MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục bảng
v
Danh mục biểu đồ
vii
I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
2
1.3.2
Phạm vi nghiên cứu
2
II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
3
2.1
Cơ sở lý luận
3
2.1.1
Khái niệm tạo động lực làm việc cho người công nhân trực tiếp ở
Doanh nghiệp
3
2.1.2
Phân loại công nhân trực tiếp
Đặc điểm người công nhân trực tiếp ngành xi măng
16
2.2.2
Kinh nghiệm tạo động lực của các doanh nghiệp nước ngoài.
18
2.2.3
Kinh nghiệm tạo động lực của doanh nghiệp trong nước
19
2.2.4
Bài học rút ra
20
iii
III
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY VÀ
25
3.2
Phương pháp nghiên cứu
31
3.2.1
Phương pháp thu thập thông tin
31
3.2.2
Phương pháp phân tích dữ liệu
33
3.2.3
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
34
IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đánh giá
73
4.2
Các giải pháp để tạo động lực cho người công nhân trực tiếp trong
thời gian tới
80
4.2.1
Định hướng về tạo động lực cho người công nhân trực tiếp
80
4.2.2
Các giải pháp
81
V
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn năm 2012 - 2014
25
3.3
Cơ cấu lao động theo độ tuổi và giới tính từ năm 2012-2014
26
3.4
Cơ cấu lao động theo trình độ quản lý từ năm 2012-2014
27
3.5
Biến động lao động qua các năm 2012-2014
28
3.6
Đặc điểm về vốn của các bên liên doanh
29
4.1
41
4.6
Hệ số lương chức danh Công ty Xi măng Phúc Sơn
42
4.7
Tiền lương bình quân công nhân trực tiếp của Công ty Xi măng Phúc
Sơn và một số công ty cùng ngành trong vùng năm 2014
43
4.8
Đánh giá của người công nhân trực tiếp về tiền lương
44
4.9
Tiền thưởng và phúc lợi bình quân công nhân trực tiếp qua các năm
2012-2014
46
4.10
63
4.15
Đánh giá của công nhân trực tiếp về công tác đào tạo
65
4.16
Đánh giá về môi trường và điều kiện làm việc
70
4.17
Chỉ tiêu nắng suất lao động bình quân và tỷ suất lợi nhuận trên
doanh thu
73
4.18
Mức độ hài lòng với công việc chia theo phân xưởng
75
4.19
Mức độ hài lòng với công việc theo tuổi và giới tính
4.3
Mức độ hài lòng với công việc của người lao động
74
vii
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra nhanh
chóng, quyết liệt và trở thành xu thế phát triển không thể đảo ngược của nền kinh tế thế
giới hiện nay. Nhận thức về xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới, Việt Nam
đã xác định rõ sự cần thiết phải tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Hội nhập
kinh tế quốc tế đã và đang tiếp tục được khẳng định là nội dung quan trọng trong công
cuộc Đổi mới của Việt Nam và được thực hiện với quy mô và mức độ càng cao. Gia
Nhập WTO đã đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức. Trong bối cảnh đó,
việc phát triển kinh tế là một trong những chiến lược đặt lên hàng đầu. Con người là
một nguồn lực không thể thiếu và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển
ấy. Vì vậy, quản lý nguồn nhân lực là một hoạt động quan trọng của tổ chức.
Để phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động thì công tác tạo động lực
làm việc cho cán bộ công nhân viên trong công ty đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Động lực làm việc ví như đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy người lao động tích cực làm
việc, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. Nhận thức
được tầm quan trọng của công tác quản lý nguồn nhân lực, Công ty Xi măng Phúc
Sơn mặc dù đã thực hiện một số biện pháp tạo động lực và cũng thu được một số kết
quả khả quan, tuy nhiên, hoạt động này còn một số hạn chế làm cho năng suất và hiệu
quả kinh doanh chưa cao, người lao động chưa làm việc hết mình cho tổ chức. Sau
1.3.2.2 Phạm vi về không gian:
Nghiên cứu được thực hiện tại một số bộ phận sản xuất của Công ty Xi
măng Phúc Sơn: Xưởng khai thác, xưởng nghiền, xưởng lò nung, xưởng cơ khí.
