SKKN Một Số Biện Pháp Khắc Phục Lỗi Chính Tả Cho Học Sinh Tiểu Học - Pdf 41

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1. Họ và tên: LƯƠNG NGUYỄN BẢO CHÂU
2. Ngày tháng năm sinh: 20 – 05 – 1974
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: 322/33 KP1 Phường Trung Dũng Biên Hoà – Đồng Nai
5. Điện thoại: CQ: 0613 824902 ; NR: 0613918316 ;
ĐTDĐ: 0982409677
6. FAX:
EMAIL:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Trịnh Hoài Đức
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Học vị ( hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Đại học Sư phạm
- Năm nhận bằng: 2004
- Chuyên ngành đào tạo: Giáo viên Tiểu học
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC:
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giáo viên tiểu học
- Số năm có kinh nghiệm: 18 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Một vài kinh nghiệm trong việc rèn giải toán có lời văn.
+ Một vài kinh nghiệm trong việc rèn kĩ năng đọc hiểu trong phân môn tập
đọc lớp 4
+ Một vài biện pháp giảm bớt lỗi chính tả cho học sinh Tiểu học.
+ Một vài kinh nghiệm trong việc tổ chức các trò chơi giúp học sinh lớp 4
Trường Tiểu học Trịnh Hoài Đức học Tốt khái niệm và những kiến thức cơ
bản vế phân số.

Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

5
2. Một số biện pháp khắc phục
...................................
7
II. Kết quả nghiên cứu
...............................

2

2
3
3
4
5
5
5
5
5

13
C. KẾT LUẬN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ: 14
I. Bài học kinh nghiệm
...........................
14
II. Kết luận
...............................
14
III. Kiến nghị
...........................
14

hình thành.
-Hiện nay, tiếng Việt dùng hệ chữ viết
như ký tự Latin gọi là chữ Quốc Ngữ.
Theo tài liệu của những nhà truyền
giáo Bồ Đào Nha lúc trước, chữ Quốc
Ngữ phát triển từ trước thế kỷ thứ 17
rồi được chuẩn định do công của một
nhà truyền giáo người Pháp tên là
Alexandre de Rhodes (1591–1660).

Chân dung Alexandre de Rhodes

- Qua hàng trăm năm, đã có rất nhiều cuộc thảo luận được tổ chức nên đã giúp
quy tắc chính tả tiếng Việt dần được điển chế hoá tới một mức độ khả quan
hơn. Song song đó, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự chuẩn
hoá của mã chữ Unicode đã mang tính quyết định trong việc hệ thống hoá
những quy tắc về chính tả tiếng Việt. (sưu tầm từ internet)
- Theo chương trình giáo dục, khi trẻ bắt đầu làm quen với chữ Việt, việc học
đọc-viết là những kĩ năng được tiến hành song song và có vai trò quan trọng
như nhau.Trong thực tế, mặc dù được dạy khá kĩ nhưng học sinh vẫn viết sai
lỗi chính tả rất nhiều. Khi chấm bài của các phân môn Tiếng Việt thậm chí cả
lời giải của môn Toán tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài
viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của
các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao
tiếp bằng văn bản (làm văn, các bài tập luyện từ và câu...), làm các em mất tự
tin, trở nên rụt rè, nhút nhát khi thể hiện khả năng học tập trước tập thể; kết
quả học tập thấp dẫn đến tâm lí chán học, không thích học.
- Vì lý do đó, tôi đã cố gắng tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục
“để giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả”, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp,
học tập ngày càng tiến bộ hơn, đồng thời góp phần giữ gìn nét đẹp văn hóa Việt.

