BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ QUANG TIẾN
HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH TƯ PHÁP
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
ĐẮK LẮK – NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ QUANG TIẾN
HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH TƯ PHÁP
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK
Tôi xin cam đoan bản luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề
được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm./.
Đắk Lắk, tháng 10 năm 2016
Học viên
Lê Quang Tiến
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa.
Lời cam đoan.
Mục lục.
Danh mục các chữ viết tắt.
MỞ ĐẦU.................................................................................................
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6. Ý nghĩa của luận văn
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN VÀ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ………………………………
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật tố tụng hình sự
:
BLTTHS
Bộ luật hình sự
:
BLHS
Biện pháp ngăn chặn
:
:
BPNC
Hoạt động tư pháp
:
HĐTP
Kiểm sát hoạt động tư pháp
của chiến lược cải cách tư pháp của nước ta giai đoạn hiện nay.
Như chúng ta thấy, ở nước ta, cùng với các cơ quan Nhà nước như Quốc hội, Chính phủ và Toà
án, VKSND được thành lập và tổ chức thành hệ thống, là bộ phận cấu thành quan trọng trong bộ máy
Nhà nước để thực hiện quyền lực Nhà nước và bảo vệ quyền lợi của Nhà nước. Viện kiểm sát được
thành lập để đại diện cho Nhà nước trong lĩnh vực duy trì và bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật trên
cả hai khía cạnh: Một là, bảo đảm cho các quy định của pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất; hai là, bảo đảm cho các quyền của công dân do pháp luật quy định phải được tôn trọng. Như
vậy, Viện kiểm sát vừa là cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nước (ở đây là quyền công tố Nhà nước),
vừa là cơ quan đại diện cho quyền và lợi ích của công dân.
Thực hiện cải cách nền tư pháp nói chung, trong đó có hoạt động điều tra của VKSND, Đảng ta
đã nghiên cứu và ban hành hai Nghị quyết quan trọng: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Hai Nghị
quyết này thể hiện tư tưởng chủ đạo của chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay;
đã xác định, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư
pháp phải bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; nâng cao chất
lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa
và những người tham gia tố tụng khác. Cụ thể hóa quan điểm lãnh đạo của Đảng, Quốc hội nước ta đã
ban hành Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 với nhiều quy định mới về VKSND.
Theo Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, hai chức năng của VKSND là thực hành quyền
công tố và KSHĐTP của nước cộng hòa XHCN Việt Nam, để thực hiện các nhiệm vụ là: bảo vệ Hiến
pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Để thực hiện có hiệu quả hai chức năng có mối quan hệ hữu cơ
nói trên, cũng để tránh sự lạm quyền, thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật từ phía cơ quan điều tra, bên
cạnh quyền giám sát các hoạt động điều tra, Luật còn trao cho VKSND quyền trực tiếp điều tra vụ án
hình sự trong những điều kiện cụ thể.
Về nguyên tắc, VKSND có vai trò rất lớn – vai trò chỉ đạo điều tra trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà trên thực tế việc thực hiện vai trò này của VKSND
thời gian qua còn chưa tương xứng với kỳ vọng; việc sử dụng quyền trực tiếp điều tra vụ án hình sự là
rất ít và chưa hiệu quả. Viện kiểm sát thường chỉ “gián tiếp điều tra” thông qua việc kiểm sát hoạt động
tư pháp của Nguyễn Hải Phong và các tác giả.