1.3.2.3 Phạm vi về thời gian
+ Về thời gian thu thập số liệu:
Số liệu thứ cấp: Thu thập trong 3 năm 2012- 2014.
Số liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế năm 2015.
+ Đề xuất một số giải pháp thực hiện các năm 2015-2020.
+Thời gian thực hiện đề tài: 12 tháng, bắt đầu từ tháng 10/2014 đến tháng
10/2015
2
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm tạo động lực làm việc cho người công nhân trực tiếp ở Doanh nghiệp
2.1.1.1 Người công nhân trực tiếp
Theo Phạm Đức Thành (2009) cho rằng: “Người công nhân trực tiếp là tải
sản quý của mỗi doanh nghiệp. Họ là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm, hay trực tiếp thực hiện những công việc nhất
định nhằm tạo ra giá trị cho doanh nghiệp, góp phần vào việc đạt được mục tiêu sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giúp cho doanh nghiệp duy trì, phát triển vị
thế của mình trên thị trường cạnh tranh" (Phạm Đức Thành, 2009).
Đội ngũ công nhân trực tiếp là toàn bộ những người công nhân trực tiếp làm
việc trong doanh nghiệp đó.
2.1.1.2 Động lực làm việc
Sở hữu được một nguồn nhân lực dồi dào và sẵn sàng hoàn thành tốt từng
công việc được giao luôn là điều kỳ vọng của chủ doanh nghiệp. Nhưng trong mọi
tổ chức, thuộc mọi lĩnh vực vẫn tồn tại không ít những cá nhân lao động với chất
- Lao động thường xuyên trong danh sách: là lực lượng lao động do
doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương gồm: Công nhân sản xuất kinh
doanh.
- Lao động ngoài danh sách: là lực lượng lao động làm việc tại các doanh
nghiệp do công ty khác chi trả lương như: công nhân thời vụ (thuê lại lao động
từ doanh nghiệp khác).
Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện thì công nhân trực tiếp
được chia thành: lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doanh
phụ trợ, lao động phụ trợ khác.
Theo năng lực và trình độ chuyên môn công nhân trực tiếp được chia thành
các loại sau:
- Lao động có tay nghề cao: Bao gồm những người đã qua đào tạo chuyên
môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế có khả năng đảm nhận các
công viẹc phức tạp đòi hỏi trình độ cao.
- Lao động có tay nghề trung bình: Bao gồm những người đã qua đào tạo qua
lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối dài được trưởng
thành do học hỏi từ kinh nghiệm thực tế.
- Lao động phổ thông: Lao động không phải qua đào tạo vẫn được.
Phân loại công nhân trực tiếp trong doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn trong quá
4
trình tuyển chọn, bố trí sắp xếp lao động một cách khoa học, nhằm phát huy đầy đủ
mọi khả năng lao động của người lao động, phối kết hợp lao động giữa các cá nhân
trong quá trình lao động nhằm không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu
quả sử dụng lao động, tạo tiền đề vật chất để nâng cao thu nhập cho người lao động.
2.1.3 Vai trò trò tạo động lực làm việc cho người công nhân trực tiếp ở Doanh nghiệp
Động viên là chìa khoá để cải thiện kết quả làm việc. Con người chỉ làm
việc khi người ta muốn hoặc được động viên để làm việc. Cho dù là cố gắng tỏ ra
nhu cầu đó một cách phù hợp.
