MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục bảng
vii
Danh mục các chữ viết tắt
viii
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
1
Tính cấp thiết của đề tài:
1
1.1.3 Đấu giá quyền sử dụng đất.
6
Đấu giá đất ở một số nước trên thế giới.
1.2.1 Đấu giá đất ở Úc.
1.3
8
8
1.2.2 Đấu giá đất ở Đài Loan.
11
1.2.3 Đấu giá đất ở Nhật Bản.
12
Đấu giá quyền sử dụng đất ở Việt Nam.
14
1.3.1 Quá trình hình thành giá đất ở Việt Nam.
14
1.3.2 Cơ sở pháp lý của đấu giá quyền sử dụng đất ở Việt Nam.
Thường Tín, Thành phố Hà Nội.
34
2.1.4 Kết quả đấu giá ở một số dự án đấu giá QSDĐ trên địa bàn
huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2014.
2.2
2.1.5 Đánh giá hiệu quả của công tác đấu giá quyền sử dụng đất.
35
2.1.6 Đề xuất một số giải pháp đối với công tác đấu giá QSD đất.
35
Phương pháp nghiên cứu.
35
2.2.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu liên quan.
35
2.2.2 Phương pháp điều tra .
35
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng các phần mềm máy tính.
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội.
41
Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Thường
Tín, thành phố Hà Nội.
3.3
34
49
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
49
3.2.2 Tình hình quản lý đất đai .
50
3.2.3 Nhận xét chung về tình hình quản lý và sử dụng đất.
55
Tình hình thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện
Thường Tín, thành phố Hà Nội.
56
67
3.4.2 Dự án đấu giá quyền sử dụng đất ở tại xã Thắng Lợi, huyện
Thường Tín.
70
3.4.3 Dự án đấu giá quyền sử dụng đất ở tại xã Nhị Khê, huyện
Thường Tín.
73
3.5
Đánh giá hiệu quả của công tác đấu giá quyền sử dụng đất.
78
3.6
Đề xuất một số giải pháp đối với công tác đấu giá QSD đất.
83
3.6.1 Chính sách đấu giá quyền sử dụng đất.
83
3.6.2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
1.1
Bảng thu phí đấu giá quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân
1.2
Bảng thu phí đấu giá quyền sử dụng đất đối với các trường hợp
Trang
31
khác
31
1.3
Bảng thu phí tài sản
31
1.4
Tổng hợp kết quả đấu giá quyền SDĐ tại xã Thắng Lợi
72
3.6
Kết quả đấu giá quyền SDĐ tại xã Nhị Khê, huyện Thường Tín
75
3.7
Tổng hợp kết quả đấu giá quyền SDĐ tại xã Nhị Khê
76
3.8
Tăng thu ngân sách nhà nước khi đấu giá quyền SDĐ tại 3 dự án
trên địa bàn huyện Thường Tín
78
vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
NXB
Nhà xuất bản
SDĐ
Sử dụng đất
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
UBND
Ủy ban nhân dân
viii
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế - xã hội ở nước ta, cơ chế kinh tế thị
trường đã từng bước được hình thành, các thành phần kinh tế phát triển mạnh và
một xu hướng tất yếu là mọi yếu tố nguồn lực đầu vào cho sản xuất và sản phẩm
đầu ra đều phải trở thành hàng hoá, trong đó đất đai cũng không phải là ngoại lệ.
Để phát huy được nguồn nội lực từ đất đai, tạo thêm nguồn thu cho ngân
sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu về đất cho nhân dân, đảm bảo tính công khai,
dân chủ, hiệu quả trong sử dụng đất, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước, từ năm 1993 Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thực hiện chủ
trương sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Hình thức này trong thực
Ở nước ta không phải tất cả các loại BĐS đều tham gia vào thị trường
BĐS nguyên nhân do nhiều BĐS không phải là BĐS hàng hoá. Các loại BĐS
được đưa vào kinh doanh theo Luật Kinh doanh BĐS bao gồm:
- Các loại nhà, công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng;
- Quyền SDĐ được tham gia thị trường BĐS theo quy định của pháp luật
về đất đai;
- Các loại BĐS khác theo quy định của pháp luật.
Đất đai là BĐS nhưng không phải là hàng hoá, mà chỉ có quyền sử dụng
đất, cụ thể hơn là QSD một số loại đất và của một số đối tượng cụ thể và trong
những điều kiện cụ thể mới là hàng hoá trong thị trường BĐS.
