịch sử phát triển nhân
loại đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận: Nguồn lực con người là lâu bền nhất, chủ
yếu nhất trong phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp tiến bộ của nhân loại.
Nguồn lao động là một trong những yếu tố quyết định sự thành công và hiệu
quả hoạt động của dự án cũng như việc thu hút các dự án đầu tư vào các KCN. Do
đó tạo nguồn lao động chất lượng cao là nhiệm vụ trọng tâm với các giải pháp đồng
bộ, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng yêu cầu lâu dài để các khu công
nghiệp (KCN) phát triển bền vững.
Hưng Yên đã hình thành 10 KCN tập trung, trong đó có 5 KCN đã có quyết
định thành lập, là nơi thu hút nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước trên địa bàn
tỉnh. Mặt khác, Hưng Yên là một trong 8 tỉnh vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và là
một trong 7 tỉnh thuộc vùng Thủ đô Hà Nội, nằm ngay cạnh 3 tỉnh: Hà Nội (14
KCN), Hải Dương (11 KCN), Hà Nam (2 KCN). Vì vậy, sức ép cạnh tranh về lao
động là rất lớn. Bên cạnh đó, nguồn lao động của tỉnh còn thiếu về số lượng và yếu

động trong các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên, từ đó đề xuất một số giải pháp để
giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động.
Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu nghiên cứu tầm quan trọng của việc
nâng cao chất lượng nguồn lao động, các giải pháp mang tính chung chung, hoặc bó
hẹp trong một mảng riêng. Cho đến nay, việc đi sâu nghiên cứu giải pháp nâng cao

2


chất lượng nguồn lao động cho các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên chưa có công trình
nghiên cứu chuyên sâu riêng. Chính vì lý do đó tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao
chất lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”.
1.2. Mục tiêu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, xác định được các giải pháp để nâng cao chất lượng lao động
cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng
lao động.
- Đánh giá thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng lao động
tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng lao động trong các doanh
nghiệp trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là giải pháp nâng cao
chất lượng lao động cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn nghiên cứu các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng
Yên, chú trọng vào khu công nghiệp lớn, lâu đời như Phố Nối A, B, Minh Đức.

Đối tượng lao động do con người chế tạo hoặc sơ chế như: sợi, sắt, thép, xi măng,
phân bón…
+ Công cụ lao động: Là những thứ mà con người dùng để tác động vào đối
tượng lao động có thể có sẵn trong tự nhiên và có thể do con người tạo ra. Trong đó
chế tạo ra công cụ lao động là đặc điểm nổi bật của con người. (Nguyễn Quang Hạn
- Nguyễn Ngọc Lịch, 2006)
- Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
“Lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế

4


đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm”; (
Nguyễn Văn Tứ, 2012)
Theo R.Nonan (2012), “Lực lượng lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở
lên có việc làm và những người đang tìm việc làm”. Như vậy, những người đang thất
nghiệp hoặc không có việc làm và không tìm việc làm như học sinh, sinh viên, người
bệnh, những người mất khả năng lao động… thì không phải là lực lượng lao động.
Lực lượng lao động nhất là nguồn lao động và chất lượng nguồn lao động có
vai trò như nhân tố hàng đầu của những nhân tố quan trọng nhất trong phát triển
kinh tế - xã hội.
Số lượng lao động: là số người lao động trong độ tuổi quy định gọi tắt là lao
động trong độ tuổi quy định và những người ngoài độ tuổi quy định nhưng thực tế
đang tham gia lao động.
Lao động trong độ tuổi quy định là những người ở trong độ tuổi nhất định
theo quy định của Nhà nước, có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình
làm việc cho mình và cho xã hội, chịu sự điều động phân bổ của nhà nước để làm
các công việc chung của xã hội. Theo quy định tại Bộ Luật lao động Việt Nam 2012,
độ tuổi lao động tính từ 16 đến 60 đối với nam là 15 đến 60 đối với nữ là 15 đến 55.
Tuy là trong độ tuổi lao động, nhưng vì nguồn lao động là toàn những thành viên

theo Nghị định số 192/CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính Phủ: KCN được
hiểu là KCN tập trung do Chính Phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác
định chuyên sản xuất công nghiệp thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công
nghiệp, không có dân cư sinh sống. Theo Luật Đầu tư (2005), KCN là khu chuyên
sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có
ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.
Những Định nghĩa trên đều phản ánh KCN với tư cách là đối tượng đặc thù
của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát triển, gồm những đặc
điểm chủ yếu về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động, ranh giới địa lý và thẩm
quyền ra quyết định thành lập.
Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các ngành công nghiệp với sự gia tăng
về số lượng các xí nghiệp sản xuất công nghiệp đã đặt ra những yêu cầu mới đối với
sự phân bố các xí nghiệp công nghiệp với tư cách là những hoạt động sản xuất đặc
thù. Sản xuất công nghiệp ngày càng đòi hỏi phải có không gian lãnh thổ tương đối
riêng biệt, tách khỏi các khu dân cư với những điều kiện đặc thù về kết cấu hạ tầng
sản xuất, về cơ chế chính sách phát triển. Do đó, sự hình thành và phát triển các