Trong tập thể, mỗi người lao động là những cá nhân khác nhau về, giới tính,
tuổi tác, vị trí, trình độ chuyên môn và chính những đặc điểm khác nhau này sẽ tạo
ra sự khác nhau về nhu cầu cũng như mong muốn đối với công việc của mỗi người
lao động. Ví dụ như nhu cầu của một nhân viên trẻ mới ra trường là lương cơ bản
cao, được làm công việc yêu thích và thỏa mãn cao trong khi đó nhu cầu của một
nhân viên làm việc lâu năm có nhiều kinh nghiệm bao gồm thưởng tiền hàng năm,
sự an toàn của vị trí làm việc, sự thăng tiến đều đặn, trách nhiệm đối với công việc,
vị trí trong nhóm làm việc. Do đó để tạo động lực một cách hiệu quả thì cần phải
xác định xem trong số các của người lao động nhu cầu nào đang là nhu cầu cấp thiết
nhất của đại bộ phận người lao động trong công ty và sau đó phải phân loại nhu cầu
theo từng nhóm đối tượng như nhu cầu của lao động quản lý, nhu cầu của công
nhân, nhu cầu của lao động nam, lao động nữ... từ đó xây dựng kế hoạch công tác
tạo động lực một cách hợp lý, thỏa mãn những nhu cầu cấp bách trước, có sự ưu
tiên thỏa mãn nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau.
Nhu cầu của người lao động có thể xác định thông qua phương pháp điều tra
bằng bảng hỏi với hệ thống các câu hỏi được thiết kế sẵn hoặc thông qua phương
pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với người lao động. Trên cơ sở kết quả thu thập
được cần tiến hành phân loại nhu cầu của người lao động theo các nhóm đối tượng
từ đó có thể thiết kế các biện pháp phù hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu của từng nhóm
đối tượng.
2.1.4.2 Thiết kế các biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao động
Dựa trên kết quả của công tác xác định nhu cầu của người lao động, doanh
nghiệp sẽ tiến hành xây dựng các biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao
động từ đó tạo ra động lực làm việc cho người lao động hướng tới hoàn thành mục
tiêu của tổ chức. Tuy nhiên, nhu cầu là vô hạn, nguồn lực thì hữu han. Cho nên,
doanh nghiệp tập trung chủ yếu vào việc tạo động lực cho người lao động thông qua
6
doanh nghiệp và đồng nghiệp do đó sẽ có động lực để cố gắng phấn đấu hơn nữa
7
trong công việc. Do đó hệ thống khen thưởng được xây dựng phải đảm bảo các yêu
cầu sau:
+ Khen thưởng phải gắn liền với kết quả thực hiện công việc của người lao
động. Việc bình chọn, xét duyệt người được thưởng phải được tiến hành công khai,
nghiêm túc, nhằm đảm bảo sự công bằng và chọn được đúng người xứng đáng.
Người được khen thưởng phải là những người như hoàn thành xuất sắc công việc
được giao, có những phát minh sáng kiến đem lại nhiều lợi ích cho công ty.
+ Việc khen thưởng cần tiến hành kịp thời và đúng lúc, thời gian khen
thưởng tiến hành sau khi người lao động có hành vi được thưởng càng sớm càng tốt.
+ Phải làm cho người lao động thấy rằng những nỗ lực của họ trong công
việc sẽ đem lại kết quả cao và với kết quả đó họ sẽ được nhận phần thưởng xứng
đáng. Đồng thời hình thức thưởng đưa ra phải phải đa dạng và có ý nghĩa thỏa mãn
nhu cầu nào đó mà cá nhân người lao động đang theo đuổi. Các tiêu chuẩn xét
thưởng phải cụ thể, rõ ràng, hợp lý, không được quá khó dẫn đến tâm lý chán nản
cho người lao động nếu không đạt được hoặc quá dễ dẫn đến tâm lý coi thường,
không phấn đấu. Mức thưởng phải hợp lý, có tác dụng kích thích không được quá
cao hoặc quá thấp.
+ Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được chi trả dưới dạng hỗ trợ cuộc sống
cho người lao động. Các loại phúc lợi có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo cuộc sống
cho người lao động cũng như góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
người lao động, làm cho họ yên tâm làm việc, dành nhiều thời gian hơn trong công
việc, gắn bó hơn với tổ chức từ đó đưa đến kết quả là tăng năng suất lao động. Do
đó, trước hết doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh các phúc lợi bắt buộc theo
qui định của nhà nước như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội nhằm thỏa mãn phần nào
nhu cầu an toàn của người lao động. Hơn nữa, doanh nghiệp nên nghiên cứu xây
chán trong công việc, đồng thời tạo điều kiện cho người lao động học hỏi được
những kinh nghiệm trong những lĩnh vực khác, tạo ra sự mới mẻ, thách thức trong
công việc cho người lao động.
d) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm tăng khả năng thích ứng của người
lao động với sự phát triển của môi trường
Trong điều kiện của môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng, đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực trở thành một yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của tổ chức. Bên cạnh đó, người lao động được đào tạo, có năng lực, có trình
độ cao thì sẽ tiếp cận nhanh với sự thay đổi của môi trường, nhanh chóng xác định
9
được mục tiêu và thực hiện công việc với hiệu quả cao hơn. Ngày nay sự cạnh tranh
của các doanh nghiệp không còn là sự cạnh tranh về vốn, về tài nguyên mà chính là
sự cạnh tranh về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có trình độ cao sẽ giúp doanh
nghiệp giảm chi phí khấu hao vô hình về công nghệ.
Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
kiến thức, kỹ năng cho người lao động, xây dựng chương trình đào tạo có chất
lượng cao, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, bù đắp được
những thiếu hụt về mặt kiến thức, kỹ năng của người lao động. Ngoài ra có thể tạo
điều kiện cho người lao động học tập thông qua việc hỗ trợ kinh phí, bố trí thời gian
làm việc linh hoạt. Đặc biệt là phải quan tâm đến vấn đề sử dụng sau đào tạo để
nhằm tận dụng được những kiến thức kỹ năng người lao động được đào tạo vào
thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
e) Tạo cơ hội thăng tiến đối với những người lao động có đóng góp
Xây dựng “nấc thang thăng tiến, phát triển” trong nghề nghiệp. Có thể nói,
đa phần người lao động đều có khao khát tìm kiếm cơ hội thăng tiến phát triển trong
nghề nghiệp vì sự thăng tiến chính là cách để khẳng định vị thế trong doanh nghiệp
và trước đồng nghiệp, thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng của người lao động. việc đề
thoải mái... Đồng thời, xây dựng một bầu không khí lao động tập thể thân thiện, hợp tác,
chia sẻ những thông qua các hoạt động làm việc nhóm như tổ chức các phong trào thi
đua, đoàn thể, các phong trào thể thao, văn nghệ, tham quan dã ngoại... tại đó người lao
động có cơ hội tiếp xúc giao lưu, hiểu hơn về nhau, trao đổi, học hỏi các kiến thức kinh
nghiệm từ những người khác, chia sẽ những niềm vui, nỗi buồn, những khó khăn trong
công việc cũng như trong cuộc sống. Khi đó người lao động sẽ cảm thấy gắn bó với tổ
chức với đồng nghiệp hơn, yêu thích công việc hơn, làm việc với tinh thần thoải mái, có
mối quan hệ thân thiết giữa nhữn người lao động, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau vì mục tiêu
chung của tổ chức.
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tạo động lực làm việc cho người công nhân
trực tiếp.
Động lực là hoạt động của mỗi cá nhân, là kết quả của rất nhiều nguồn lực
hoạt động đồng thời trong con người, trong môi trường sống và làm việc của con
người. Vì thế có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến động lực lao động của con người, đó
là các nhân tố thuộc về bản thân người lao động, các nhân tố thuộc về công việc
cũng như các nhân tố thuộc về tổ chức.
