BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ HỒNG DÂN
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA CÔNG CHỨC
LÀM VIỆC TẠI BỘ PHẬN MỘT CỬA ỦY BAN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ HỒNG DÂN
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA CÔNG CHỨC
LÀM VIỆC TẠI BỘ PHẬN MỘT CỬA ỦY BAN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
1.2. Các nhóm kỹ năng giao tiếp cơ bản........................................................... 19
1.2.1. Kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu ................................................................... 20
1.2.2. Kỹ năng lắng nghe tích cực ........................................................................ 23
1.2.3. Kỹ năng sử dụng có hiệu quả các phương tiện giao tiếp ........................... 26
1.2.4. Kỹ năng điều khiển cảm xúc ...................................................................... 29
1.3. Các nguyên tắc giao tiếp tại bộ phận một cửa các cơ quan hành chính
nhà nước .............................................................................................................. 31
1.3.1. Nguyên tắc tuân theo pháp luật .................................................................. 31
1.3.2. Nguyên tắc hài hòa lợi ích.......................................................................... 31
1.3.3. Nguyên tắc hướng tới các giải pháp tối ưu ................................................ 32
1.3.4. Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, trung thực, khách quan .................... 32
1.3.5. Nguyên tắc công khai, dân chủ .................................................................. 33
1.3.6. Nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, tôn trọng các giá trị văn hóa .................. 34
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của công chức .................. 34
1.4.1. Các yếu tố chủ quan ................................................................................... 34
1.4.2. Các yếu tố khách quan ............................................................................... 35
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................... 38
Chương 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA CÔNG CHỨC
LÀM VIỆC TẠI BỘ PHẬN MỘT CỬA UỶ BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ
SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................................................. 39
2.1. Tổng quan về Thị xã Sơn Tây .................................................................... 39
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, lịch sử, truyền thống văn hóa ..................................... 39
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ........................................................................... 41
2.2. Khái quát về công chức làm việc tại bộ phận một cửa Ủy ban nhân dân
Thị xã Sơn Tây.................................................................................................... 42
2.2.1. Bộ phận một cửa của Uỷ ban nhân dân Thị xã Sơn Tây ........................... 42
2.2.2. Công chức làm việc tại bộ phận một cửa của Ủy ban nhân dân Thị xã Sơn
Tây…………. ....................................................................................................... 44
3.3.3. Đối với Bộ Nội vụ ...................................................................................... 89
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................... 90
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 93
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 96
Phụ lục 1: Phiếu trưng cầu ý kiến (dành cho công chức) .................................... 96
Phụ lục 2: Phiếu trưng cầu ý kiến (dành cho công dân) ...................................... 99
Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn (dành cho lãnh đạo, quản lý) ................................. 102
MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Vị trí địa lý của Thị xã Sơn Tây, Hà Nội .............................................40
Bảng số 2.1: Mức độ nhận thức kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu ...........................47
Bảng số 2.2: Mức độ vận dụng kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu ............................49
Bảng số 2.3: Mức độ nhận thức kỹ năng lắng nghe tích cực ..............................52
Bảng số 2.4: Mức độ nhận thức kỹ năng lắng nghe tích cực ...............................54
Bảng số 2.5: Mức độ nhận thức kỹ năng sử dụng hiệu quả các phương tiện giao
tiếp ........................................................................................................................57
Bảng số 2.6: Mức độ vận dụng kỹ năng sử dụng hiệu quả các phương tiện giao
tiếp ........................................................................................................................58
Bảng số 2.7: Mức độ nhận thức kỹ năng điều khiển cảm xúc .............................61
Bảng số 2.8: Mức độ vận dụng kỹ năng điều khiển cảm xúc ..............................62
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BNV
Bộ Nội vụ
CP
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Cơ chế “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân, bao
gồm cả tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ
quan HCNN, từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả
được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan
HCNN. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính (bộ phận một cửa) có
điều kiện làm việc khó và phức tạp trong cơ quan hành chính nhà nước.
Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận này hằng ngày phải tiếp xúc, trao
đổi với hàng chục, hàng trăm người ở đủ mọi thành phần, lứa tuổi và tính cách.
