BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
THÂN VĂN NAM
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------------
--------------
THÂN VĂN NAM
Nguyễn Tất Thắng- Bộ môn Kinh tế - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã
hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể Thầy giáo, Cô giáo trong và ngoài khoa
Kinh tế và Phát triển nông thôn, trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam và các
ban ngành huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, cùng những tập thể và cá nhân đã
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả luận văn
Thân Văn Nam
iii
MỤC LỤC
Trang
ii
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục chữ viết tắt
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
3
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
3
1.4
3
Câu hỏi nghiên cứu
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1
Một số lý luận về quản lý nhà nước về đất đai
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến quản lý Nhà nước về đất đai
PHẦN III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
32
3.1
Ðặc điểm địa bàn nghiên cứu
32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
32
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
37
iv
3.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế 3.2
xã hội của huyện Việt Yên
45
Phương pháp nghiên cứu
Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai ở huyện Việt Yên
52
52
4.1.1 Hiện trạng sử dụng quỹ đất và bộ máy cán bộ quản lý Nhà nước về
đất đai ở huyện Việt Yên
52
4.1.2 Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai huyện Việt Yên
58
4.1.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về đất đai
huyện Việt Yên
77
4.1.4 Đánh giá chung về công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở huyện
86
Việt Yên
4.2
Định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về
đất đai ở huyện Việt Yên
92
PHỤ LỤC
114
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐS
Bất động sản
BQ
Bình quân
CC
Cơ cấu
CNH
Công nghiệp hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
GCN
SL
Số lượng
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
UBND
Uỷ ban nhân dân
XDCB
Xây dựng cơ bản
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
53
4.2
Trình độ công chức thực hiện QLNN về đất đai của huyện Việt Yên
57
4.3
Mức độ phức tạp của hệ thống pháp luật đất đai hiện nay
61
4.4
Tổng hợp số lượng bản đồ địa chính theo Luật đất đai 1993 ở huyện
Việt Yên
62
4.5
Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng năm 2012 so với năm 2014
63
4.6
Đánh giá công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử
Tổng hợp về sự hiểu biết và đánh giá của người dân về công tác cấp
Giấy CNQSD
72
4.12
Kết quả thực hiện công tác quản lý tài chính
74
4.13
Số lượt tiếp dân và đơn thư trong từng năm trên địa bàn huyện
75
4.14
Tổng hợp kết quả giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND huyện Việt
Yên (Từ 2012-2014)
4.15
76
Kết quả giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Việt Yên
giai đoạn 2012 - 2014
32
4.1
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đất đai của huyện Việt Yên
56
viii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tài sản quan trọng của quốc
gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất và đời sống.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các nhu cầu sử dụng đất ngày càng
gây ra áp lực không nhỏ đến vấn đề đất đai, đòi hỏi phải sử dụng đất tiết kiệm,
hợp lý, có hiệu quả (Luật đất đai, 1993).
Chính vì vậy, nhiều năm qua Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến đất đai,
đề ra nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm quản lý, sử dụng đất đúng
mục đích, hiệu quả, tiết kiệm. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định
những chủ trương chính sách lớn phù hợp để quản lý chặt chẽ đất đai trong thời
kỳ đổi mới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế như việc sử dụng không
theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, sử dụng chưa tiết kiệm và không đúng
mục đích làm huỷ hoại đất và môi trường, chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc
đổi mới. Các văn bản pháp luật trong quản lý sử dụng đất đai còn thiếu đồng bộ
và hạn chế đã ảnh hưởng đến việc quản lý, một số nơi tình trạng buông lỏng quản
lý, không quản lý dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật trong việc sử dụng đất.
Do đó, việc nghiên cứu quá trình thi hành luật, đánh giá công tác QLNN về đất
huyện Việt Yên hiện nay có vai trò hết sức quan trọng. Ngoài việc nâng cao hiệu
quả quản lý đất đai tại huyện Việt Yên, những vấn đề bất cập của huyện Việt Yên
cũng là những vấn đề mà nhiều huyện khác trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và trên
cả nước thường gặp phải. Do vậy giải quyết tốt những bất cập trong quản lý nhà
nước về đất đai tại huyện Việt Yên sẽ mang lại những bài học có giá trị cả về lý
luận và thực tiễn cho các huyện khác tham khảo, học tập.
Nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài
“Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang”
làm luận văn tốt nghiệp của mình. Có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng
yêu cầu hiện nay trên địa bàn huyện Việt Yên. Mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu
về công tác QLNN về đất đai trên địa bàn huyện Việt Yên, đánh giá những mặt
tốt cũng như chỉ ra được những vấn đề còn yếu kém, bất cập và nguyên nhân để
từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai
tại địa phương.