6


KCN với tư cách là không gian lãnh thổ dành riêng cho các hoạt động sản xuất công
nghiệp là biểu hiện của trình độ tập trung sản xuất cao hơn, xuất phát từ yêu cầu
mới đối với phát triển công nghiệp trên quy mô lớn của từng vùng kinh tế, từng
quốc gia trên thế giới.
Tính hiệu quả của sản xuất công nghiệp tập trung, với năng suất, chất lượng
cao là nhât tố thúc đẩy sự ra đời và phát triển KCN với quy mô và cơ cấu phù hợp.
Chính vì vậy, KCN trở thành động lực của vùng kinh tế. Không có KCN phát triển
thì không có vùng kinh tế trọng điểm theo ý nghĩa kinh tế thị trường.
2.1.2 Vai trò của lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
- Vai trò của lao động chính là vai trò của con người. Nói đến nguồn lao

Để sản xuất ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, con người trong lực lượng
sản xuất phải phát triển cao về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, giàu có về tinh thần,
trong sáng về đạo đức, trong đó trí tuệ trước hết phải là năng lực chuyên môn được
đào tạo và không ngừng hoàn thiện, nâng cao trình độ tay nghề cũng như thành thạo
các thao tác thuộc về kỹ năng.
- Lao động là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện quá trình phát triển
kinh tế - xã hội. Nguồn lao động quyết định việc tổ chức, sử dụng các nguồn lực
khác; là chủ thể của quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Các nguồn lực khác chỉ
là khách thể.
Con người không chỉ là yếu tố hàng đầu, năng động quyết định sự phát triển
của lực lượng sản xuất mà còn là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện quá trình
phát triển KT - XH. Trong quá trình ấy, sự sáng tạo và hoàn thiện phát triển từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ cộng sản nguyên thủy đến nền kinh tế trí thức.
Những thành quả của sự sáng tạo do con người đạt được, đến lượt nó lại làm tăng
thêm khả năng vốn đã rất lớn của con người làm cho nó ngày một vĩ đại hơn, kỳ
diệu hơn. Bên cạnh sự sáng tạo ra của cải vật chất, con người còn sáng tạo ra ra đời
sống tinh thần và con người ngày càng tìm tòi để vươn tới tầm cao về kỹ thuật, công
nghệ, khoa học. Đây chính là quá trình tìm tòi sáng tạo của con người và ngày càng
đưa xã hội loài người phát triển không ngừng theo hướng từ nền văn minh nông
nghiệp sang nền văn minh công nghiệp và tiếp đến là nền văn minh mới - văn minh
của trí tuệ.
- Lao động chất lượng cao gia tăng năng lực nội sinh của KCN: Thông qua
việc nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh, khả năng thu
hút đầu tư, tăng khả năng hội nhập kinh tế quốc tế.

8


Sự ra đời và phát triển của các KCN Việt Nam trong thời gian qua đã cho thấy
đây là những mô hình, địa điểm thích hợp và có nhiều lợi thế trong việc tạo ra điều



nhờ nó mà tạo ra sự thay đổi về chất của nền kinh tế. Công nghiệp phát triển, trình
độ phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa sản xuất giữa các ngành và
trong nội bộ các ngành công nghiệp ngày càng sâu sắc hơn trên cơ sở không ngừng
thay đổi trình độ công nghệ lạc hậu bằng công nghệ tiên tiến sẽ thúc đẩy nhanh hơn
quá trình CNH, HĐH đất nước.
+ Sự phát triển của công nghiệp tác động vào sản xuất nông nghiệp làm cho
năng suất lao động trọng nông nghiệp tăng cao, giải phóng một bộ phận lao động
nông nghiệp để cung cấp cho các ngành khác, góp phần làm tăng thu nhập và phát
triển, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH.
+ Sự phát triển của công nghiệp tạo điều kiện để thu hút lao động trực tiếp
vào các ngành công nghiệp và gián tiếp tạo thêm nhiều việc làm mới ở các ngành có
liên quan. Nhờ đó tạo khả năng thu hút lực lượng lao động được giải phóng khỏi
nông nghiệp sang phát triển công nghiệp.
2.1.3 Vai trò KCN trong phát triển kinh tế - xã hội
Sự phát triển của các KCN cho thấy KCN ngày càng có vai trò to lớn đối với
phát triển Kinh tế xã hội của các quốc gia đã và đang thực hiện CNH.
Về kinh tế, các KCN có vai trò đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ. Sự phát triển của các KCN đã và đang tạo nhân
tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp nhờ tạo ra những thuận lợi cho hoạt
động đầu tư sản xuất công nghiệp như:
Thứ nhất tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất công
nghiệp, thể hiện trên các phương diện:
Một là, tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng sản xuất cho các hoạt động đầu
tư hình thành các doanh nghiệp công nghiệp mới. Hai là, cung cấp cho các doanh
nghiệp đầu tư tại KCN các dịch vụ về kết cầu hạ tầng thuận tiện, chi phí thấp, từ đó
có thể tiết kiện được chi phí đồng thời rút ngắn thời gian lưu thông. Ba là, cho phép
các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận các dịch vụ về tư vấn, pháp lý cũng như thu
hưởng các chế độ chính sách của nhà nước nhanh nhất, thuận tiện nhất. Bốn là, thúc