2.1.5.1 Các yếu tố thuộc về người lao động
11
a) Hệ thống nhu cầu cá nhân
Hành vi của con người là hành động có mục đích nhằm thỏa mãn những nhu
cầu nào đó của bản thân. Mỗi cá nhân khi tham gia vào làm việc trong một tổ chức
đều có mong muốn thỏa mãn những nhu cầu của riêng mình. Các nhu cầu đó tạo
thành hệ thống các nhu cầu của cá nhân, bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu
tinh thần như thu nhập cao, cơ hội thăng tiến, làm công việc phù hợp với năng lực
và sở trường... Nếu khi làm việc tại tổ chức các nhu cầu của họ được thỏa mãn họ sẽ
tạo ra động lực lao động thúc đẩy họ làm việc hăng say, nhiệt tình hết lòng với công
việc, gắn bó lâu dài với tổ chức, nhưng ngược lại nếu nhu cầu không được thỏa mãn
Giới tính, tuổi tác, tâm lý, tính cách, tôn giáo... đều có ảnh hưởng tới hành vi
làm việc của người lao động. Mỗi người lao động là những cá thể có các đặc điểm
cá nhân khác nhau do đó để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của tổ chức đòi hỏi
người quản lý phải quan tâm, nắm bắt và hiểu rõ các yếu tố này từ đó xây dựng các
chính sách quản lý phù hợp để nhằm phát huy được thế mạnh của mỗi cá nhân đồng
thời tạo ra động lực lao động.
e) Mức sống của người lao động
Bất kỳ người lao động nào khi tham gia vào làm việc cho một tổ chức nào
trước hết đều mong muốn có một mức lương cao. Tuy nhiên tùy thuộc vào tình
trạng kinh tế của mỗi cá nhân mà yếu tố “lương cao” được đánh giá về mức độ quan
trọng khác nhau. Đối với những người lao động có mức thu nhập thấp, tình trạng
kinh tế khó khăn thì họ luôn coi tiền lương là mục tiêu hàng đầu trong khi đó đối
với những người lao động có tình trạng kinh tế khá giả, giàu có thì lương không
phải là mục tiêu làm việc hàng đầu mà thay vào đó là các nhu cầu khác như công
việc thú vị, cơ hội phát triển nghề nghiệp... Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người
của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp nên việc đi làm để có một mức lương cao đáp
ứng các nhu cầu sinh lý hàng ngày vẫn được coi là ưu tiên hàng đầu đối với phần
lớn người lao động.
2.1.5.2 Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp
a) Vị thế và vai trò của ngành nghề trong xã hội
Những người lao động làm việc trong những ngành nghề lĩnh vực mà xã hội
quan tâm và đánh giá cao thì họ sẽ cảm thấy tự hào, yêu công việc, nỗ lực phấn đấu
trong công việc. Ngược lại, đối với những công việc thuộc những lĩnh vực mà xã
hội ít quan tâm và không đánh giá cao thì người lao động có thể không hài lòng với
công việc, dễ xuất hiện tâm lý tự ti đối với công việc đảm nhận, làm giảm động lực
13
làm việc. Do đó để tạo động lực cho người lao động, người quản lý cần phải có
14
chia thành ba loại.
Phong cách lãnh đạo độc đoán chuyên quyền là việc người lãnh đạo đưa ra
các quyết định và bắt người lao động phải tuân thủ mà không được thắc mắc,
thường tạo ra cho người lao động tâm lý căng thẳng, thực hiện công việc như một
cái máy, không có động lực làm việc; tuy nhiên lại phát huy hiệu quả trong tình
huống cần quyết định nhanh, quyết đoán.
Phong cách lãnh đạo dân chủ là người lãnh đạo quan tâm thu hút người lao
động vào quá trình ra quyết định, tham khảo ý kiến của người lao động để đưa ra
quyết định cuối cùng, tao lập được tinh thần hợp tác nhưng đôi khi sẽ gặp khó khăn
cũng như chậm trễ trong việc ra quyết định nếu người lãnh đạo không quyết đoán.