2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận QLNN về đất đai, đánh giá thực
trạng công tác quản lý đất đai tại địa phương. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải
pháp, kiến nghị nhằm phát huy những mặt tích cực và khắc phục những hạn chế
để hoàn thiện QLNN về đất đai trên địa bàn huyện Việt Yên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN về đất đai.
- Đánh giá thực trạng QLNN về đất đai trên địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đếnviệc thực hiện QLNN về đất đai trên
địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp kiến nghị để nâng cao hiệu quả
a. Khái niệm đất đai
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm đất đai, song tùy theo từng
mục đích nghiên cứu, các nhà khoa học phân chia các khái niệm cụ thể:
Về mặt thổ nhưỡng, đất là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời,
hình thành do kết quả của nhiều yếu tố như đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa
hình, thời gian (Fresco L.O, và đồng sự, 1993). Theo cách hiểu này, đất đai được
nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các
thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến
tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí
hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên,
động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người.
Về mặt đời sống kinh tế - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá (Deininger, 2003). Điều này thể hiện ở việc đất được coi là một yếu
tố đầu vào quan trọng của hầu hết mọi quá trình sản xuất, đặc biệt nó là tư liệu
sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông – lâm nghiệp. Bên cạnh
đó đất còn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn
lợi tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng
đất, sinh vật sống trên bề mặt trái đất thậm chí cả sinh vật sống trong lòng đất.
Hơn thế nữa, đất còn là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa
và an ninh quốc phòng.
Còn theo hội nghị quốc tế về môi trường tại Rio de Janerio, Brazil, (1993)
“Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu
thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt,
4
thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước
ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư
của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại’’.
mảnh đất có đặc điểm khác nhau về tính chất, khả năng sử dụng nên chúng có giá
trị riêng .
Đất đai có hạn về diện tích: Đất đai do lịch sử tự nhiên hình thành, diện
tích có tính bất biến. Hoạt động của con người có thể cải tạo được tính chất của
đất, cải biến tình trạng đất đai nhưng không thể làm thay đổi diện tích đất đai
theo ý muốn. Do tính hữu hạn về diện tích nên yêu cầu đặt ra là phải sử dụng đất
có hiệu quả
Tính lâu bền: Đất đai không bị hao mòn theo thời gian. Trong điều kiện sử
dụng và bảo vệ hợp lý, chất lượng đất có thể nâng cao không ngừng và giá trị đất
đai luôn có xu hướng tăng theo thời gian.
Đất đai có tính đa dạng, phong phú: tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất
đai và phù hợp với từng vùng địa lý, đối với đất đai sử dụng vào mục đích nông
nghiệp thì tính đa dạng phong phú của đất đai do khả năng thích nghi của các loại
cây, con quyết định và đất tốt hay xấu xét trong từng loại đất để làm gì, đất tốt
cho mục đích này nhưng lại không tốt cho mục đích khác”.
Có thể nói rằng đất không thể là đối tượng của từng cá thể. Đất mà chúng
ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta. Đất là điều kiện
vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất cho các thế hệ liếp nhau của loài
người. Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ sau.
2.1.1.2 QLNN về đất đai.
a. Khái niệm QLNN về đất đai
* Khái niệm về quản lý
Hiện nay có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho rằng
quản lý là cai trị; cũng có quan niệm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển,
chỉ huy. Quan niệm chung nhất về quản lý được nhiều người chấp nhận do điều
khiển học đưa ra như sau: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ
thông nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy
luật nhất định. Quan niệm này không những phù hợp với hệ thống máy móc thiết
bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một cơ
Vì vậy khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền năng của sở
hữu nhà nước về đất đai bao gồm: Quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất
đai, quyền định đoạt đất đai. Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực
tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai. Nhà
7
nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các
cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử
dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước. Hoạt động trên
thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà
nước về đất đai rất phong phú và đa dạng ( Hoàng Anh Đức, 1995).
Từ sự phân tích các hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai như trên, có
thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về đất đai như sau:
QLNN về đất đai là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước vừa với chức
năng đại diện sở hữu toàn dân về đất đai, vừa với chức năng QLNN về đất đai
như tất cả các nhà nước khác, đó là hoạt động có tổ chức và được điều chỉnh
bằng hệ thống các công cụ quản lý vào quan hệ đất đai trong xã hội, để đạt được
mục tiêu nắm và phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai; bảo
vệ môi trường sống và bảo vệ đất đai.