ưu thế (lắp ráp điện tử, may mặc, giày da …), vừa có ý nghĩa quan trọng góp vào
tăng trưởng kinh tế, vừa tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Thứ năm, phát triển KCN góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. KCN, KCX
muốn tồn tại và phát triển, tất nhiên cần phải khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên
thiên nhiên và thải ra các chất thải. Do tập trung các cơ sở sản xuất nên có điều kiện
thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường do vậy KCN là
địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ nội thành, phục vụ mục tiêu
phát triển bền vững. (Hoàng Hà, 2009)

11


2.1.4 Nội dung nghiên cứu
Chất lượng lao động thể hiện trên các tiêu chí sau:
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn kỹ thuật là những
kiến thức về chuyên môn, nghề nghiệp của người lao động theo những cấp độ khác
nhau. Đánh giá trình độ chuyên môn nghề nghiệp cũng thông qua bằng cấp chuyên
môn của người lao động đã đạt được thông qua học tập và thi cử như tiến sĩ, phó
tiến sĩ, thạc sĩ, đại học, trung cấp, sơ cấp, công nhân kỹ thuật... Trình độ chuyên
môn thể hiện khả năng ứng dụng lý thuyết với thực hành để tạo ra sản phẩm. Trình
độ càng cao tư duy sáng tạo càng lớn. Trình độ chuyên môn còn thể hiện ở trình độ
tay nghề người lao động.
Các chỉ tiêu phản ánh trình độ chuyên môn kỹ thuật như:
- Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo
- Cơ cấu lao động được đào tạo:
+ Cấp đào tạo
+ Công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn
+ Trình độ đào tạo( cơ cấu bậc thợ..)
Ngoài ra còn có thể xem xét chất lượng nguồn nhân lực thông qua chỉ tiêu
biểu hiện năng lực phẩm chất của người lao động

lượng các sản phẩm và dịch vụ, đặt hiệu suất công việc lên trên hết;
– Chủ động, sáng tạo, tự giác trong công việc, thực hiện tốt nghĩa vụ nghề nghiệp;
Thực hiện nghiêm chỉnh việc đeo thẻ, mặc đồng phục (nếu có);
– Tuân thủ quy định về bảo hộ lao động, phòng chống hỏa hoạn;
– Báo cáo kết quả công tác trung thực, đúng sự thật;
– Làm việc hết mình và nỗ lực tối đa để đáp ứng các yêu cầu của công việc.
Tính chuyên nghiệp thường được quy định bởi địa vị pháp lý và bao hàm các
yếu tố: thời gian, thâm niên công tác, trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng
nghiệp vụ. Các yếu tố này gắn kết chặt chẽ với nhau tạo nên mức độ chuyên nghiệp.
Thời gian, thâm niên công tác đem lại sự thành thạo, kinh nghiệm trong lúc thực thi
nhiệm vụ. Trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ tạo khả năng hoàn
thành nhiệm vụ được giao và được hoàn thiện qua thâm niên công tác. Tính chuyên

13


nghiệp không chỉ dừng lại ở việc phát huy sự cần mẫn mà phải vươn tới sự năng
động, nhạy bén, sáng tạo, tiếp thu nhanh chóng các kiến thức, kỹ năng mới.
* Số năm làm việc hay kinh nghiệm công tác: là khoảng thời gian người lao
động trực tiếp làm việc, thực hành công việc đó ở một hay nhiều đơn vị khác nhau.
Nó thể hiện việc rèn luyện, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp thông qua thời gian, thông
qua quá trình trực tiếp làm công việc đó.
* Năng suất lao động: Năng suất lao động là phạm trù kinh tế nói lên hiệu
quả sản xuất của người lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm. Thực chất nó là
giá trị đầu ra do một công nhân tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định hoặc số
thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị đầu ra.
Năng suất lao động là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả “Năng suất lao động là
hiệu quả của hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian, nó được
biểu hiện bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc hao
phí để sản xuất ra được một sản phẩm” (Mai Quốc Chánh, 2003)

