BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
MAI HẢI TRANG
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BA ĐOẠN CHẢY
QUA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2014
CHUYÊN NGÀNH
: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ
: 60 44 03 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THANH LÂM
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của cá
nhân. Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, tư liệu sử dụng
trong luận văn này được thu thập từ nguồn thực tế .
Hà Nội, ngày
tháng
tháng
năm 2015
Học viên
Mai Hải Trang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các từ viết tắt
vi
3
1.2 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng nước
6
1.2.1 Các chỉ tiêu hóa lý
6
1.2.2 Các chỉ tiêu vi sinh
9
1.3 Vai trò và ý nghĩa của nước đối với con người
10
1.4 Tình hình chất lượng nước sông trên Thế giới và Việt Nam
11
1.4.1 Tình hình chất lượng môi trường nước sông trên Thế giới
11
1.4.2 Tình hình chất lượng môi trường nước sông ở Việt Nam
13
Page iii
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
22
2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa
22
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp :
23
2.3.4 Phương pháp đánh giá chất lượng nước dựa vào quy chuẩn Việt Nam
(QCVN 08: 2008/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước mặt)
23
2.3.5 Phương pháp đánh giá chất lượng nước dựa vào chỉ số chất lượng
nước (WQI)
2.3.6 Phương pháp phân tích tổng hợp
24
28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.3.3 Chất dinh dưỡng
47
3.4 Đánh giá chất lượng nước mặt dựa vào chỉ số chất lượng nước (WQI)
48
3.4.1 Kết quả tính toán WQI
48
3.4.2 Đánh giá chất lượng nước bằng WQI
50
3.5
Các nguồn có nguy cơ ô nhiễm nước sông Ba
53
3.5.1 Các hoạt động công nghiệp
53
3.5.2 Các hoạt động nông nghiệp
54
59
3.6.2 Giải pháp công trình
63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
68
Phụ lục
Error! Bookmark not defined.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1
BTNMT
Bộ Tài nguyên và Môi trường
7
KTXH
Kinh tế xã hội
8
LVS
Lưu vực sông
9
NTU
Độ đục
10
PTBV
Phát triển bảo vệ
11
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
17
WQI
Chỉ số chất lượng nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
1.1
Chất lượng nước mặt trên thế giới
13
1.2
Một số đặc trưng cơ bản của 9 hệ thống sông chính ở Việt Nam
14
24
2.4
Bảng quy định các giá trị qi, BPi
26
2.5
Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với DO% bão hòa
27
2.6
Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH
27
2.7
So sánh giá trị WQI
28
3.1
Tỷ lệ các loại nhóm đất tại Phú Yên
2.1 Bản đồ tỉnh Phú Yên và vị trí lấy mẫu
21
3.1
Giá trị pH tại các điểm quan trắc trên sông Ba so với QCVN
08:2008,chuẩn A1
39
3.2
Giá trị DO tại các điểm quan trắc so với QCVN08:2008,chuẩn A1
3.3
Giá trị BOD5 tại các điểm quan trắc trên sông Ba so với
40
QCVN08:2008,chuẩn A1
3.4
41
Giá trị COD tại các điểm quan trắc trên sông Ba so với
QCVN08:2008, chuẩn A1
44
tại các điểm quan trắc trên sông Ba so với
QCVN08:2008, chuẩn A1
45
3.10 Biến thiên pH tại các trạm quan trắc tỉnh Phú Yên
46
3.11 Biến động COD qua các năm tại các trạm quan trắc tỉnh Phú Yên
46
3.12 Biến động NO3- qua các năm tại các trạm quan trắc tỉnh Phú Yên
47
3.13 Biến động NH4+ qua các năm tại các trạm quan trắc tỉnh Phú Yên
48
3.14 Giá trị WQI tổng tại các địa điểm quan trắc
52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
xuống các dòng sông và ven biển đã làm cho chất lượng môi trường nước ngày
càng suy giảm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
Phú Yên đã có nhiều thay đổi trong việc thay đổi phát triển kinh tế - xã hội gắn liền
với việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tuy nhiên , bên cạnh
những thành tựu đó thì sự thay đổi trong công nghiệp hoá- hiện đại hóa đã ảnh hưởng
lớn tới điều kiện tự nhiên và môi trường xung quanh .