b. Vai trò của quản lý Nhà nước về đất đai
Đất đai là tặng vật quý giá mà thiên nhiên ban tặng, không do con người
tạo ra. Đất đai không tự sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hoá
từ mục đích sử dụng này sang mục đích sử dụng khác nhằm phục vụ nhu cầu
thiết yếu của con người. Lịch sử phát triển của nhân loại luôn gắn liền với đất
đai. Tất cả các cuộc chiến tranh trên Thế giới và các cuộc đấu tranh dựng nước,
giữ nước đều có liên quan đến đất đai bởi đất đai là yếu tố cấu thành lên mỗi
quốc gia, là điều kiện không thể thiếu đối với môi trường sống và mọi ngành
kinh tế (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007).
nguồn lực đất. Bên cạnh đó, pháp luật sẽ là cơ sở để phát hiện những hành vi gây
tổn hại đến tài nguyên đất, đưa ra các chế tài xử lý đối với những hành vi này.
Thứ ba, nâng cao khả năng sinh lời của đất để góp phần thực hiện mục
tiêu kinh tế xã hội của địa phương và bảo vệ môi trường thông qua việc thực hiện
các chính sách về đất đai như chính sách giá đất, chính sách thuế, chính sách đầu
tư,...Chính sách về đất đai là công cụ để cơ quan nhà nước thực hiện vai trò quản
lý của mình trong từng giai đoạn nhất định.
Thứ tư, thông qua việc giám sát, kiểm tra quản lý và sử dụng đất đai, cơ
quan quản lý sẽ nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng
sử dụng đất. Từ đó, phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải
quyết những sai phạm, kịp thời sửa chữa những sai sót gây ách tắc trong quá
trình thực hiện”.
9
c. Nguyên tắc QLNN về đất đai
* Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy,
không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản
chung thành tài sản riêng của mình được. Chỉ có Nhà nước là chủ thể duy nhất
đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có quyền trong việc quyết định số phận pháp
lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của nhà nước trong
quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Vấn đề này được quy định
tại điều 18, Hiến pháp 1992 “ Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo
quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” và
được cụ thể hơn tại điều 5, luật Đất đai 2003 “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu”, “ Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với
đất đai”, “ Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các
chính sách tài chính về đất đai”.
quy định về quy hoạch nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng.
Hiệu quả QLNN về đất đai còn nhằm giảm thiểu chi phí của các yếu tố
đầu vào và gia tăng kết quả đạt được. Điều này đòi hỏi phải chú ý đến chất lượng
công việc hàng ngày, đảm bảo các mục tiêu QLNN về đất đai được thực hiện một
cách linh hoạt, sáng tạo và phân định rõ ràng về trách nhiệm cho từng tổ chức, cá
nhân. Người đứng đầu phải là người chịu trách nhiệm trực tiếp kết quả thực hiện
các nhiệm vụ được giao (Nguyễn Thế Vinh, 2012).
*Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Nhà nước có chính sách phát huy nguồn vốn đất đai, bảo đảm các nguồn
thu tài chính từ đất đai cho ngân sách. Nhà nước điều tiết hợp lý các khoản thu,
chi ngân sách, phần giá trị tăng thêm của đất do quy hoạch, các khoản thu do đầu
tư thu được từ đất đai. có trách nhiệm thực hiện các khoản thu từ đất đai cho
ngân sách Nhà nước bao gồm:
• Tiền sử dụng đất: giao đất có thu tiền SDĐ; chuyển mục đích SDĐ từ đất
được Nhà nước giao không thu tiền SDĐ sang đất được Nhà nước giao có thu
tiền SDĐ; chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất
có thu tiền SDĐ.
• Thuế: là nguồn thu theo nghĩa vụ được quy định bởi pháp luật, là nguồn
thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước mà quận được quyền thu và giữ lại theo quy
định: việc đánh thuế SDĐ, do đất mang lại lợi ích cho các chủ đất và các nhà đầu
11
tư. Chính sách thuế vừa phải đảm bảo khuyến khích sự phát triển đất đai, vừa
đảm bảo nguồn thu cho Nhà nước. Ngoài ra các khoản phí, lệ phí cũng là những
khoản thu không nhỏ cho ngân sách quận.
• Các khoản thu nhập khác từ đất đai: có thể tạo ra các khoản thu nhập từ cho
thuê, góp vốn bằng đất hoặc trực tiếp tham gia đầu tư và kinh doanh đất đai nhằm
tạo ra lợi nhuận từ đất đai; các khoản thu từ việc Nhà nước tạo ra các giá trị gia
đẳng cũng như giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực đất đai giữa
những người sử dụng đất.