Các yếu tố trên kết hợp lại hình thành môi trường làm việc. Hoặc có thể phân loại
môi trường làm việc bao gồm: môi trường vật lý (ánh sáng, nhiệt độ, tiếng ồn, khí
hậu…) và môi trường văn hóa - tâm lý (các chuẩn mực, các quy tắc, bầu không khí
trong tổ chức, văn hóa tổ chức…)
Môi trường làm việc trong các doanh nghiệp là sự kết hợp giữa các điều kiện
vật chất và văn hóa mà qua đó thực hiện được nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu
của lãnh đạo doanh nghiệp.
- Môi trường vật chất: bố trí văn phòng, nơi làm việc ngăn nắp, gọn gàng,
khoa học, hợp lý, thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ chung và của các thành
viên trong doanh nghiệp; điều kiện cơ sở vật chất bảo đảm được yêu cầu của công
việc: diện tích phòng làm việc, môi trường làm việc không bị ô nhiễm, trang thiết bị
máy móc phục vụ cho công việc, cây xanh, điều hòa nhiệt độ…
- Môi trường văn hóa – tâm lý: là hệ thống những giá trị hình thành trong
quá trình hoạt động của doanh nghiệp, tạo nên niềm tin, giá trị về thái độ của người
lao động làm việc trong doanh nghiệp, ảnh hưởng đến cách làm việc trong doanh
nghiệp và hiệu quả hoạt động của nó trong thực tế. Môi trường văn hóa – tâm lý
được hình thành trong các mối quan hệ giữa người quản lý, người lao động trong
công việc; các chuẩn mực xử sự, nghi thức tiếp xúc hành chính; phương pháp giải

15


quyết các xung đột trong tổ chức; hệ thống các quy chế và sự thực hiện quy chế; phong
cách lãnh đạo, bầu không khí tâm lý trong tổ chức, truyền thống của tổ chức…
Môi trường làm việc có ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn lao động cũng như
chất lượng nguồn lao động của doanh nghiệp ở phương diện sau: Môi trường làm
việc tạo nên sự gắn kết trong tổ chức. Môi trường làm việc lý tưởng sẽ thu hút và
giữ được nhân tài (lao động chất lượng cao) cũng như tạo ra động lực nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, việc nghiên cứu môi trường làm việc của các doanh nghiệp là việc

nhân lực của mình. Hơn nữa, việc dự báo về bán hàng và sản xuất sản phẩm cũng
quyết định đến nhu cầu lao động của doanh nghiệp. Ví dụ như nhu cầu về lao động
tương lai của doanh nghiệp sẽ phát triển lên hay thu hẹp đi sẽ tương ứng với giai
đoạn phát triển hay suy tàn của chu kỳ sống của sản phẩm mà doanh nghiệp đó sản
xuất và bán ra…
* Điều kiện sống cho lao động và gia đình họ
Về bản chất con người là một thành viên trong tập thể, vị trí và thành tựu của
tập thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Hành động tình cảm hơn là lý trí khi muốn
cảm thấy có ích và quan trọng, muốn tham gia vào công việc chung và được nhìn
nhận như một con người. Vấn đề quan trọng, động lực quan trọng nhất của nhân lực
là họ làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình. Vì vậy, muốn khuyến khích nhân
lực làm việc thì DN phải đảm bảo thu nhập cho NLĐ, giúp họ ổn định cuộc sống
gia đình, khi đó họ sẽ an tâm làm việc, toàn tâm toàn ý với DN. Bản thân NLĐ cũng
sẽ cố gắng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy sáng kiến
trong công việc, nhờ đó chất lượng công việc sẽ tốt hơn. Không những thu nhập tốt
sẽ giữ được nhân lực giỏi, nâng cao CLLĐ tại chỗ mà còn thu hút được những nhân
lực có chất lượng cao hơn ở những nơi khác chuyển về.
* Chỗ ở cho người lao động
Nhà ở là điều kiện đầu tiên để phát triển nguồn lực con người, một yếu tố
hết sức quan trọng để phát triển sản xuất. Có câu “An cư mới lạc nghiệp", nếu
giải quyết tốt vấn đề nhà ở thì sẽ giúp người lao động ổn định sức khỏe, tái sản
xuất sức lao động, góp phần tạo nguồn lực lao động có chất lượng cho khu công
nghiệp. Việc cải thiện chỗ ở cho người lao động, công nhân trong các khu công
nghiệp cần được sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước, chủ doanh
nghiệp và toàn xã hội.

17


Tóm lại, để tạo nguồn lao động có chất lượng cao là một quá trình khó khăn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status