Đất đai là BĐS theo pháp luật về chế độ sở hữu ở nước ta, đất đai không
có quyền sở hữu riêng mà ”đất đai... thuộc sở hữu toàn dân”, do vậy đất đai
không phải là hàng hoá. Chỉ có quyền SDĐ, cụ thể hơn là quyền SDĐ một số loại
đất và của một số đối tượng cụ thể và trong những điều kiện cụ thể mới được coi
là hàng hoá và được đưa vào lưu thông thị trường BĐS.
Thực chất, hàng hóa trao đổi trên thị trường BĐS ở Việt Nam là trao đổi
giá trị quyền sử dụng đất có điều kiện và quyền sở hữu các tài sản gắn liền với
đất. Trong đó, thị trường quyền sử dụng đất là thị trường giao dịch về các quyền
sử dụng đất: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn (Nguyễn Văn Xa, 2004).
- Thị trường bất động sản
Thị trường BĐS là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Đó
là nơi tiến hành các hoạt động giao dịch về BĐS, mang tính khu vực và biến
động theo thời gian. Có thể nói đó là tổng hòa các giao dịch BĐS đạt được tại
một khu vực địa lý nhất định trong một thời điểm nhất định (Nguyễn Thanh Trà
và Nguyễn Đình Bồng, 2005).
4
5
1.1.3 Đấu giá quyền sử dụng đất.
- Khái niệm về đấu giá đất và đấu giá quyền sử dụng đất:
Theo từ điển kinh tế học hiện đại xuất bản năm 1999: đấu giá là một thị
trường, trong đó người mua tiềm tàng đặt giá cho hàng hóa chứ không phải đơn
thuần tra giá người bán; thị trường đấu giá là một thị trường có tổ chức, tại đó giá
cả được điều chỉnh liên tục theo biến đổi của cung và cầu.
Dưới góc độ của quan hệ pháp luật dân sự, Bán đấu giá có thể hiểu là hình
thức bán đặc biệt để người mua tự trả giá, không thấp hơn giá trị thấp nhất do
người bán quy định. Ai trả giá cao nhất sẽ được mua. Bán đấu giá có thể được
thực hiện dưới hình thức tất cả người mua được trả giá một lần thông qua hình
thức bỏ phiếu kín hoặc những người mua được phép trả nhiều lần công khai
trong một khoảng thời gian xác định.
Chính vì vậy có thể hiểu bán đấu giá tài sản như sau: Bán đấu giá tài
sản là một hình thức mua bán công khai và tổ chức theo những hình thức mà
pháp luật quy định; do người bán đấu gia điều khiển, nhằm mục đích bán tài
sản ở giá cao nhất, người trả giá cao nhất đối với tài sản là người mua được tài
sản bán đấu giá.
Theo đó, bán đấu giá quyền sử dụng đất là hình thức mua bán công khai,
được tổ chức chặt chẽ theo những hình thức mà pháp luật quy định, do người
bán đấu giá điều khiển; nhằm bán được quyền sử dụng đất ở mức giá cao
nhất do người mua chấp nhận trên cơ sở cạnh tranh tự nguyện về giá cả;
người mua được quyền sử dụng đất là người trả giá cao nhất đối với quyền
sử dụng đất mang bán đấu giá”.
- Nguyên tắc và phạm vi áp dụng đấu giá đất và đấu giá quyền sử
dụng đất:
Đấu giá quyền sử dụng đất được thực hiện công khai, liên tục, khách quan, trung
thực, bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
Điều kiện kinh tế - xã hội và các công trình dịch vụ: Khu vực có điều kiện
kinh tế - xã hội phát triển thuận lợi cho kinh doanh thương mại, văn phòng, cửa
hàng dịch vụ hoặc môi trường sinh sống là điều kiện có sức thu hút dân cư đến ở,
các yếu tố này sẽ làm cho giá đất thực tế ở khu vực này tăng lên. Nếu là nơi khu
công nghiệp tập trung, có nhiều nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế
xuất sẽ hạn chế khả năng phát triển nhà ở khu vực xung quanh, dân cư đến đây ít
dẫn đến giá đất giảm.
7
Yếu tố về khả năng sử dụng theo các mục đích và yêu cầu khác nhau: Một
lô đất nếu dùng để sử dụng cho các mục đích khác thì giá đất của nó cũng chịu
ảnh hưởng theo các mục đích đó vì đất đai là một tài sản không giống như những
tài sản thông thường, đó là tính không đồng nhất, sự cố định về vị trí, có hạn về
không gian và vô hạn về thời gian sử dụng. Đất có hạn về số lượng cung cấp
nhưng nó lại cho một chức năng sử dụng xác định như nhà ở có nghĩa là sự đầu
tư không hoàn toàn bất biến.