- Sỉ số học sinh quá đông (nhiều năm nay luôn 56 học sinh / lớp trở lên)
dẫn đến việc theo sát, giúp đỡ cho từng cá thể học sinh trong lớp vượt quá khả
năng của giáo viên do không đủ thời gian.
- Kĩ năng viết chính tả của các em không đồng đều. Mỗi em sai chính tả
ở những lỗi khác nhau. Vốn từ ngữ các em hạn hẹp do học sinh đa số chỉ thích
đọc truyện tranh hơn truyện có nhiều kênh chữ.
3. Điều tra cơ bản:
- Theo sự quan sát và ghi nhận tôi đã phân loại những học sinh viết sai
nhiều lỗi chính tả theo 3 nhóm cơ bản:

Lớp
Nhóm 1
HS khuyết tật nhẹ
trí tuệ
( 3,6%)

Nhóm 2
HS chưa
chăm học, kĩ
năng viết chưa tốt

Nhóm 3
HS khiếm khuyết
khả năng ngôn
ngữ (3,6%)

( 35,7%)
- Nhóm 1 ; nhóm 3 : Các em sai gần hết bài chính tả do khả năng trí tuệ hạn
chế, tiếp thu chậm, hay quên, phát âm không chính xác.
- Nhóm 2: Bài viết sai nhiều thậm chí có khi hơn 10 lỗi trong một bài chính tả

5
4
9
8
13
6
4/7 58
2
2
3
5
4
5
5
10
15
7
4/2 56
5
2
3
2
1
3
2
7
15
14
2
4/1 60

VI. Kế hoạch nghiên cứu:
- Việc tìm hiểu những lỗi sai chính tả của học sinh là một quá trình lâu
dài, kinh nghiệm được đút kết không chỉ trong một năm học mà có thể qua
nhiều năm giáo viên mới nắm bắt hết những sai sót của học sinh và đề ra
hướng khắc phục.
- Thông thường trong tháng đầu nhận lớp tôi quan sát các lỗi học sinh
thường mắc phải,đó là những đối tượng nằm trong nhóm nào, các em thường
mắc lỗi chính tả nguyên nhân do đâu ( do phát âm sai, không hiểu nghĩa từ,
không phân biệt được các hiện tượng chính tả gần giống nhau ...)
- Lên kế hoạch giảng dạy, vừa dạy vừa rút kinh nghiệm vừa theo dõi sự
chuyển biến của học sinh.
B. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
I. Nội dung nghiên cứu:

1. Thống kê lỗi – nguyên nhân mắc lỗi:
- Đối với nhóm học sinh khuyết tật nhẹ về trí tuệ và khiếm khuyết khả năng
ngôn ngữ ( nói lắp, nói ngọng) các em sẽ có xu hướng đọc sao viết vậy theo ý
chủ quan của bản thân nên các em sai rất nhiều do nhận thức chưa đầy đủ và
do kĩ năng đọc, viết kém. Ở những đối tượng này lỗi chính tả rất nhiều ngay
cả những từ thông dụng. Vì vậy tôi chủ yếu hướng dẫn kĩ học sinh kĩ năng
Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

5


nghe và phát âm đúng để hạn chế lỗi chính tả. Tôi thường xuyên theo dõi từng
sự tiến bộ của các em dù rất nhỏ để kịp thời động viên, khuyến khích sự cố
gắng của các em.

- ip / iêp: kiệp thời, dịp lục...
- ăm / âm: xanh thấm, lăm thăm
- im / iêm / êm: tim thuốc, khim tốn, im ái...
- ăp / âp ; ăn /ân; ăng / âng: nói lấp, tắp nặp, nhân nhó, lẳn thẳn, vằng trăng, ...
- ưu / ươu: con hưu, bươu điện
- uôm / ươm: cánh bừm, nhượm vải...
- oi/ôi : thổi sắc, dữ dọi, ...
- ong/ông: cánh đòng, lúa làm đồng...
- ui / uôi : sỏi cụi, cúi năm, cặm cuội...
* Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên
âm /ă/ lại được ghi bằng con chữ a trong các vần ay, au( máy bay, đoàn
tàu...), các nguyên âm đôi /iê, ươ, uô/ lại được ghi bằng các dạng iê,yê, ia,
ya; ươ, ưa; uô, ua (khiêng, khuyên; chia, khuya ; thương, thưa ; chuông,
chua); âm đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con chữ u và o (ví dụ: xum xuê, lòa
xòa, lũy tre). HS đa số chưa nắm được kiến thức về ngữ âm này nên các em
hay nhầm lẫn .
Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