Phong cách lãnh đạo tự do, người lãnh đạo tăng quyền tự quản cho cấp dưới
bằng việc cho phép cấp dưới đưa ra các quyết định, giảm chi phí quản lý trung gian,
tuy nhiên nếu cấp dưới không đủ năng lực và sự cam kết với tổ chức thì sẽ đem lại
thiệt hại cho tổ chức.
Mỗi phong cách lãnh đạo đều có những ưu nhược điểm riêng do đó người
lãnh đạo cần xác định cho mình một phong cách lãnh đạo phù hợp để thúc đẩy nhân
viên trong công việc nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức.
e) Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp được tạo ra từ tổng thể mục tiêu, chính sách quản lý,
mối quan hệ nhân sự, bầu không khí làm việc, phong cách làm việc, những biểu
tượng vật chất và tinh thần như bài hát, trang phục, những nghi thức... tạo nên cho
doanh nghiệp bản sắc riêng, các giá trị, niềm tin, lối sống và cách thức hành động
cũng như thái độ hành vi của người lao động. Doanh nghiệp nào có văn hóa doanh
nghiệp mạnh sẽ giúp các thành viên trong doanh nghiệp gắn bó với nhau hơn, hiểu
nhau hơn, tạo ra tinh thần làm việc tự giác, đồng nghiệp thân thiện hợp tác cùng
nhau làm việc nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức.
f) Các chính sách quản lý nhân sự: bao gồm các khía cạnh từ tuyển mộ,
2.2.1 Đặc điểm người công nhân trực tiếp ngành xi măng
Với đặc thù là ngành công nghiệp nặng, công việc nặng nhọc, độc hại, phù
hợp với lao động nam hơn lao động nữ. Vì vậy, cơ cấu lao động theo giới tính của
ngành là nam nhiều hơn nữ. Theo số liệu thống kê của Tổng Công ty Xi măng Việt
Nam năm 2012, tỷ lệ lao động trong ngành là: nam chiếm 78%, nữ chiếm 32%.
16
Tuy phần lớn số lao động trong ngành là nam nhưng nhu cầu đối với công việc của
nam và nữ là khác nhau nên khi tiến hành công tác tạo động lực lao động cũng cần
phải quan tâm đến việc xác định nhu cầu của lao động theo giới tính để đưa ra các
biện pháp tạo động lực phù hợp, thỏa mãn nhu cầu của người lao động.
Độ tuổi trung bình của lực lượng lao động trong ngành là 39,76 trong đó
nhóm độ tuổi từ 30 tuổi đến dưới 50 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất tới 68,01% , đây
chính là nhóm tuổi có nhiều kinh nghiệm trong công việc, là lực lượng nòng cốt tạo
điều kiện để phát triển doanh nghiệp (Biểu đồ 2.1). Do đặc điểm về độ tuổi khác
nhau nên nhu cầu đối với công việc của mỗi nhóm tuổi cũng khác nhau. Đối với
những người lao động trẻ có thể quan tâm hơn đến mức lương hấp dẫn, cơ hội học
tập, cơ hội thăng tiến, trong khi đó những người lao động cao tuổi và có thâm niên
công tác thì nên thiết kế lại công việc theo hướng làm mới mẻ công việc, giao thêm
trách nhiệm, giao quyền tự chủ trong công việc và công việc ổn định
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu lao động của ngành xi măng Việt Nam
theo nhóm tuổi năm 2014
(Nguồn: Báo cáo thống kê về lao động Tổng Công ty Xi măng Việt Nam)
Nếu xem ở khía cạnh theo trình độ chuyên môn: qua bảng 2.1 cho thấy, lực
17
(%)
(Người)
(%)
14.386
100
14.531
100
80
0,56
81
Đại học
3879
26,96
Cao đẳng và trung cấp
1823
0,56
89
0,59
101
109,88
4.856
33,42
5.398
35,52
125
111,16
12,67
1.872
12,88
1.673
478
3,14
40
58,65
lượng
(Người)
(Nguồn: Phòng Hành chính Nhân sự Công ty Xi măng Phúc Sơn)
2.2.2 Kinh nghiệm tạo động lực của các doanh nghiệp nước ngoài.
Kinh nghiệm của Tập đoàn First Horizon
Tập đoàn First Horizon luôn nỗ lực tìm kiếm nhiều cách thức khác nhau để
nhằm tăng lợi ích cho các nhân viên trong công ty. Một trong những cách thức đã
mang lại hiệu quả cao đó là chương trình làm việc bán thời gian Prime Time được
thực hiện với sự giám sát chặt chẽ của các nhà quản trị cấp cao và có đến 90% nhân
18
viên của hãng có thể tham gia chương trình này. Với chương trình này, người lao
động có thể làm việc bốn ngày trong tuần, mỗi ngày làm việc bảy tiếng và có thể
làm việc tại nhà khi cần thiết nhưng vẫn được giữ nguyên các khoản trợ cấp hưu trí,
bảo hiểm, y tế, thậm chí còn được hưởng chế độ nghỉ phép trong năm như những
nhân viên bình thường khác. Ngoài ra, công ty còn đưa ra các chính sách trợ giúp
việc nhận nuôi con, và điều này đã khiến cho nhân viên cảm thấy hạnh phúc khi làm
việc ở đây ngay cả khi học không có kế hoạch này.
Trả lương nhân viên cao có lợi cho công ty.
trong công ty phát huy hết năng lực trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, từng
bước đưa doanh nghiệp vào sản xuất ổn định, tăng trưởng vững chắc (1966 - 1999).
Đúc kết những thắng lợi đạt được của công ty đưa ra “Suk quyết định thành bại
trong sản xuất kinh doanh không gì khác ngoài 2 yếu tố: (Đạo đức và trí thức).
Bước vào thiên niên kỷ mới thời đại của thông tin và trí tuệ : khoa học và hội nhập,
sự cạnh tranh xẩy ra ngày càng quyết liệt. Do vậy đòi hỏi mỗi doanh nghiệp hàng
ngày, hàng giờ phải chủ động đào tạo cho mình một đội ngũ kế nghiệp có đủ hành
trang về phẩm chất và năng lực để đương đầu vơí thương trường đầy khốc liệt.
+ Công ty khoá Minh khai lấy chữ tín làm hàng đầu với nhận định người ta
có thể để lại một gia sản giầu có cho hậu thế, với công ty thì luôn coi giá trị của chữ
tín là vô hình nhưng quý giá vô cùng, dù khó khăn đến đâu cũng phải giữ gìn phát
huy. Công ty đã tồn tại và phát triển trên 30 năm, luôn luôn được khách hàng tín
nhiệm, nhưng để tạo ra sự tin tưởng tuỵệt đối với chất lượng sản phẩm, mặt hàng
của công ty là các loại khoá nội mà người tiêu dùng gửi cả niềm tin, cuộc sống, gia
tài vào đó. Đó là các yếu tố mà công ty luôn theo đuổi, đặt ra mục tiêu chất lượng
từ đó việc tạo động lực cho người lao động khuyến khích nâng cao tay nghề cho đội
ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật là rất cần thiết. Tóm lại mỗi một sự thành đạt
trong kinh doanh của mỗi công ty có hàm rất nhiều yếu tố, mỗi doanh nghiệp luôn
có hướng đi riêng của mình nhưng tựu chung lại họ đều có quan điểm là tập trung
phát huy nhân tố trong đội ngũ lao động, tìm cách tạo động lực trong lao động nhằm
khai thác các tiềm năng tốt trong mỗi người lao động.
2.2.4 Bài học rút ra
Qua những nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn của các doanh nghiệp đã
chỉ ra rằng động lực lao động là một trong những yếu tố có tác động không nhỏ đến
hiệu quả lao động cũng như sự hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Động lực lao động
20