Ví dụ :
Đầu tư nhà ở cao tầng có thể làm thay thế số lượng đất đai cần dùng thêm
sẽ làm thay đổi giá trị của đất ở. Giá trị của đất ở phụ thuộc cung - cầu của thị
trường, cung - cầu của đất có thể coi là ổn định và việc sử dụng đất phụ
thuộc vào cung - cầu của thị trường, trong khi nhu cầu của thị trường lại
được định hướng bởi thu nhập mà thửa đất đó mang lại. Các loại hình sử
dụng có giá trị thấp hơn sẽ phải nhường chỗ cho các loại hình có giá trị cao
hơn, như trung tâm thương mại sẽ đẩy nhà ở ra khỏi trung tâm, nhà ở sẽ đẩy
nông nghiệp ra ven đô thị vì chỉ các loại hình sử dụng mới có đủ điều kiện
để trả một khoản giá trị cao hơn cho các vị trí đó. Vì vậy, đất ở thành thị, ở
khu trung tâm, khu thương mại sẽ có giá cao hơn ở các vị trí ở nông thôn và
các vị trí khác.
cho phép xây dựng không nhiều hơn một nhà ở trên mỗi lô đất) với mục đích xây
dựng một nhà ở riêng lẻ ở trên mỗi lô thường được phê duyệt với điều kiện sau:
Việc xây dựng cơ bản phải được thực hiện liên tục và bắt đầu trong vòng
24 tháng.
Đơn xin mua đất trống (không phải đơn khối) với mục đích xây dựng nhiều
nhà ở thường được phê duyệt theo các điều kiện sau đây:
Việc xây dựng cơ bản phải được thực hiện liên tục và bắt đầu trong vòng
24 tháng.
Ít nhất 50% của giá mua đất ban đầu hoặc giá trị hiện tại của đất (chọn giá
trị cao hơn) phải được chi cho việc phát triển (xây dựng).
Một khi những điều kiện trên đã được đáp ứng, các loại bất động sản này có
thể được cho thuê hoặc bán lại cho cư dân của Úc, hoặc giữ lại để sử dụng riêng
cho các nhà đầu tư nước ngoài.
- Đối với bất động sản mới: Các bất động sản mới được mua trước khi
xây dựng, trong giai đoạn xây dựng hoặc sau khi xây dựng xong sẽ được phê
duyệt nếu thoả mãn các điều kiện sau:
9
Bất động sản này trước đây chưa được bán cho ai khác (mua trực tiếp từ
chủ đầu tư dự án) và
Chưa được chiếm hữu trên 12 tháng (ví dụ trường hợp nhà ở đã được chủ
đầu tư cho thuê nhưng chưa bán cho ai).
Không có hạn chế về số lượng nhà ở được bán cho người nước ngoài
trong một dự án phát triển mới. Tuy nhiên, chủ đầu tư cũng phải bán ra cho
cư dân Úc (có nghĩa là, dự án bất động sản không thể được tiếp thị độc
quyền ở nước ngoài). Thể loại này bao gồm nhà ở đã được sửa chữa và cải
tạo lại và chuyển mục đích sử dụng từ thương mại sang dân cư (ví dụ: cải tạo
văn phòng, kho xưởng thành khu dân cư). Nó không bao gồm việc cải tạo
cơ sở để thực thi chương trình này và cách xử lý chương trình bao gồm việc đánh thuế
đất theo giá trị đã kê khai đăng ký và việc Nhà nước mua đất của các chủ đất dựa vào
các kê khai đăng ký đó. Mục tiêu cao nhất của chương trình là đưa tất cả các giá trị gia
tăng của đất vào công quỹ nhằm cung cấp Tài chính cho những dự án phát triển cộng
đồng và tăng phúc lợi cho nhân dân. Để sử dụng đất đô thị tốt hơn,một chương trình
dài hạn 10 năm đã được thiết lập nhằm cũng cố đô thị với mục đích sử dụng đất tốt
hơn và làm cho thành phố phát triển, thịnh vượng. Việc hoàn thành đề án cũng cố đô
thị sẽ làm cho 80 % đất đai có hình thể méo lệch không phù hợp cho xây dựng trở
thành hình dáng đều đặn thích hợp cho việc sử dụng, tạo thêm được nguồn đất công
ích rất lớn. Một thành tựu khác do các đề án cũng cố đất đô thị là làm làm cho đất đai
ban đầu chỉ 20 % là mặt đường trở thành 100 % đất mặt đường , nhờ vậy đất đã tăng
lên 6,4 lần.
Kết quả thi hành chương trình “bình quyền về đất đô thị” đã đạt được
ngoài quỹ đất khoảng 150.000 ha đất công được dữ lại để “đổi lấy đất hạ tầng”
còn có đạt được các thành tựu sau:
(1). 28 % đất đô thị của các chủ đất lớn đã được bán
(2). Số chủ đất đô thị không có biệt thự giảm xuống 59 %
(3). Những gia đình chủ đất đô thị tăng 14 % và biình quân đất đai gai
đình nắm được giảm xuống 12 %
(4). Diện tích đất đô thị sử dụng xây dựng nhà đã tăng 700 %
(5). Số lượng nhà xây ở khu vực đô thị tăng 229 %
(6). Diện tích nhà tầng tăng 330 %
(7). Tổng ngân sách dành cho quỹ phúc lợi xã hội tăng 330 %
Những đặc trưng nêu ở mục (1), (2), (3) nói trên đã chỉ ra rằng việc thâu
tóm các quyền về đất đô thị ở Đài Loan bị phân tán dần dần và việc tích tụ, mánh
11
lới, đầu cơ trục lợi đất đô thị đã được hạn chế một cách hữu hiệu. Những đặc
12
TOÀ ÁN
NGƯỜI THAM GIA
ĐẤU GIÁ
QUẢNG CÁO BẤT
ĐỘNG SẢN
LỰA CHỌN BẤT
ĐỘNG SẢN
ĐIỀU TRA BẤT
ĐỘNG SẢN
LÀM THỦ TỤC THAM GIA
NGƯỜI THAM GIA ĐẤU GIÁ
BỎ GIÁ CHO BẤT
ĐỘNG SẢN
MỞ PHIÊN ĐẤU GIÁ
QUYẾT ĐINH CHO
PHÉP BÁN
XÁC NHẬN BÁN
THÔNG BÁO HẠN
NỘP TIỀN
1.3 Đấu giá quyền sử dụng đất ở Việt Nam.
1.3.1 Quá trình hình thành giá đất ở Việt Nam.
Ở nước ta, do các đặc điểm lịch sử, kinh tế, xã hội của đất nước trong
mấy thập kỷ qua có nhiều biến động lớn, nó ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình
thành và phát triển thị trường BĐS nói chung trong đó có vấn đề giá đất. Có
thể chia quá trình hình thành giá đất và phát triển thị trường BĐS ở nước ta
thành 4 giai đoạn sau đây:
1.3.1.1 Giai đoạn trước năm 1946
Trước năm 1946, các cuộc mua bán, chuyển nhượng đất đai trong giai
đoạn này diễn ra chủ yếu giữa một bên là người bị áp bức, bóc lột với bên kia là
kẻ áp bức, bọc lột (Chu Văn Thỉnh (2000), “Cơ sở khoa học cho việc hoạch định
các chính sách và sử dụng hợp lý quỹ đất đai”, Đề tài nghiên cứu khoa học độc
lập cấp Nhà nước, Hà Nội). Quan hệ mua bán đó không thể gọi là quan hệ bình
đẳng, kết quả các cuộc mua bán nói trên không thể nói là kết quả của sự thoả
thuận của tất cả các bên, điều đó trái với nguyên tắc cơ bản của thị trường. Tuy
nhiên, giá đất đó được hình thành trong giai đoạn này.
1.3.1.2 Từ năm 1946 đến trước 1980
Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 đó khẳng định có 3 hình
thức sở hữu đất đai, sở hữu nhà nước, tập thể và cá nhân, trong đó sở hữu Nhà
nước và tập thể là cơ bản và được ưu tiên. Luật pháp không hoàn toàn nghiêm
cấm việc mua bán đất đai, nhưng những loại đất được phép mua bán bị hạn chế
theo quá trình “Công hữu hoá đất đai”. Thị trường đất đai hầu như không được
pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có những giao dịch về nhà, đất
nhưng với phạm vi và quy mô nhỏ bé, chủ yếu là chuyển nhượng nhà ở gia đình
hoặc nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước theo phương thức hoa hồng (Chuyển quyền
cho thuê). Giá đất hình thành mang tính chất tự phát và nằm ngoài sự kiểm soát
của pháp luật.
1.3.1.3 Từ năm 1980 đến trước 1993
đất ngày càng phát triển. Những điều đó dẫn đến cơ hội đầu tư vào lĩnh vực này với
các nhà đầu tư trong và ngoài nước để thoả mãn lượng lớn nhu cầu đang còn bỏ ngỏ
cũng như đóng góp vào sự tăng trưởng của thị trường BĐS.
15
1.3.2 Cơ sở pháp lý của đấu giá quyền sử dụng đất ở Việt Nam.
1.3.2.1 Đấu giá QSDD theo quy định của Luật Đất đai 2003.
Tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khoá XI đã thông qua Luật đất đai mới. Luật
đất đai năm 2003 thay thế Luật đất đai năm 1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 7 năm 2004. Tại Luật này Quản lý tài chính về đất đai và thị trường bất
động sản đã được quy định cụ thể tại Mục 6 và Mục 7 của Chương II, các quy
định đó đã được sửa đổi theo hướng:
- Giá đất bảo đảm sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế
trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho
phù hợp.
- Giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy
định được công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm.
- Luật đất đai năm 2003 quy định cho phép doanh nghiệp có khả năng
chuyên môn làm dịch vụ tư vấn về giá đất để thuận lợi trong giao dịch quyền sử
dụng đất.
- Bổ sung quy định về đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án trong
đó có quyền sử dụng đất. Quy định này là nhằm tạo điều kiện cho quan hệ đất đai
được vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, khắc phục
tình trạng bao cấp về giá đất và cơ chế xin - cho; huy động đúng và đủ nguồn thu
từ quỹ đất vào ngân sách.
- Bổ sung các biện pháp để Nhà nước quản lý đất đai trong thị trường bất
động sản.
g) Giao đất ở tại đô thị, nông thôn cho hộ gia đình, cá nhân;
h) Giao đất, cho thuê đất đối với các trường hợp được giảm tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất.
Các trường hợp không đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất,
cho thuê đất bao gồm:
a) Giao đất không thu tiền sử dụng đất;
b) Sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định tại Điều
110 của Luật này;
c) Sử dụng đất quy định tại các điểm b, g khoản 1 và khoản 2 Điều 56 của
Luật này;
d) Sử dụng đất vào mục đích hoạt động khoáng sản;
17
đ) Sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở tái định cư, nhà ở
xã hội và nhà ở công vụ;
e) Giao đất ở cho cán bộ, công chức, viên chức chuyển nơi công tác theo
quyết định điều động của cơ quan có thẩm quyền;
g) Giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại xã mà
không có đất ở và chưa được Nhà nước giao đất ở;
h) Giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại thị trấn thuộc
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn mà không có đất ở và chưa được Nhà nước giao đất ở;
i) Các trường hợp khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Trường hợp đất đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1
Điều này mà không có người tham gia hoặc trường hợp chỉ có một người đăng ký
tham gia đấu giá hoặc đấu giá ít nhất là 02 lần nhưng không thành thì Nhà nước
thực hiện việc giao đất, cho thuê đất mà không phải đấu giá quyền sử dụng đất.
* Thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất
trình theo quy hoạch, kiến trúc đã được duyệt. Ngược lại, họ có trách nhiệm nộp
tiền SDĐ hoặc thuê đất đúng tiến độ quy định trong hồ sơ dự đấu giá và kết quả
trúng đấu giá.
Đấu giá quyền SDĐ thông qua hình thức đấu giá công khai có ưu điểm là
giúp lựa chọn được chủ thể có nhu cầu SDĐ thực sự và đảm bảo cho quyền SDĐ
được chuyển nhượng đúng với giá trị thực của nó, tránh được tình trạng đầu cơ
đất đai. Việc đưa đất đai vào các giao lưu dân sự, kinh tế và chế định chúng bằng
pháp luật là một tất yếu khách quan. Trong đó việc xác định giá sàn làm căn cứ
đấu giá quyền SDĐ được xác định trên nguyên tắc sát với giá thực tế chuyển
nhượng quyền SDĐ, quyền thuê đất tại khu vực của các thửa đất liền kề gần nhất
có cùng mục đích sử dụng với thửa đất đấu giá.
Các chính sách đấu giá quyền SDĐ mới được triển khai thực hiện ở một
số tỉnh, thành phố trực thuộc TW nhưng đã đạt được những kết quả nhất định,
đem lại lợi ích chung cho cộng đồng, người SDĐ và Nhà nước.
Một số mô hình đấu giá quyền SDĐ được áp dụng có quy mô vừa và nhỏ với các
loại hình, cách thức tổ chức đấu giá khác nhau:
1.3.3.1 Đấu giá quyền SDĐ ở thành phố Hà Nội.
Đấu giá quyền SDĐ là một chủ trương lớn và là nhiệm vụ trọng tâm của
thành phố Hà Nội, trên cơ sở quy định của pháp Luật Đất đai và các văn bản quy
19
phạm pháp luật có liên quan, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số
54/2013/QĐ-UBND ngày 02/12/2013 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban
hành quy định việc xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động
đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất
trên địa bàn thành phố Hà Nội; số 71/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 của
UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành quy định về đấu giá quyền sử dụng
đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn thành phố