+ Bài viết tiêu biểu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành: Lý Văn Chính, “Thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2005; Đỗ Văn Đương, “Cơ
quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 7/2006; Lê Văn Cảm, "Bàn về hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án trong chiến lược
cải cách tư pháp", Tạp chí Kiểm sát số 01/2009; Trần Công Phàn, "Một số vấn đề về chủ trương tăng
cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải
cách tư pháp", Tạp chí Kiểm sát 03/2012; Lê Thị Tuyết Hoa, "Một số nội dung trọng tâm để thực hiện
chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp
chí Kiểm sát số 16/2012; Nguyễn Hòa Bình, "Một số định hướng nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLTTHS
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp chí Kiểm sát 16/2012 và Tạp chí Kiểm sát số 21/2012; Nguyễn
Thị Thủy, "Sửa đổi bổ sung BLTTHS nhằm thực hiện chủ trương của Đảng - Tăng cường trách nhiệm
công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế gắn công tố với điều tra”, Tạp chí Kiểm sát số 21/2012;
Nguyễn Thái Phúc, "Sửa đổi nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành Kiểm sát nhân dân", Tạp chí
Kiểm sát số 17/2012; Trần Đình Nhã, "Chế định điều tra tội phạm trong BLTTHS", Tạp chí Kiểm sát
số 21/2012; Đỗ Văn Đương, "Phân định rõ thẩm quyển quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn
tư pháp và sửa đổi, bổ sung chế định chứng cứ trong BLTTHS", Tạp chí Kiểm sát số 16/2012; Đào Trí
Úc, "Đề xuất đổi mới Viện kiểm sát ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới", Tạp chí
Kiểm sát số 12/2013; Lê Đức Xuân, Phạm Lan Phương, "Vai trò cơ quan Công tố các nước trên thế giới
trong việc KSĐT các vụ án hình sự", Tạp chí Kiểm sát số 13/2013; Lê Thị Tuyết Hoa, "Thực trạng và
một số kiến nghị nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt
động điều tra", Tạp chí Kiểm sát số 08/2014;…
+ Báo cáo tổng kết chuyên đề trong ngành Kiểm sát: Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về các công tác của ngành KSND qua 50 tổ chức và hoạt động, Hà Nội, năm 2010; Báo cáo kết quả
tổng kết 8 năm thi hành BLTTHS năm 2003, Hà Nội, năm 2012.
+ Luận án tiến sĩ, điển hình có: Nguyễn Thị Mai Nga, "Cơ sở lý luận và thực trạng của điều tra
và truy tố các tội phạm về ma túy", Nhà xuất bản thông tin và truyền thông, năm 2012; Đào Hữu Dân,
“Mối quan hệ giữa cơ quan cảnh sát điều tra với Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự”, Luận án
- Đề xuất những quan điểm, phương hướng giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ
án hình sự của VKSND theo yêu cầu cải cách tư pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động điều tra vụ án hình sự của VKSND tỉnh, VKSND cấp huyện
ở tỉnh Đắk Lắk theo quy định của BLTTHS năm 2003 và các quy định mới của BLTTHS năm 2015.
Đây là hoạt động nhằm thực hiện chức năng THQCT, KSHĐTP trong giai đoạn điều tra được tiến hành
bởi người tiến hành tố tụng là Kiểm sát viên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động điều tra của VKSND tỉnh, VKSND cấp
huyện ở tỉnh Đắk Lắk chủ yếu trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, tức là từ lúc khởi tố vụ án đến khi
truy tố bị can ra trước tòa. Một số hoạt động điều tra vi phạm pháp luật để phục vụ hoạt động kiểm sát
việc khởi tố vụ án, bị can cũng được xem xét trong cả quá trình tố tụng vụ án hình sự theo nghĩa rộng
của từ “điều tra”.
Về không gian, luận văn nghiên cứu hoạt động của Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk,
nhưng có chú trọng ở một số địa bàn trọng điểm, có số lượng các vụ án hình sự thụ lý hàng năm lớn.
Về thời gian, luận văn khảo sát giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận thực hiện đề tài dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng; quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong bộ
máy nhà nước và trong tố tụng hình sự; và các chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cải cách tư pháp, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ
của công dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống trong nghiên cứu khoa học xã hội
là: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp quan sát thực tiễn (qua quá trình công
năng THQCT và KSHĐTP thì cần tổ chức Viện kiểm sát thành một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập.