Nhận thấy vai trò quan trọng của hệ thống sông Ba đối với sự phát triển kinh
tế trong vùng cũng như để có cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý quy hoạch, quản
lý khai thác nhằm bảo vệ môi trường nước lưu vực sông. Tôi xin chọn đề tài “Đánh
giá chất lượng nước sông Ba đoạn chảy qua tỉnh Phú Yên năm 2014”.
Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng và diễn biến môi trường nước sông Ba đoạn chảy qua
tỉnh Phú Yên dưới tác động của phát triển kinh tế, xã hội;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm bảo vệ môi trường
nước.
Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đúng hiện trạng chất lượng nước sông Ba chảy qua tỉnh Phú yên
- Xác định nguồn và mức độ ảnh hưởng tới chất lượng nước sông.
- Đề ra các giải pháp mang tính khả thi và phù hợp với khu vực nghiên cứu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Page 3
mặt đường,…kéo theo các chất bẩn làm cho hoạt động sống của động vật, thực vật,
vi sinh vật và xác chết của chúng xuống cống rãnh, sông suối, thủy vực,… Do đó,
làm gia tăng hàm lượng các chất bẩn trong nước. Mặt khác, trong mỗi trận lũ, nước
lũ sẽ chảy tràn qua các đô thị, khu dân cư, khu sản xuất,… và nước sẽ làm hòa tan
hoặc cuốn trôi một lượng lớn chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất, phân bón và các
tạp chất khác xuống thủy vực. Có thể thấy ô nhiễm nước có nguồn gốc từ tự nhiên
có diễn biến phức tạp và khó kiểm soát, có thể tác động trên phạm vi lớn với mức
độ nghiêm trọng. Vì vậy, cần có các biện pháp quản lý và dự báo phù hợp để hạn
chế các tác động do tự nhiên gây ra. (Đặng Kim Chi, 2006)
b. Sự ô nhiễm nước từ các hoạt động của con người
Trong quá trình sinh hoạt, sản xuất của mình con người không những khai
thác tài nguyên thiên nhiên mà còn thải ra một lượng lớn chất thải bao gồm chất thải
rắn, khí thải và nước thải. Nước thải được thải ra từ các hoạt động sinh hoạt, sản
xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải nếu không được xử lý một cách
triệt để sẽ tác động rất lớn đến chất lượng nguồn nước và cũng là một trong những
nguyên nhân gây ô nhiễm nước nghiêm trọng. Trong các hoạt động của con người,
thì hoạt động công nghiệp là một trong những hoạt động gây tác động đến môi
trường nước tương đối lớn. (Lê Văn Khoa, 2000)
Tùy vào các loại hình công nghiệp khác nhau mà thành phần, tính chất và
nồng độ của nước thải công nghiệp cũng khác nhau. Tuy nhiên, nước thải công
nghiệp thường chứa một lượng lớn các chất hòa tan và có tính chất nguy hiểm. Vì
vậy, nếu không có các biện pháp xử lý hiệu quả thì sẽ gây ô nhiễm môi trường nước
nghiêm trọng. (Lê Văn Khoa, 2000)
Ví dụ như hiện tượng “dòng sông chết” trên lưu vực sông Thị Vải là một
minh chứng điển hình. Công ty Vedan mỗi ngày xả thẳng ra sông Thị Vải 5000
m3 nước/ngày đêm mà không qua xử lý đã làm cho tính chất lý hóa của môi
quá trình canh tác con người đã sử dụng một lượng lớn các hóa chất bảo vệ thực
vật, các loại phân bón vô cơ, hữu cơ. Tuy nhiên, cây trồng không hấp thụ hết hoặc
chưa kịp hấp thụ hết lượng hóa chất này mà tiếp xúc với nguồn nước thì bị nước
hòa tan, cuốn trôi và sẽ gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước. Một hiện tượng
thường thấy trong thời gian gần đây là hiện tượng “nước nở hoa” ở các thủy vực có
tiếp nhận nguồn nước thải từ hoạt động nông nghiệp. Đây được xem là hiện tượng
phú dưỡng nguồn nước do trong nước có chứa một hàm lượng lớn các chất dinh
dưỡng như Nitơ, Photpho, Cacbon. Đây là các thành phần có trong phân bón mà cây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
trồng không hấp thụ được từ hoạt động bón phân của con người. Qua đó, chúng ta
thấy rằng môi trường nước bị ô nhiễm còn do hoạt động nông nghiệp của con
người. (Lâm Minh Triết và Huỳnh Thị Minh Hằng, 2008)
Như vậy, với các hoạt động của mình, con người đã trực tiếp hoặc gián tiếp
tác động đến môi trường nước, trong đó hoạt động công nghiệp là một trong những
hoạt động gây ảnh hưởng đến nguồn nước lớn nhất. Chính vì vậy, cần có các biện
pháp quản lý và xử lý chặt chẽ các hoạt động của con người để hạn chế những ảnh
hưởng đến môi trường nước cũng như đề xuất các biện pháp xử lý nước thải một
cách hiệu quả hơn.
1.2. Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng nước
Để đánh giá chất lượng nước cũng như mức độ gây ô nhiễm nước, có thể dựa
vào một số chỉ tiêu cơ bản và quy định giới hạn của từng chỉ tiêu đó theo Luật môi
trường của một quốc gia hoặc tiêu chuẩn Quốc tế qui định cho từng loại nước sử
dụng cho các mục đích khác nhau. Kết hợp các yêu cầu về chất lượng nước và các
chất gây ô nhiễm có thể đưa ra một số chỉ tiêu phù hợp.
1.2.1.Các chỉ tiêu hóa lý
1.2.1.1. Độ đục (TSS)
Vượt qua giới hạn trên, sắt có thể gây nên những ảnh hưởng không tốt.
Sắt có mùi tanh đặc trưng, khi tiếp xúc với khí trời kết tủa Fe (III)
hydrat hình thành làm nước trở nên có màu đỏ gạch tạo ấn tượng không tốt cho
người sử dụng.
Cũng với lý do trên, nước có sắt không thể dùng cho một số ngành công
nghiệp đòi hỏi chất lượng cao như tơ, dệt, thực phẩm, dược phẩm,…
Kết tủa sắt lắng đọng thu hẹp dần tiết kiệm hữu dụng của ống dẫn mạng lưới
phân phối nước.
1.2.1.6. Nitrogen-Nitrit (N-NO2)
Nitrit là một giai đoạn trung gian trong chu trình đạm hóa do sự phân hủy các
chất đạm hữu cơ. Vì có sự chuyển hóa giữa nồng độ các dạng khác nhau của
nitrogen nên các vết nitrit được sử dụng để đánh giá sự ô nhiễm hữu cơ. Trong các
hệ thống xử lý hay hệ thống phân phối cũng có nitrit do những hoạt động của vi
sinh vật. Ngoài ra nitrit còn được dùng trong ngành cấp nước như một chất chống
ăn mòn. Tuy nhiên trong nước uống, nitrit không được vượt quá 0,1 mg/l.
1.2.1.7. Nitrogen – Nitrat (N-NO3)
Nitrat là giai đoạn oxy hóa cao nhất trong chu trình của nitrogen và là giai
đoạn sau cùng trong tiến trình oxy hóa sinh học. Ở lớp nước mặt thường gặp nitrat ở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
dạng vết nhưng đôi khi trong nước ngầm mạch nông lại có hàm lượng cao. Nếu
nước uống có quá nhiều nitrat thường gây bệnh huyết sắc tố ở trẻ em. Do đó trong
nguồn nước cấp do sinh hoạt giới hạn nitrat không vượt quá 6mg/l.
1.2.1.8. Ammoniac (N-NH4+)
Amoniac là chất gây nhiễm độc cho nước. Sự hiện diện của amoniac trong
nước mặt hoặc nước ngầm bắt nguồn từ hoạt động phân hủy hữu cơ do các vi sinh
vật trong điều kiện yếm khí. Đây cũng là một chất thường dùng trong khâu khử
nước thải. Phương pháp này không cần chất xúc tác nhưng nhược điểm là không có
tính bao quát đối với các hợp chất hữu cơ (thí dụ axit axetic) mà trên phương diện
sinh học thực sự có ích cho nhiều loại vi sinh trong nước. Trong khi đó nó lại có
khả năng oxy hóa vài loại chất hữu cơ khác nhau như celluloz mà những chất này
không góp phần làm thay đổi lượng oxy trong dòng nước nhận ở thời điểm hiện tại.
1.2.1.13. Nhu cầu oxy sinh hóa(BOD)
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) được xác định dựa trên kinh nghiệm phân tích
đã được tiến hành tại nhiều phòng thí nghiệp chuẩn, trong việc tìm sự liên hệ giữa
nhu cầu oxy đối với hoạt động sinh học hiếu khí trong nước thải hoặc dòng chảy bị
ô nhiễm. BOD có ý nghĩa biểu thị lượng các chất hữu cơ trong nước có thể bị phân
hủy bở các vi sinh vật, khi quá trình oxy hóa sinh học xảy ra thì các vi sinh vật sử
dụng oxy hòa tan. Vì vậy, xác định tổng lượng oxy hòa tan cần thiết cho quá trình
phân hủy sinh học là phép đo quan trọng đánh giá chất lượng nước.
(Đặng Kim Chi, 2006)
1.2.2 Các chỉ tiêu vi sinh
1.2.2.1 Fecal coliform
Nhóm vi sinh vật Coliform được dùng rộng rãi làm chỉ thị của việc ô nhiễm
phân, đặc trưng bởi khả năng lên men lactose trong môi trường cấy ở 35 – 370 C với
sự tạo thành axit aldehyd và khí trong vòng 48h.
1.2.2.2. Escherichia Coli (E.Coli)
Escherichia Coli, thường được gọi là E.Coli hay trực khuẩn đại tràng, thường
sống trong ruột người và một số động vật. E.Coli đặc hiệu cho nguồn gốc phân,
luôn hiện diện trong phân của người và động vật, chim với số lượng lớn. Sự có mặt
của E.Coli vượt quá giới hạn cho phép đã chứng tỏ sự ô nhiễm về chỉ tiêu này. Đây
được xem là chỉ tiêu phản ánh khả năng tồn tại của các vi sinh vật gây bệnh trong
đường ruột như tiêu chảy, lị…
(Đặng Kim Chi, 2006)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Ngày nay, với sự phát triển công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số đã làm cho
nguồn nước tự nhiên bị hao kiệt và ô nhiễm trầm trọng. Bên cạnh những lợi ích mà nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
mang lại thì nước còn là môi trường trung gian giúp cho việc lan truyền các dịch bệnh
như thương hàn, lị, tả, bại liệt, viêm gan, các ký sinh trùng gây bệnh như giun, sán.
Cuộc sống trên Trái Đất bắt nguồn từ nước. Tất cả sự sống trên Trái đất đều
phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn nước. Do đó, cần phải có biện pháp quản lý,
bảo vệ và sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý để tránh làm cho nguồn nước bị
ô nhiễm. Phải xem nước, bảo vệ nước và cung cấp nước là một chiến lược quốc
gia. Bảo vệ nước chính là bảo vệ sự sống của con người
1.4. Tình hình chất lượng nước sông trên Thế giới và Việt Nam
1.4.1. Tình hình chất lượng môi trường nước sông trên Thế giới
Các dòng sông ngoài việc cung cấp nước cho mục đích sản xuất, sinh hoạt,
khai thác các nguồn lợi sẵn có thì bên cạnh đó nó cũn là nơi tiếp nhận một khối
lượng chất thải rất lớn từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Tiến độ
ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển khoa học kỹ thuật. Do dân số
trên Trái Đất ngày càng tăng nhanh đã gây áp lực lớn tới tài nguyên nước trên hành
tinh, con người ngày càng xả thải nhiều chất thải độc hại và chưa có biện pháp quản
lý và xử lý triệt để nguồn nước thải dẫn đến chất lượng nước ngày càng suy giảm.
Hầu hết các hoạt động của con người đều ảnh hưởng đến chất lượng nước. Việc xử
lý nước thải là một vấn đề rất khó khăn và tốn nhiều thời gian. Ở các nước phát
triển, ước tính có khoảng 90% nước thải được thải trực tiếp vào sông, hồ mà không
qua bất kì biện pháp xử lý nào hoặc có biện pháp xử lý nhưng không triệt để đã gây
ra nhiều ảnh hưởng đến môi trường nước (Trần Đức Hạ, 2002).
Tại Mỹ, mỗi năm có 850.000.000 gallon nước thải do bị rò rỉ và hệ thống cống
thoát nước kết hợp không đồng bộ, đã gây ra ô nhiễm các nguồn nước sông, hồ và vịnh ở
Thị Thanh Hương, 2010).
Tại Thái Lan tình hình ô nhiễm môi trường nước ở nhiều khu vực cũng đang
trong tình trạng tương tự. Theo kết quả nghiên cứu của Thares Srisatit và cộng sự cho
thấy tại Bangkok môi trường nước tại các khu công nghiệp đang trong tình trạng báo
động. Trong 30 mẫu phân tích thì có đến 27 mẫu cho thấy các chỉ tiêu BOD5, COD, N
tổng vượt TCCP từ 4 - 6 lần, trong đó có một số chỉ tiêu như Pb, As vượt TCCP từ 7 - 8
lần. Sông Rio Bogofa ở Colombia ô nhiễm đến mức không có sinh vật nào sống được và
không có khu dân cư nào sống ở gần đó (Hoàng Thị Lan Anh, 2002).
Nguồn nước trên thế giới có thể bị ô nhiễm bởi các tác nhân khác nhau được
thể hiện qua bảng 1.1.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Bảng 1.1 Chất lượng nước mặt trên thế giới
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Tác nhân gây ô nhiễm
Sông
Hồ, ao
++
+
+
(Nguồn: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản – JICA, Báo cáo giữa kỳ (Báo cáo
chính) Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị Việt nam, tháng 12 năm 2010)
Ghi chú: (+ + +) mức nghiêm trọng, (+ +) mức vừa phải, (+) mức ít, (-) rất
ít hoặc không nghiêm trọng.
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) vừa công bố kết quả nghiên
cứu cho thấy, tình trạng biến đổi khí hậu đã làm nghiêm trọng hơn các vấn đề về nguồn
nước vốn đã hết sức căng thẳng tại các quốc đảo ở khu vực Thái Bình Dương. Thống
kê cho thấy, tỷ lệ gần 10% số ca tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi ở các quốc đảo này bắt
nguồn từ các nguyên nhân liên quan đến nước và 90% 12 các ca tử vong còn lại là do
những nguyên nhân liên quan đến các điều kiện mất vệ sinh (Trịnh Thị Thanh, 2012).
Như vậy chúng ta nhận thấy rằng, chất lượng nước tại nhiều con sông lớn
trên thế giới bị ô nhiễm khá nghiêm trọng, mỗi chất thải công nghiệp thì ứng với
những nồng độ và liều lượng hóa chất khác nhau. Do đó, việc cần làm trước tiên là
phải tiến hành đánh giá, kiểm tra, quan trắc hệ thống sông, để xác định được cụ thể
thành phần của nguồn nước thải gây ô nhiễm, từ đó có thể xác định được mức độ
ảnh hưởng của chúng, đồng thời đề xuất những biện pháp nhằm hạn chế sự tác động
tiêu cực đến chất lượng nước sông.
1.4.2. Tình hình chất lượng môi trường nước sông ở Việt Nam
Nước ta có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, nếu chỉ tính các sông có chiều
dài từ 10km trở lên và có dòng chảy thường xuyên thì có tới 2.372 con sông, trong
đó, 13 hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực trên 10.000 km2,10 trong số 13 hệ
thống sông trên là sông liên quốc gia(Niên giám thống kê, 2013).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
9,0
798
9.07
9,7
9,7
1.550
5.160
Ngoài
Trong
nước
nước
13.260
1,7
7,3
15.180
81,3
126,5
-
-
4
Mã
10.800
17.600
28.400
5,6
14,0
19,6
1.110
5.500
5
20,1
20,1
1.940
16.500
7
Ba
-
13.900
13.900
-
9,5
9,5
683
9.140
8
53,0
500,0
7.265
28.380
10 Các sông khác
-
66.030
66.030
-
94,5
94,5
1.430
8.900
837.430
330.990
lưu lượng nước đổ về các sông giảm. Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở
sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được xử lý đã và đang xả thải trực
tiếp ra các sông (Viện Quy hoạch thuỷ lợi, 2002)
Bảng 1.3. Chất lượng môi trường nước trên một số con sông
ở Việt Nam năm 2010
Sông ngòi
Vùng
TT
Thượng
lưu
Nước
Nước ven
Hạ lưu
ngầm
biển
1
Tây bắc
+++++
++++
++++
+++
++++
++++
5
Duyên hải Nam Trung Bộ
+++++
++
++++
++++
6
Tây Nguyên
+++++
++++
+++++
Ô nhiễm nước mặt tại các khu vực nội thành của các thành phố lớn như Hà
Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế rất nghiêm trọng. Trong đó, toàn bộ hệ thống
ao, hồ, kênh rạch và các sông nhỏ là nơi tiếp nhận và vận 14 chuyển nước thải của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
các khu công nghiệp, khu dân cư, đang ở trong tình trạng ô nhiễm vượt quá mức
tiêu chuẩn cho phép 5 – 10 lần (đối với tiêu chuẩn nước mặt loại B theo TCVN:
5942 – 1995). Các ao, hồ trong nội thành phần lớn bị phú dưỡng hoá đột biến và tái
nhiễm bẩn chất hữu cơ .
Bảng 1.4. Nồng độ một số chất trong một số con sông nội thành
ở Việt Nam năm 2010
TT
Tên các con sông
BOD5
NH4 + -
TSS
(mg/l)
N (mg/l)
(mg/l)
Sông Hương (Huế)
7
0,56
65
-
4
Sông Hàn (Đà Nẵng
4
0,21
65
-
5
Sông Sài Gòn (Hồ Chí Minh)
9
0,85
TCVN: 5942-1995 loại A
6
0,50
50
2.000
(Nguồn: Sở tài nguyên môi trường Tỉnh Phú Yên, 2013)
Trên lưu vực sông Cầu, nước mặt tại vùng trung lưu và hạ lưu đang bị ô nhiễm
cục bộ bởi các hợp chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng (SS) và dầu mỡ. Đoạn sông Cầu chảy
qua Thái Nguyên nước đục, có màu đen, có mùi và giá trị thông số SS, BOD5, COD
vượt TCVN: 5942 – 1995 loại A từ 2 – 3 lần. Môi trường nước mặt của lưu vực sông
Nhuệ - Đáy đang chịu sự tác động mạnh của nước thải sinh hoạt, các hoạt động công
nghiệp, nông nghiệp và hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trong khu vực. Hiện nay, trên
lưu vực sông này chất lượng nước của nhiều đoạn sông đó bị ô nhiễm tới mức báo
động. Nước sông bị ô nhiễm chủ yếu bởi các chất hữu cơ, dinh dưỡng, lơ lửng, mùi hôi
thối, độ màu và vi khuẩn, đặc biệt vào mùa khô. Xu hướng ô nhiễm của nước sông
trong lưu vực ngày càng tăng (Bộ tài nguyên và môi trường, 2006)
Còn tại hệ thống sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng mạnh của nhiều nguồn tác
động trên toàn lưu vực, phần hạ lưu của sông bị ô nhiễm nghiêm trọng, có đoạn đã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16