Được giải quyết thủ tục hành chính nhanh gọn, xong sớm thì ai cũng vui vẻ.
Nhưng hễ xảy ra việc chậm trễ, phải yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung thì không ít
người "mặt nặng mày nhẹ", thậm chí còn to tiếng, chì chiết, chửi mắng... Thế
nên, làm được ở bộ phận "một cửa" đòi hỏi ngoài trình độ chuyên môn vững
vàng, cán bộ, công chức phải có thái độ nhã nhặn, đúng mực.
Từ cấp huyện, hiện nay hầu như cả nước đã áp dụng cơ chế “một cửa”,
“một cửa liên thông”, tuy nhiên, theo như nhận xét của Thủ tướng Nguyễn Xuân
Phúc: “chúng ta mới đạt được kết quả ban đầu”. Lý do là người dân còn phàn
nàn, kêu ca trong nhiều lĩnh vực. Thực tế không phải nơi nào cũng quan tâm,
đầu tư thích đáng đáng cho bộ phận “một cửa”, “một cửa liên thông”. Công
chức tại bộ phận một cửa còn cố tình hành dân, thừa biết hồ sơ nộp còn thiếu
nhiều thủ tục nhưng không hướng dẫn cặn kẽ. Nói là “một cửa” nhưng không ít
nơi có “nhiều khóa”, người dân đến một cửa nhưng rồi vẫn phải gặp trực tiếp
cán bộ, công chức giải quyết mới xong, dẫn đến không được lòng dân.
Mục tiêu của cơ chế “một cửa” là nhằm đơn giản hóa các TTHC, giảm
bớt phiền hà, sách nhiễu của các cơ quan nhà nước cũng như của CBCC được ủy
quyền, đảm bảo công khai, rõ ràng, thông suốt quy trình giải quyết TTHC, tiết
kiệm công sức, chi phí, tăng cường sự giám sát của người dân đối với các cơ
ngày 04/6/2010 của UBND Thành phố Hà Nội về phê duyệt Đề án thực hiện cơ
chế “một cửa liên thông” tại UBND thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội; Quyết
định số 338/QĐ-UBND ngày 11/5/2012 của UBND thị xã Sơn tây về việc ban
hành quy chế tổ chức hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ
2
chế một cửa liên thông tại UBND thị xã Sơn Tây. Việc thực hiện cơ chế “một
cửa liên thông” là giải pháp để đổi mới phương thức làm việc của cơ quan
HCNN ở thị xã, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan
HCNN với các tổ chức và công dân.
Chúng ta có thể thấy rằng hiện nay có một bộ phận không nhỏ cán bộ,
công chức còn những hạn chế về văn hóa ứng xử, về kỹ năng giao tiếp, còn có
thái độ không đúng mực khi giải quyết các công việc cho người dân, tổ chức,
còn có những biểu hiện tiêu cực như hách dịch, cửa quyền, gây khó dễ, vô
cảm… với nhân dân. Điều đó đã tạo những ấn tượng không tốt cho người dân, tổ
chức về thái độ, chất lượng phục vụ các dịch vụ công của các cơ quan nhà nước,
ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân.
Và thực trạng vấn đề này ra sao đối với một địa phương cụ thể như Thị xã
Sơn Tây thì lại chưa có những nghiên cứu đánh giá cụ thể. Kỹ năng giao tiếp
của các công chức tại bộ phận một cửa có tác động như thế nào tới hiệu quả hoạt
động thực thi công vụ.
Do đó việc triển khai đề tài luận văn “ Kỹ năng giao tiếp của công chức
làm việc tại bộ phận một cửa Ủy ban nhân dân Thị xã Sơn Tây, Thành phố
Hà Nội” là rất cần thiết. Việc nghiên cứu đề tài sẽ chỉ ra được thực trạng kỹ
năng giao tiếp của công chức bộ phận một cửa UBND Thị xã cùng với những
khuyến nghị nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp của công chức góp phần tạo diện
mạo mới cho nền hành chính công tại UBND Thị xã Sơn Tây.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nhà nước Việt Nam”, tác giả Đào
Thị Ái Thi. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về kỹ năng
giao tiếp của đội ngũ cán bộ công chức hành chính, luận án đã đề xuất các giải
pháp và xây dựng mô hình rèn luyện kỹ năng giao tiếp của công chức hành
chính trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước [23]
Đề tài khoa học cấp Bộ ”Kỹ năng giao tiếp của nhân viên thư ký văn
phòng” do tác giả Nguyễn Phương Huyền làm chủ nhiệm. Trên cơ sở nghiên
cứu lý luận về giao tiếp, kỹ năng giao tiếp và thực trạng kỹ năng giao tiếp của
4
nhân viên văn phòng ở các cơ quan hành chính trên địa bàn Hà Nội, đề tài đã
đưa ra kiến nghị và giải pháp đào tạo góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp, hoàn
thiện tính chuyên nghiệp cho nhân viên thư ký văn phòng trong lĩnh vực hành
chính công [10]
Luận án Tiến sĩ, “Kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức”, cũng của tác
giả Nguyễn Phương Huyền. Luận án đã đưa ra một số lý luận cơ bản về kỹ năng
giao tiếp của CBCC hành chính. Nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của
cán bộ công chức hành chính trên địa bàn Hà Nội và đề xuất các giải pháp góp
phần nâng cao kỹ năng giao tiếp của CBCC [11]
Luận văn Thạc sĩ, “Kỹ năng giao tiếp nơi công sở”, tác giả Hoàng Văn
Quyết. Luận văn đã tập trung nghiên cứu các kỹ năng cơ bản để thành công và
hiểu thấu đáo hơn nghệ thuật giao tiếp trong môi trường làm việc nơi công sở
[14]
Tuy nhiên lại chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu kỹ
năng giao tiếp của công chức làm việc tại bộ phận một cửa UBND Thị xã Sơn
Tây. Do đó, đề tài nghiên cứu của tác giả sẽ có ý nghĩa về mặt lý luận và thực
tiễn, đánh giá thực trạng, góp phần hoàn thiện kỹ năng giao tiếp, nâng cao chất
lượng đội ngũ công chức tại bộ phận một cửa UBND Thị xã Sơn Tây nói riêng
và các cơ quan hành chính nhà nước ta nói chung.
Về nội dung nghiên cứu: Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản của công chức
Nội.
làm việc tại bộ phận một cửa.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận:
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường
lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về kỹ năng giao
tiếp của công chức nói chung và công chức làm việc tại bộ phận một cửa nói
riêng. Kế thừa và sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm:
+ Phương pháp Điều tra bằng bảng hỏi (Xây dựng các phiếu khảo
sát đối với công chức, người dân)
+ Phương pháp phỏng vấn.
6
+ Phương pháp thống kê toán học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Các kết quả khảo sát điều tra thực tế là cơ sở để đánh giá thực trạng kỹ
năng giao tiếp của công chức làm việc tại bộ phận một cửa của UBND Thị xã
Sơn Tây. Từ đó đề ra những giải pháp để hoàn thiện kỹ năng giao tiếp của công
chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ phận một cửa.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu kỹ năng giao tiếp
nói chung và kỹ năng giao tiếp của công chức làm việc tại bộ phận một cửa nói
riêng.
Đề cập đến kỹ năng, tác giả Trần Trọng Thủy cũng nhấn mạnh kỹ năng là
mặt kỹ thuật của hành động của con người, nắm được cách thức hành động tức
là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [19, tr11]
- Kỹ năng như một biểu hiện của năng lực cá nhân
N.D.Levitov, G.G.Golobev cho rằng kỹ năng là năng lực của người thực
hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện
khác nhau trong khoảng thời gian tương ứng, các tác giả cũng đồng thời nhấn
mạnh bất kỳ một kỹ năng nào cũng bao hàm trong đó cả biểu tượng, khái niệm,
vốn tri thức, kỹ xảo tập trung và phân phối, di chuyển chú ý, kỹ xảo tri giác,
quan sát, tư duy sáng tạo, tự kiểm tra điều chỉnh quá trình hoạt động cũng như
kỹ xảo hành động [34, tr56]
8
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Minh Châu cũng đã đưa ra quan điểm: “Kỹ
năng là trình độ, khả năng vận dụng kiến thức đã tiếp thu để giải quyết một
nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở một cấp độ, tiêu chuẩn xác định”
Lê Văn Hồng cũng có quan niệm kỹ năng theo xu hướng này. Tác giả
khẳng định kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống hành động phù
hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống hành động đó. Điều này cũng
có nghĩa cá nhân nào không có khả năng thực hiện hiệu quả hệ thống hành động
thì cá nhân đó được xem như là không có kỹ năng.
- Kỹ năng là một cấu trúc điều khiển.
J.N.Richard (2003) cho rằng mọi hành vi của con người đều xuất phát từ
cách mà con người ta suy nghĩ, kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành
động bên ngoài và chịu sự chi phối của cách thức con người ta cảm nhận, suy
nghĩ.
Kurt Fischer đưa ra quan điểm kỹ năng là đại diện sống động cho năng
lực, thái độ, cảm xúc của mỗi cá nhân. Tác giả nhấn mạnh mỗi kỹ năng liên
quan đến năng lực của cá nhân để kiểm soát các yếu tố của hành vi, suy nghĩ và
vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ của cá nhân một cách đúng đắn
và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực hiện hành
động hay hoạt động có hiệu quả.
1.1.2. Giao tiếp
“Giao tiếp” là hai từ không còn xa lạ gì trong xã hội ngày nay. Nó được
đề cập rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động học tập, trong công
việc...Đó là giao tiếp giữa người với người, giữa cộng đồng này với cộng đồng
khác, hay giữa các dân tộc với nhau. Giao tiếp được nhìn nhận như là vấn đề
trung tâm của cuộc sống con người, là động lực, là nhu cầu phát triển. Nhưng
dường như chúng ta chưa hiểu rõ bản chất của giao tiếp là gì? Trong nhiều năm
qua rất nhiều các nhà nghiên cứu đã không ngừng tìm kiếm để đưa ra câu trả lời
rõ ràng cho vấn đề này.
Có 2 xu hướng tiếp cận khi nghiên cứu về khái niệm giao tiếp như sau:
10
- Tiếp cận nghiên cứu giao tiếp như là một quá trình trao đổi thông tin
Có thể nói đây là một hướng nghiên cứu về giao tiếp được khá nhiều tác
giả quan tâm.
Tác giả Miller (1951) đã đưa ra quan niệm: Giao tiếp có nghĩa là thông tin
được truyền từ người này tới người khác.
Nhóm tác giả Hovland, Janet, Kelley cũng cho rằng: Giao tiếp là quá trình
mà mỗi cá nhân truyền kích thích để thay đổi hành vi của một cá nhân khác.
Các khái niệm về giao tiếp này đã nêu được giao tiếp là quá trình trao đổi
thông tin, thực hiện chủ yếu bằng lời nói, đây là một cách nhìn tương đối hẹp
mặc dù cũng nêu được mục đích của giao tiếp là nhằm thay đổi hành vi của đối
tượng giao tiếp.
Tác giả Lewis (1963) đưa ra quan niệm: “Giao tiếp là một quá trình mà
người ta làm tăng sự nhận biết một vấn đề bằng cách phán đoán các tín hiệu
được người phát hiện ra có liên quan đến vấn đề đó”. Cũng gần với quan điểm
Cách tiếp cận này coi giao tiếp như là quá trình mà các cá nhân thực hiện
các quan hệ xã hội.
Theo tác giả Cooley (1962), giao tiếp là cơ chế để các liên hệ của con
người tồn tại.
Gerbner (1966) thì cho rằng, giao tiếp là một quá trình tương tác xã hội
qua việc sử dụng các ký hiệu và hệ thống các thông điệp.
Với Theodorson (1969), giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, ý kiến,
thái độ và tình cảm của người này đến người khác, nhóm này đến nhóm khác
thông qua việc sử dụng các biểu tượng. Đặc biệt nhấn mạnh con người khi tham
gia vào quá trình giao tiếp thì chủ thể giao tiếp tiếp nhận và phát đi thông điệp
nhằm vào các mục tiêu cụ thể như trao đổi tình cảm, thông tin, gia tăng hiểu biết
và làm hiện thực hóa các quan hệ xã hội.
Nguyễn Thạc, Hoàng Anh cho rằng: “Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho
mối quan hệ giữa con người với con người qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý,
12
được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác
động qua lại lẫn nhau”.
Còn theo như các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần
Quốc Thành: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người,
thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác, ảnh
hưởng tác động qua lại lẫn nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận
hành quan hệ giữa người với người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ
thể này với chủ thể khác.
Từ điển Tiếng Việt ghi rõ: “Giao tiếp là trao đổi tiếp xúc với nhau. Ngôn
ngữ là công cụ của giao tiếp” [29, tr34]
Như vậy các tác giả nêu trên hầu hết đều đề cập đến giao tiếp với các dấu
hiệu cơ bản như sau:
do và cởi mở.
Rinn và Markle (1979) hiểu kỹ năng giao tiếp như là một sự thể hiện của
những hành vi dùng lời nói và không dùng lời nói là những phương tiện mà con
người dùng để giao tiếp với người khác và chúng tạo nên những yếu tố cơ bản
của KNGT.
Với các quan niệm trên, có thể nhận thấy các tác giả đã gắn KNGT với
một nhóm kỹ năng cụ thể như là kỹ năng nhận thức về người khác, kỹ năng sử
dụng các phương tiện giao tiếp. Điều đó dẫn đến nội hàm của KNGT dường như
đã bị thu hẹp lại.
Theo như tác giả Ngô Công Hoan: “Kỹ năng giao tiếp là khả năng tri giác,
hiểu được những biểu hiện bên ngoài cũng như diễn biến bên trong các hiện
tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của đối tượng giao tiếp. Trên cơ sở đó biết tổ
chức điều khiển quá trình giao tiếp từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc nhằm đạt
được kết quả trong quá trình giao tiếp”.
Tác giả Nguyễn Văn Đính viết: “Kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận biết
những biểu hiện bên ngoài và đoán biết diễn biến tâm lý bên trong của đối tượng
giao tiếp – con người. Đồng thời biết sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi
14
ngôn ngữ, biết cách định hướng để điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp đạt
tới mục đích nhất định”.
Còn theo tác giả Vũ Dũng: “Kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng có
hiệu quả những tri thức, hiểu biết về quá trình giao tiếp, các yếu tố tham gia và
ảnh hưởng tới quá trình giao tiếp cũng như sử dụng có hiệu quả các phương tiện
giao tiếp, phối hợp hài hòa với toàn bộ hành vi, ứng xử, cử chỉ để giúp chủ thể
giao tiếp đạt được mục tiêu nhất định của quá trình giao tiếp”
Như vậy cho dù quan niệm của các tác giả về KNGT còn nhiều khác biệt
nhưng về cơ bản đều nhấn mạnh đến khả năng đọc được cũng như sủ dụng được
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được
bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật”. [13, tr2]
Như vậy khái niệm về công chức của chúng ta vẫn chưa có sự tách biệt
giữa công chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị của
nước ta, cụ thể là CC làm việc trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Nhà nước
và các tổ chức chính trị - xã hội, pháp luật vẫn điều chỉnh chung trong khi giữa
các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị lại có những đặc thù, đặc điểm
riêng biệt.
1.1.4.2. Giao tiếp của công chức
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của
Nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật
nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để
duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện
những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, do các cơ quan trong hệ thống
quản lý hành chính từ Chính phủ ở Trung ương xuống Ủy ban nhân dân các cấp
ở địa phương tiến hành.
16
Trong hoạt động quản lý HCNN, nếu như trước đây, trong mô hình hành
chính công truyền thống, mối quan hệ giao tiếp trong nội bộ nền hành chính và
giữa nền hành chính với xã hội dân sự bên ngoài không được quan tâm thì ngày
nay, trong mô hình mới quản lý công, nâng cao hiệu quả của hoạt động giao tiếp
giữa các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý được khuyến khích phát triển và
được coi là hoạt động trung tâm để cải thiện mối quan hệ giữa Nhà nước với