Pháp luật là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lý khác, các chế độ,
chính sách của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn. Trong hệ thống pháp
luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các công cụ pháp
luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý đất đai cụ thể như: Hiến pháp,
Luật đất đai, Luật dân sự, các pháp lệnh, các nghị định, các quyết định, các
thông tư, các chỉ thị, các nghị quyết... của Nhà nước, của Chính phủ, của các bộ,
các ngành có liên quan đến đất đai một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và các văn
bản quản lý của các cấp, các ngành ở chính quyền địa phương”.
Quy hoạch đất đai: Quy hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng
và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác quản lý đất đai. Luật Đất
đai 2003 quy định "Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật". QH
SDĐ được xây dựng để tổ chức không gian, cảnh quan kiến trúc, bố trí mặt bằng
nơi ở, làm việc, dịch vụ giải trí, bố trí giao thông... nhằm đảm bảo các nhu cầu
thiết yếu cho đời sống xã hội, sự hài hoà giữa các lợi ích, sự cân bằng giữa phát
triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
Chính sách tài chính đất đai: Chính sách tài chính về đất đai là một công
cụ trong QLNN về đất đai, công cụ tài chính tác động một cách trực tiếp đến đầu
tư, phát triển và đảm bảo đưa các quy hoạch, kế hoạch SDĐ thành hiện thực.
Công cụ tài chính gồm các quy định về nguồn thu ngân sách từ đất đai do Nhà
nước quy định. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước chủ động điều tiết giá đất
bằng quan hệ cung- cầu về đất, hệ thống thuế đất đai; cơ chế thu hút vốn đầu tư
xây dựng kinh doanh bất động sản bằng nguồn ngân sách nhà nước, vốn của các
thành phần kinh tế, vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng, bằng huy động tiền tiết
kiệm của dân thông qua chứng khoán bất động sản. Tiền sử dụng đất, các loại
thuế, các khoản phí từ đất đai là nguồn thu chính của Nhà nước trong quản lý
13
hành chính được thi hành; phải dự báo được tình hình phát triển chính, tính toán
14
đầy đủ các khía cạnh có liên quan, các lợi ích. Khi sử dụng quyết định hành
chính cần gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm của người ra quyết định, mỗi cán
bộ, mỗi bộ phận phải có trách nhiệm đầy đủ về việc sử dụng các quyền đó. Bởi
vì, cấp ra quyết định càng cao thì phạm vi ảnh hưởng của quyết định hành chính
khi sai sót xảy ra càng lớn.
Phương pháp kinh tế: Phương pháp kinh tế tác động vào đối tượng SDĐ
thông qua các lợi ích kinh tế. Là cách thức tác động gián tiếp của Chính quyền
lên đối tượng quản lý nhằm làm cho họ quan tâm đến hiệu quả cuối cùng của
hoạt động, từ đó đối tượng tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Phương pháp kinh tế chính là phương pháp tác động thông qua sự vận động của
các phạm trù kinh tế. Nhà nước tác động lên đối tượng quản lý trên cơ sở vận
dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế- kỹ thuật.
Phương pháp kinh tế tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thực cho đối tượng bị quản
lý, cho nên tác động rất nhạy bén, linh hoạt, phát huy được tính chủ động của
mỗi cá nhân và tập thể. Nếu áp dụng biện pháp kinh tế đúng đắn, các lợi ích được
thực hiện thoả đáng thì tập thể, con người trong hệ thống sẽ quan tâm hoàn thành
nhiệm vụ. Điều này giúp cho các cơ quan chính quyền giảm được việc điều hành,
kiểm tra đôn đốc và đất đai sẽ được sử dụng hiệu quả hơn, mang lại nhiều lợi ích
cho xã hội.
Phương pháp tuyên truyền giáo dục: Tuyên truyền, giáo dục trong
hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai là biện pháp tác động của chính
quyền vào nhận thức, tình cảm của người dân và cán bộ quản lý, nhằm nâng cao
tính tự giác, tính tích cực và nhiệt tình tham gia vào các hoạt động QLNN về đất
đai. Quản lý nhà nước về đất đai chỉ có thể thành công khi nó nhận được thái độ
và hành động ủng hộ, hưởng ứng của người dân. Nhiệm vụ của nhà nước là tuyên
Nội dung chủ yếu của hệ thống chính sách, pháp luật liên quan tới chế độ
SDĐ và chế độ quản lý có vai trò quan trọng hàng đầu, vì nó quyết định mức độ
và khả năng huy động tiềm lực của xã hội và của bộ máy nhà nước trong sự
nghiệp quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên to lớn là đất đai - Nó bao gồm
những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai, quy định
những nội dung của hoạt động QLNN về đất đai, quy định quyền và nghĩa vụ của
các tổ chức quản lý đất đai ở các cấp, quy định những hình thức, cách thức xử lý
các vi phạm pháp luật trong quản lý và SDĐ.
16