Theo Luật Tổ chức VKSND năm 2014, VKSND Việt Nam là một hệ thống độc lập và được
được tổ chức ở 4 cấp, gồm: VKSND tối cao; VKSND cấp cao; VKSND cấp tỉnh; VKSND cấp huyện;
Viện kiểm sát quân sự.
1.1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
a. Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định về chức năng của VKSND là: “Viện kiểm sát nhân dân
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”.
b. Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
Trong phạm vi chức năng của mình, VKSND có nhiệm vụ: “bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất”.
1.1.2. Hoạt động điều tra vụ án hình sự
1.1.2.1. Quan niệm về hoạt động điều tra vụ án hình sự
Quy định của BLTTHS về thẩm quyền thu thập chứng cứ là thẩm quyền thực hiện các hoạt động
điều tra của CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa án. Ba cơ quan này được tiến hành tất cả các hoạt động điều
tra đã đuợc quy định trong BLTTHS.
1.1.2.2. Đặc điểm của hoạt động điều tra vụ án hình sự
- Hoạt động điều tra vụ án hình sự là hoạt động thực hiện công khai theo trình tự, thủ tục tố
tụng hình sự.
- Khi thực hiện hoạt động điều tra vụ án hình sự thường phải áp dụng các biện pháp cưỡng
chế tố tụng hình sự.
- Hoạt động điều tra vụ án hình sự là hoạt động thu thập chứng cứ phục vụ cho hoạt động
buộc tội.
- Hoạt động điều tra vụ án hình sự đòi hỏi phải tuân thủ yêu cầu về pháp luật, chính trị, nghiệp
vụ.
1.1.2.3. Nội dung hoạt động điều tra vụ án hình sự
pháp đối với Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự
1.3.1.1. Tình hình tội phạm trong bối cảnh đổi mới nền kinh tế, xã hội
Sự phát triển nhanh chóng, sôi động của kinh tế thị trường đã và đang mang lại những thay
đổi lớn về kinh tế, nâng cao điều kiện sống cho Nhân dân, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề nhức nhối
làm cho xã hội bức xúc cần được giải quyết.
1.3.1.2. Quan điểm cải cách tư pháp đối với Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự
Về quan điểm cải cách tư pháp của Nhà nước ta được thể hiện qua các Nghị quyết của Đảng
về cải cách tư pháp như Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII (tháng 01/1995), Nghị quyết Trung ương 3
khóa VIII (tháng 6-1997), Nghị quyết Trung ương 7 khóa VIII (tháng 8/1999), Nghị quyết Đại hội IX,
Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2002, Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005...
1.3.2. Hoạt động của Viện công tố - Viện kiểm sát điều tra vụ án hình sự ở một số nước trên
thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Tùy theo truyền thống pháp luật và đặc điểm của từng quốc gia mà việc tổ chức và hoạt động
THQCT của cơ quan Công tố có những đặc điểm, tính chất khác nhau.
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Ở TỈNH ĐẮK LẮK
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈNH ĐẮK LẮK VÀ HỆ THỐNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN Ở TỈNH ĐẮK LẮK
2.1.1. Khái quát về tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, phía bắc giáp Gia Lai, phía nam giáp Lâm
Đồng, phía tây nam giáp Đắk Nông, phía đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía tây giáp Vương quốc
Campuchia. Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.085 km². Tổng dân số cuối năm 2011 ước có 1.771.800
người, có 47 dân tộc cùng sinh sống.