6


- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộ đối
với các âm chính trong hầu hết các vần trên.
d/ Về âm cuối:
- HS người miền Nam phát âm thường không phân biệt các vần có âm cuối c /t /ch ;

n/ng ( bật thang, chim chíc, hỏi hang, bảo tàn, tràng lang...). Hai bán âm cuối

- Khi luyện trẻ phát âm, tôi yêu cầu nhìn khẩu hình và lắng nghe âm phát ra từ
giọng đọc mẫu ( giáo viên, học sinh), sau đó tập phát âm theo mẫu. Đối với
học sinh đọc sai l/n, ch/tr, r/g, r /gi… kiên trì tập động tác phối hợp giữa lưỡi, vòm
họng và chân răng sẽ khắc phục được khuyết điểm này. Việc luyện phát âm đúng không
phải mục đích giúp các em phát âm thật chuẩn chính âm và làm mai một tiếng địa phương
- thứ tài sản văn hóa của vùng, miền; tài sản của dân tộc- mà là giúp các em viết đúng
chính tả khi tính tự giác, ý thức của các em chưa cao ( nhất là các em học sinh ở đầu cấp).
- Khi gặp những từ khó, ít gặp tôi giúp các em đọc đúng các từ và nhắc học sinh lưu ý ghi
nhớ, giảng nghĩa từ...Ví dụ: cộc tuếch, nghếch, ngoằn ngoèo, ngọ nguậy, ... về nhà tập viết
nhiều lần từ khó ở sổ tay chính tả để nhớ.
b/ Hiểu nghĩa từ:

- Việc hiểu nghĩa từ sẽ giúp các em hạn chế sai lỗi chính tả. Khắc phục được
khiếm khuyết do giọng đọc của giáo viên không chuẩn. Đây là kĩ năng rèn
được tư duy bền vững.
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Tôi có thể cho học sinh đọc chú
giải, tra từ điển, đặt câu (nếu học sinh đặt câu có ý nghĩa rõ ràng tức là học
sinh đã hiểu nghĩa từ), chọn nghĩa đúng cho từ, tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa,
miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, mô hình, tranh ảnh,…
Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

7


- Với từ nhiều nghĩa tôi phải đặt từ trong văn cảnh và giải nghĩa từ trong ngữ
cảnh cụ thể.
Ví dụ: từ đa mang nghĩa từ điển: tự vương vào cái khiến phải bận lòng
Trong câu: Rất công bằng, rất thông minh

Trong bài viết của học sinh đôi khi các em bị sai lỗi chính tả cũng do bỏ dấu thanh
không đúng vị trí hoặc viết dấu không rõ ràng, chữ viết không rõ nét. Tôi thường nhắc các
em cẩn thận khi viết, đặt dấu thanh đúng vị trí, viết dấu, chữ phải ngay ngắn. Sự tập trung
trong công việc, học tập chính là yếu tố quan trọng giúp trẻ thành công. Vì thế tôi luôn chú
tâm theo dõi thái độ, tác phong của trẻ để giúp các em có nề nếp học tập nghiên túc, phát
huy hết năng lực học tập của mình. Hàng tuần, trong buổi sinh hoạt lớp cuối tuần, ngoài
những hoạt động sinh hoạt lớp cần có, các em cùng tổng kết xem các bài viết có liên quan
đến chữ Việt, nếu không mắc một lỗi nào sẽ được nhận bông hoa vinh dự “Người viết
chính tả tốt nhất trong tuần”.
b. Làm các bài tập chính tả thông qua các trò chơi tạo hứng thú cho
việc học chính tả:
Làm các bài tập chính tả thông qua việc tổ chức các hoạt động đa dạng, tổ chức
các trò chơi: học mà chơi, chơi mà học gây hứng thú, tâm lí thoải mái, vui vẻ giúp học sinh
tiếp nhận kiến thức nhẹ nhàng, nhớ lâu. Sau mỗi bài tập, tôi giúp học sinh rút ra các quy
tắc chính tả, những điều cần lưu ý để các em ghi nhớ. Ngoài những giờ học chính tả chính
thức theo chương trình, trong một tuần tôi dành 10 phút đầu giờ trong một, hai buổi học tổ
chức cho các em làm các bài tập chính tả chủ yếu là vui học, có thể học sinh viết trên bảng
con hoặc nêu sự chọn lựa mà không làm vào vở, tạo cho HS cảm giác đang chơi hơn là
đang học. Dựa vào những lỗi chính tả mà học sinh của tôi hay mắc phải (được ghi chú
trong giáo án sau mỗi tiết dạy hoặc tôi chuẩn bị Chiếc hộp bí mật để sau tiết học chính tả
Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

8


học sinh ghi vào tờ giấy nhỏ, không cần ghi tên, bỏ vào đó những từ, tiếng đã viết sai) tôi
đã xây dựng những bài tập, trò chơi như sau:
- Bài tập trắc nghiệm:Thi đua : Ai nhanh hơn

Trời nhiều …….., gió heo ………lại về. (mây, may)
- Bài tập phát hiện, bài tập nhận biết: Trò chơi: Thỏ vào nhầm nhà

* Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:
Trên bầu trời, đàng chim én đang chao lượng.
Con rắn trường qua bãi cỏ trên sân trườn.
- Bài tập điền khuyết: Trò chơi : Chim về tổ
* Điền vào chỗ trống:
s/x: chim…ẻ, san…ẻ, …ẻ gỗ. …uất khẩu, năng….uất.
iêt/ iêc: đi biền b…....., thấy tiêng t…/.., xanh biêng b…/..

* Điền tiếng láy thích hợp vào chỗ trống:
Dây leo chằng………, chắn cả lối đi.
Tiếng gà kêu quang ………
- Bài tập tìm từ: Trò chơi: Rung chuông vàng

Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua
gợi ý từ đồng âm, từ trái nghĩa….
* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:
Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:
Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:

* Tìm các từ chỉ hoạt động:
- Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
- Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
- Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:
* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
- Trái nghĩa với từ thật thà:
- Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:
- Bài tập phân biệt: Trò chơi : Bạn là nhà văn

tốn nhiều thời gian cho khâu chuẩn bị nên đôi khi tôi rất cân nhắc, cân đối
thời gian buổi học vì còn nhiều môn học khác cần phải rèn.
Một số trò chơi, giải nghĩa từ áp dụng công nghệ thông tin, tạo ấn tượng
và gây hứng thú học giờ chính tả cho học sinh:
Ví dụ: - Giải nghĩa từ rẻo cao bằng hình ảnh các em nắm bắt nghĩa từ dễ dàng
Hơn.
Chính tả ( nghe – viết ) : Mùa đông trên rẻo cao

-

Khi dạy bài chính tả Kim tự tháp Ai Cập tôi cho học sinh xem một
đoạn phim tư liệu về kim tự tháp để tạo ấn tượng, kích thích sự ham
hiểu biết cho các em.

Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

10


Tôi thiết kế trò chơi ô chữ kì diệu, có nhiều cách để xây dựng trò chơi này.
_ Tôi chuẩn bị hệ thống câu hỏi liên quan đến các từ ngữ cần cung cấp hay củng cố, học
sinh đoán ...các em rất hào hứng khi tham gia chơi.
Ví dụ: Củng cố kiến thức cho bài chính tả Mùa đông trên rẻo cao

- Từ khóa có 6 chữ cái, nếu giải đúng một câu hỏi sẽ xuất hiện một chữ cái có
trong từ khóa (là các từ có trong bài chính tả). Các em lựa chọn ngẫu nghiên
các ô chữ.
+ Ô thứ 1: Từ chỉ động tác nằm sát mặt đất, dùng sức đẩy thân mình về

cây, con vật đó để cả lớp cùng học tập, rút ra ghi nhớ.

con sam

chim sáo

con sói
con sứa
- Đôi khi để khởi động cho tiết sinh hoạt lớp cuối tuần ( khoảng 5 phút) tôi
bất ngờ cho các em nghe các loại âm thanh: tiếng chuông reo, tiếng gà gáy, gà kêu, tiếng
chim hót, tiếng kẻng, tiếng thùng va đập vào nhanh… yêu cầu các em ghi các từ tượng
thanh và sắp xếp chúng thành nhóm có tận cùng là ng hoặc nh.

Hoặc cho học sinh xem các hình ảnh, phim về sự vật có tranh thái bấp
bênh, không vững chắc và học sinh tìm từ thích hợp cho mỗi hình ảnh để học

Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

12


sinh nhận biết những từ đó thường được viết bằng vần

Con đường gập ghềnh .

ênh.

Những hòn đá xếp chồng thật chông chênh.

cả đến cuối năm học tôi mới nhận thấy sự thay đổi ý thức học của các em.
Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

13


- Giáo dục học sinh lòng tự hào là công dân Việt Nam để nâng cao ý thức trách
nhiệm trong học tập và giữ gìn nét đẹp tâm hồn người Việt.

C. Những biện pháp khác:
- Tôi khuyến khích học sinh sử dụng từ điển chính tả để các em giúp
nhau sửa lỗi, cùng bạn sử dụng chung các từ điển hoặc sách tham khảo, nâng
đỡ nhau trong hoạt động học tập để cùng nhau tiến bộ. Thông qua các hoạt
động này tôi rèn cho các em kĩ năng làm việc tương tác, tìm tòi, thói quen tự
học, tự giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn trong học tập ( ví dụ không biết
viết từ khó như thế nào các em tự tra từ điển chính tả hoặc từ điển tiếng Việt
để viết...). Từ đó các em sẽ được rèn chính tả mọi lúc mọi nơi, hình thành
được thói quen tốt trong học tập.
- Tôi còn lồng ghép việc rèn chính tả cho học sinh trong các tiết học khác.
Ví dụ: Khi tổ chức trong chơi củng cố trong giờ học Luyện từ và câu
các em sẽ thi đua đội nào sẽ tìm được nhiều nhất các động từ ( danh từ, tính
từ) được bắt đầu bằng âm s/x ( ch/tr; v/d/gi/r; thanh hỏi / thanh ngã) hoặc đặt
một câu ngắn mà tất cả các tiếng được bắt đầu bằng tr (ch ; v ; s ; x ...). Ví dụ:
Trân trả truyện tranh ; Sẻ sang sông ... Tìm các từ láy: có thanh hỏi, thanh ngã .
Từ đó tôi có thể cung cấp các mẹo vặt chính tả:

Luật bổng - trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của
2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng).


14


trong lớp hay bất cứ đồ vật nào trong lớp, ngoài sân trường rồi thi đua tìm từ
có tiếng bắt đầu bằng những âm mà các em hay sai hoặc dấu thanh, vần hay
nhầm lẫn ( s/x; ch/tr ; v /d/gi ; thanh hỏi / thanh ngã ; ...). Ví dụ:
o Chỉ vào chậu cảnh treo trên tường các em thi đua tìm từ có âm s /
x dùng để tả đặc điểm: xanh, xinh, xấu, xơ xác,... sạch, đơn sơ,...
Đôi khi các em tìm đến tôi để nhờ làm trọng tài phân sử đúng,
sai. Tiếng cười rộn rã vang lên sau khi tôi đưa ra kết quả cho dù
các em đúng hay là sai.
o Giờ chơi xuống sân trường tìm và viết các từ chỉ sự vật có thanh
hỏi hoặc thanh ngã: cỏ, bảng, dãy phòng học, phòng hiệu trưởng,
lá cờ đỏ,...
- Khi các em mắc nhiều lỗi chính tả trong bài viết chính khóa, tôi giúp
các em kết thành nhóm đôi bạn để cùng nhau sửa lỗi trong giờ học, giờ
chơi...
- Lớp của tôi đa số là người miền Nam do đó tôi rất chú trọng rèn các
em phát âm chính xác trong giờ tập đọc. Đây cũng là một mắc xích quan
trọng trong việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho các em.
- Để giúp học sinh mở rộng vốn từ ngữ tôi khuyến khích các em đọc
truyện, sách báo. Khi có điều kiện hoặc trong giờ kể chuyện, hay tập đọc tôi
kể sơ lược tóm tắt nội dung các câu chuyện phù hợp lứa tuổi các em. Khi kể
tôi cố gắng dùng lời thể hiện sự hấp dẫn, kích thích sự tò mò của các em để
các em tìm mua trao đổi nhau các quyển truyện hay nhằm hình thành thói
quen thích đọc sách. Ví dụ: Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài , Chiếc chìa
khóa vàng, Hiệp sĩ gỗ, Truyện cổ Grim, Truyện cổ Andessen... Hiệu quả thể
hiện ngay tức thì, ngày hôm sau các em đã mang đến lớp những quyển truyện
mà tôi đã kể và rất hãnh diện khi cầm trên tay quyển truyện cô đã nói và cùng

khắc phục lỗi chính tả là một việc làm lâu dài đòi hỏi sự tận tâm, nhẫn nại của người giáo
viên.

Kết quả cuối năm lần lượt ở các năm 2008-2009; 2009-2010; 2010-2011;
2011-2012
Điểm thi
Lớp Số
HS 0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
4/6 56
1
2
1
2
2
5
5
6
10
10
4/7 58
1


10
12
9
18
20

C. KẾT LUẬN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ:
I. Bài học kinh nghiệm:
- Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân gây lỗi, từ đó
đưa ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết, không thể thiếu trong quá
trình dạy - học tiếng Việt. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc
phục là có thể thực hiện một cách có hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi
chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền
bỉ, không được nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài
tuần nhưng cũng có những học sinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không
phải vài tuần, có khi vài tháng, thậm chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không
biết chờ đợi, nôn nóng thì chắc chắn sẽ thất bại.
- Ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm quen” với t iếng Việt, giáo viên nên
hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ
quốc ngữ… tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến sai sót.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra, … từ đó phát hiện ra
những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc phải để kịp thời sửa
chữa, uốn nắn.

- Người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để
nâng cao trình độ, tay nghề. Có nắm chắc kiến thức, giáo viên mới có thể giúp
học sinh chữa lỗi và khắc phục lỗi một cách có hiệu quả.
II. Kết luận:
"Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi



* Âm tiết có thanh nặng đi với thanh hỏi:gọn lỏn, nhỏ nhặt, vẻn
vẹn...

+ Tên các con vật, cây cối đa số đều viết bằng s: sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc,
sói, sứa, …; sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, …
+ Tên các đồ vật, con vật đều được viết bằng ch: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai,
chày, chén, chum,… chồn, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền
chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…
+ Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp
khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh,
bấp bênh, công kênh…

+ Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng
đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang
quác, ăng ẳng,... bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình,
huỳnh huỵch…
+ Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân;
vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân...

e. Giáo dục tình cảm yêu tiếng mẹ đẻ, yêu cái hay cái đẹp của chữ Việt

Sáng kiến kinh nghiệm

Lương Nguyễn Bảo Châu

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status