2.1.2. Khái quát về tổ chức hệ thống Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Vụ
TP kinh
tế và môi
trường
Bị
V
Bị
can
ụ
can
TP xâm
TP xâm phạm
TP về trật tự
phạm hoạt
sở hữu
an toàn xã hội
564
939
767
1.325
09
09
2012
151
90
05
07
40
99
587
1.070
154
1
2014
2015
152
130
84
55
1
03
05
44
52
556
913
769
2.3.1. Hoạt động điều tra của Viện kiểm sát trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố
Qua công tác kiểm sát tốt việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm trong 5 năm qua, Viện kiểm
sát đã yêu cầu CQĐT khởi tố 132 vụ án, 110 bị can; trực tiếp khởi tố 03 vụ án, 01 bị can; ban hành 153
kiến nghị yêu cầu CQĐT khắc phục vi phạm.
2.3.2. Hoạt động điều tra của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị
can, điều tra vụ án
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát hai cấp đã không phê
quyết định khởi tố 07 bị can, huỷ bỏ 19 quyết định không khởi tố vụ án, 08 quyết định khởi tố vụ án, 21
quyết định khởi tố bị can của CQĐT, không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp 04 trường hợp, hủy bỏ quyết
định tạm giữ 01 trường hợp, không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ 01 trường hợp, không phê
chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam 22 bị can, không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giam 03 bị can,
hủy bỏ quyết định tạm giam 01 bị can, không phê chuẩn lệnh tạm giam 47 bị can của CQĐT, yêu cầu
CQĐT bắt tạm giam 10 bị can; ban hành 92 kiến nghị yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm trong hoạt
động điều tra.
2.3.3. Hoạt động điều tra của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố, xét xử
Thông qua công tác THQCT và KSXX án hình sự, Viện kiểm sát hai cấp đã ban hành kháng
nghị 291 vụ án; Tòa án đã xét xử 234 vụ, chấp nhận 225 vụ, đạt 96,1%.
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN Ở TỈNH ĐẮK LẮK NHỮNG NĂM QUA
2.4.1. Những thành tựu và nguyên nhân
Thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, thực hiện các quy định của pháp luật và
của Ngành về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND. Trong những năm qua, ngành
Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đạt được những kết quả nội bất trên tất cả các lĩnh vực công tác, góp
phần quan trọng kiềm chế sự gia tăng tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo
vệ pháp chế XHCN, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ cuộc sống bình
yên của nhân dân trên địa bàn tỉnh.
2.4.1.1. Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố
2.4.1.2. Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
động kiểm sát điều tra
Mỗi hành vi, quyết định công tố đều phải có cơ sở, có căn cứ vững chắc và hợp pháp.
3.1.3. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên phải có tinh thần trách
nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước, xã hội, trước số phận con người để giải quyết tốt vụ việc
Kiểm sát viên phải trung thành với đường lối, chủ trương của Đảng, bảo vệ chế độ Nhà nước
và định hướng hoạt động công tố vì lợi ích của nhân dân.
3.1.4. Kiểm sát viên phải nắm vững bản chất pháp lý của vụ việc đang điều tra, về việc buộc
tội, nâng cao phẩm chất nghề nghiệp thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra
Sự nhạy cảm và phẩm chất nghề nghiệp của Kiểm sát viên trước hết thể hiện qua việc hiểu rõ
chức trách, nhiệm vụ của mình khi THQCT, đề xuất các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện
kiểm sát một cách chính xác, kịp thời, đúng bản chất sự việc.
3.1.5. Xây dựng các thủ tục tố tụng phù hợp với tổ chức hệ thống cơ quan xét xử và Viện
kiểm sát bốn cấp
Phải xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ
quyền con người…
3.1.6. Tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra; thực hiện cơ chế
gắn công tố với điều tra
Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra nhằm bảo đảm mọi
hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người
phạm tội, không làm oan người vô tội.
3.1.7. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và
đạo đức nghề nghiệp
Đáp ứng đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp đối với công tác của ngành Kiểm sát, mục tiêu,
yêu cầu được đặt ra là phải đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để xây dựng đội ngũ
cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Đảng, tận tụy.
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN CẢI CÁCH TƯ PHÁP
3.2.1. Đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả giữa Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân