Một số biện pháp giúp học sinh lớp 6 yêu thích học môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở - Pdf 41

BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Chúng ta đang sống trong thời kì hiện đại với sự phát triển kỳ diệu về trí
tuệ và khoa học công nghệ. Vì vậy con người và trí tuệ, nhân lực và nhân tài là
vấn đề chiến lược đầu tiên của mỗi quốc gia. Trước yêu cầu cấp bách đó của
thời đại, của đất nước trong quá trình đẩy nhanh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
giáo dục Việt Nam nói riêng đã không ngừng đổi mới về phương pháp dạy học,
thay đổi nội dung sách giáo khoa ở các cấp học nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục - đào tạo, tạo ra cho nước nhà những thế hệ chủ nhân tương lai “vừa hồng
vừa chuyên” như Bác Hồ mong muốn; những con người năng động, sáng tạo,
tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ. Điều đó được khẳng định rõ trong luật
giáo dục Điều 24: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm từng lớp
học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn tác động đến tình cảm và đem lại niềm vui, niềm hứng thú học tập
cho học sinh”.
Trong chương trình THCS, môn Ngữ văn có tầm quan trọng rất lớn trong
việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mỗi kiến thức Ngữ
văn như dòng phù sa mát lành góp phần bồi đắp những tình cảm cao đẹp, nuôi
dưỡng tâm hồn, trong sáng, hồn nhiên của các em. Từ đó, môn học vừa giúp các
em dần hình thành nhân cách vừa dần hình thành kĩ năng cần thiết trong cuộc
sống. Nên việc tạo iềm yêu thích, hứng thú học tập cho môn học “đem lại niềm
vui, niềm hứng thú học tập cho học sinh” là rất cần thiết.
Môn Ngữ văn có vai trò quan trọng như vậy, nên khi được là cầu nối giữa
những kiến thức Ngữ văn và học sinh, người giáo viên dạy văn như tôi thật hạnh
phúc. Qua những tháng năm gắn bó với nghề tôi thấm thía sâu sắc lời nói đầy ý
nghĩa của nhà thơ Tố Hữu: “Dạy văn học thật là một niềm vui sướng lớn. Qua
mỗi giờ văn học thầy giáo có thể làm cho các em yêu đời, yêu lẽ sống và lớn
thêm một chút”.
Tuy nhiên những năm gần đây, môn Ngữ văn không được nhiều học sinh

Email:

4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Lê Thị Minh Huệ
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh bậc THCS
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Từ ngày 20 tháng 8 năm 2014
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ triển khai nghiên cứu đề tài ở
năm học 2014 - 2015.
Bắt đầu từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015.
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
2


I. Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Môn Ngữ văn có vai trò quan trọng như vậy, nên khi được là cầu nối giữa
những kiến thức Ngữ văn và học sinh, người giáo viên dạy văn như tôi thật hạnh
phúc. Qua những tháng năm gắn bó với nghề tôi thấm thía sâu sắc lời nói đầy ý
nghĩa của nhà thơ Tố Hữu: “Dạy văn học thật là một niềm vui sướng lớn. Qua
mỗi giờ văn học thầy giáo có thể làm cho các em yêu đời, yêu lẽ sống và lớn
thêm một chút”.
Tuy nhiên những năm gần đây, môn Ngữ văn không được nhiều học sinh
và các bậc phụ huynh coi trọng. Một thực tế phải thừa nhận là do xu thế phát
triển kinh tế, do nhìn nhận của xã hội nên không ít bậc cha mẹ có hướng cho con
em mình theo học các môn khoa học tự nhiên.
Về phía học sinh, do áp lực từ chương trình học nhiều kiến thức, áp lực từ
sự kỳ vọng của cha mẹ muốn con, em mình học giỏi các môn khoa học tự nhiên,
khiến các em không đủ thời gian suy nghĩ, sáng tạo một bài văn đúng nghĩa là
sản phẩm tinh thần của mình. Và kết quả là đến giờ làm văn, các em cho ra
những sản phẩm hời hợt, sơ sài, thiếu cảm xúc.
Việc học sinh ngại học môn Ngữ văn, coi môn Ngữ văn là khó, là khổ còn
do một nguyên nhân rất lớn là: cách dạy Ngữ văn của một số giáo viên chưa tạo

Phân môn Tập làm văn
Là phân môn mang tính cộng hưởng của phân môn Văn học và Tiếng Việt.
Nó là sự khẳng định đánh giá chất lượng học tập của học sinh ở bộ môn Ngữ
văn. Điều quan trọng nhất ở phân môn Tập làm văn chính là vốn liếng văn
chương, vốn liếng từ ngữ và khả năng tư duy nhạy cảm ở học sinh.
Ba phân môn trên được in chung trong sách Ngữ văn ở các khối lớp và
được thể hiện rõ trong từng bài học, ứng với từng tuần học: lớp 6,7,8 học 4 tiết
trên tuần; lớp 9 học 5 tiết trên tuần.
2. Thực trạng việc dạy và học môn ngữ văn ở trường trung học cơ sở
hiện nay
2.1. Thực trạng
Hiện nay học văn đang là mối quan tâm của xã hội, nhất là sự nhìn nhận
vị trí của môn học này trong xã hội và thái độ của đối với học sinh .
2.1.1. Về phía học sinh:
Phần lớn học sinh đã nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn Ngữ văn đối với
sự phát triển nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn và hình thành những kĩ năng sống cần
thiết của các em.
Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ học sinh nhận thức chưa đúng, đầy đủ về
vị trí, vai trò của môn Ngữ văn nên các em coi nhẹ, không hứng thú học và ngại
học bộ môn. Các em chưa thực sự tự giác tích cực trong giờ học ở lớp cũng như
4


học ở nhà nên có biểu hiện đối phó: làm bài qua quýt, chép tài liệu: giờ kiểm tra
thì quay cóp nhìn bài; rất nhiều em( nhất là nam giới) bỏ giờ để chơi Game bởi
các trò chơi ấy có sức cuốn hút hơn tất thảy mọi kiến thức; hơn nữa gần đây năng
lực cảm thụ văn giảm sút rất nhiều. Đứng trước một tác phẩm lay động trái tim
bao thế hệ nhưng các em không mảy may rung động, đứng trước những con
người có hoàn cảnh đáng thương trong cuộc sống nhưng các em quay lưng…đây
là thực trạng chung mà cả xã hội đã đều thấy và tốn không ít giấy mực viết về đề

Thứ hai là bảng hỏi thái độ của học sinh đối với môn học với câu hỏi: “Em
thích học môn văn ở mức độ nào?” với các mức độ: Thích - Bình thường Không thích.
Sau đây là kết quả kiểm tra bài viết văn số 1 của học sinh 2 lớp 6A, 6B

Lớp

Điểm Giỏi

Điểm Khá

Điểm TB

Điểm Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%


10

27,77

17

47,22

7

19,44

Tổng số

71

5

7,04

22

31,00

32

45,07

12



17,14

18

51,42

11

31,42

6B

36

5

13,88

17

47,22

14

38,89

Tổng số

71

với môn học. Chính vì vậy, các em thiếu hứng thú say mê, thiếu sự nỗ lực,
độc lập, sáng tạo trong học văn.
Thứ ba, trình độ kiến thức và phương pháp học tập môn Ngữ văn của học
sinh lớp 6 còn hạn chế. Sự thay đổi về nội dung, phương pháp giảng dạy của giáo
viên trung học cơ sở so với giáo viên bậc Tiểu học khác nhiều làm cho đa số học
sinh chưa thích nghi ngay được. Chỉ một số ít các em thích nghi nhanh, còn lại đa
số các em tiếp thu bài chậm, trong giờ học các em tỏ ra mệt mỏi, không hăng hái
phát biểu ý kiến. Giờ học Ngữ văn dễ trở thành một buổi học căng thẳng, học sinh
thụ động ghi chép, cho ra những sản phẩm hời hợt, sơ sài, thiếu cảm xúc.
Thứ tư, phương pháp giảng dạy môn dạy Ngữ văn của một số giáo viên chủ
yếu quan tâm đến chuẩn kiến thức, chưa quan tâm đúng mức đến việc tạo ra
hứng thú cho người học. Giáo viên chủ yếu hướng vào thực hiện chức năng
truyền thụ, chưa chú ý đến việc thực hiện chức năng tổ chức, khuyến khích thái
độ học tập tích cực của học sinh. Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
chưa được vận dụng phổ biến và thường xuyên.
Hơn nữa, phương pháp kiểm tra, đánh giá của không ít giáo viên vẫn chưa
đáp ứng yêu cầu đổi mới. Các tiêu chí đánh giá kết quả học tập chủ yếu vẫn dựa
vào mức độ tái hiện kiến thức, chưa chú ý đến khả năng sáng tạo, chưa khích lệ
các cách thức tư duy độc đáo, phong cách riêng của học sinh.
Thứ năm, hệ thống tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, cơ sở vật chất kỹ
thuật dạy học của nhà trường thường xuyên được ngành giáo dục trang bị, bổ
sung. Tuy nhiên, các thiết bị dạy học trực quan, thiết bị dạy học hiện đại cho
môn Ngữ văn còn ít, đơn điệu chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học, đã ảnh hưởng nhất định đến việc tạo hứng thú cho học sinh.
Từ thực trạng và nguyên nhân trên, với suy nghĩ làm thế nào để tìm cách
tháo gỡ vấn đề nên tôi đã tiến hành một số biện pháp để khơi gợi hứng thú học
Ngữ văn của học sinh lớp 6 , học kì I năm học 2014-2015 vừa qua ở đơn vị mình
giảng dạy và đã thu được kết quả rất khả quan.

7

đọc rõ lời kể về lai lịch nguồn gốc và đặc điểm của Gióng; lời thoại của Gióng
khi nói với sứ giả.
Khi học sinh đọc diễn cảm được, nhất thiết giáo viên phải có sự động viên
khích lệ cũng như những hướng dẫn, uốn nắn cần thiết có như vậy các em mới
tích cực tự rèn đọc.
8


3.1.2. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp dạy học tích cực đưa học sinh vào vị trí của nhân
vật hay tác giả để cùng trải nghiệm cùng chia sẻ với nhà văn và con người trong
tác phẩm về những suy nghĩ, những ứng xử trong cuộc sống. Qua việc đóng vai
học sinh có thể “đồng sáng tạo” cùng nhà văn khi thể hiện cách cảm, cách nghĩ,
cách xử lí tình huống của mình.
Chúng ta đều biết Ngữ văn 6 kì I phần Văn chủ yếu giới thiệu các tác phẩm
tự sự dân gian. Đây đều là những tác phẩm quen thuộc trong đời sống tâm hồn
của nhân dân ta nên rất nhiều em đã đọc, đã nghe. Vì vậy khi được học lại các
tác phẩm này các em sẽ có thái độ chán nản. Nhưng khi giáo viên cho các em
đóng vai thì hiệu quả giờ dạy tăng lên rõ rệt. Bởi khi được hoà mình trong lời
nói, suy nghĩ và tâm trạng của nhân vật không chỉ học sinh trực tiếp đóng vai
thấy thích thú mà tất cả các em ngồi xem cũng thấy câu chuyện sinh động mới
mẻ hơn rất nhiều. Cũng từ hình thức đóng vai ấy các em sẽ thấm thía hơn giá trị
của tác phẩm văn học.
Ví dụ: Khi dạy văn bản truyện dân gian “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” tiết 9,
“Thạch Sanh”tiết 21,22…, bên cạnh việc dặn dò học sinh đọc soạn chuẩn bị bài
ở nhà, giáo viên khuyến khích các em phân vai các nhân vật trong truyện để thể
hiện câu chuyện trong giờ học phần đọc văn bản.
Hay khi phân tích văn bản, giáo viên có thể sử dụng phương pháp đóng
vai, nhập vai nhân vật trong tình huống thảo luận để nhiều học sinh được nói lên
quan điểm xử lí tình huống. Từ đó các em sẽ hình thành kĩ năng sống cho mình

Ví dụ: Trong bài “Cây bút thần” tiết 30,31 truyện cổ tích Trung Quốc, hình
ảnh Mã Lương dùng cây bút liên tục vẽ những đường cong lớn, mượn giông tố
dữ dội, mù mịt, chôn vùi triều đình vua quan tàn ác dưới muôn lớp sóng bạc đầu
trừ hại cho dân, trong lời giảng tôi cho học sinh thấy việc làm của Mã Lương
không chỉ là sự chiến thắng của một em bé lương thiện với những kẻ tàn ác, mà
đó chính là ước mơ chiến thắng của hàng trăm triệu nông dân Trung Quốc dưới
thời phong kiến, là tiếng reo vang sảng khoái của họ. Mã Lương với cây bút
thần đã thực hiện trọn vẹn niềm mơ ước tự do giải phóng không chỉ của nhân
dân Trung Quốc, mà còn là chính mơ ước của nhân dân ta thời xưa.
Ví dụ: Dạy “Cô Tô” tiết 103 khi cho học sinh tìm hiểu về cảnh mặt trời mọc
trên biển, trong đó nhà văn Nguyễn Tuân so sánh mặt trời mọc “Y như một mâm
lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những
người chài lưới trên muôn thuở biển Đông”. Tôi thực sự xúc động khi liên tưởng
tới thảm hoạ từ những trận bão đã làm cho biết bao ngư dân đi biển đánh cá
không trở về; Và còn biết bao ngư dân trong 29 tỉnh và thành phố trên cả nước
có biển đang hàng ngày, hàng giờ đối mặt với những hiểm hoạ bất ngờ từ biển
khơi. Vì vậy trong lời giảng tôi không chỉ cho học sinh thấy đó là một hình ảnh
so sánh độc đáo, thể hiện được sự đường bệ của mặt trời, không chỉ thể hiện sự
10


say mê của tác giả trước vẻ đẹp thiên nhiên mà còn ẩn chứa một tình cảm thiết
tha, một ước vọng cháy bỏng của tác giả, của mỗi con người có tình thương giữa
con người với nhau: Đó là những chuyến đi biển bình yên của những ngư dân,
họ sẽ trở về vẹn nguyên với những con tàu chở đầy ắp cá.
Tuy nhiên, giáo viên cần chú ý không lạm dụng lời giảng, mà bỏ quên các
phương pháp dạy học khác. Cần bình đúng lúc, đúng chỗ để bài giảng hiệu quả.
3.1.4. Kĩ thuật mảnh ghép
Là kĩ thuật tổ chức hoạt động hợp tác giữa các cá nhân, nhóm và liên kết
các nhóm nhằm giải quyết một vấn đề phức hợp kích thích sự tham gia tích cực

Được làm việc tích cực theo nhóm, được cùng thể hiện những cảm nhận
những suy nghĩ, tôi thấy học sinh rất say sưa, hào hứng tiếp thu bài. Đây là
thành công lớn đối với giờ dạy.
3.1.5. Kĩ thuật viết tích cực
Đây là kĩ thuật giúp học sinh bộc lộ rõ nhất năng lực cảm thụ và tiếp thu
kiến thức mình. Có thể sử dụng kĩ thuật này trong giờ văn, giờ Tiếng Việt với
những bài tập viết đoạn văn; giờ làm văn với kiểu bài kể chuyện tưởng tượng,…
Có nhiều hình thức viết như : viết cảm thụ về bài thơ, đoạn thơ hay, sáng tác thơ,
viết bình luận văn học (đối với lớp 6 đây hình thức khó); viết lại, sửa lại, bổ sung
lại văn bản; diễn xuôi văn bản…Những hình thức viết này có thể thực hiện trong
giờ kiểm tra bài cũ hoặc giờ ngoại khoá Ngữ văn. Giáo viên sẽ tổ chức thi viết có
khen thưởng.
Trong chương trình Ngữ văn 6 khi dạy bài “Hướng dẫn đọc thêm: Ông
lão đánh cá và con cá vàng” tiết 35 giáo viên yêu cầu: hãy viết lại phần kết của
truyện.
“Đợi mãi không thấy cá vàng bơi lên, ông lão chèo thuyền ngược trở về.
Sóng gió bão bùng đã qua đi. Biển xanh trở lại hiền hoà. Ông lão chèo thuyền
mà lòng chất chứa bao nỗi ưu tư. Không biết có nên trở lại ngôi nhà ấy nữa
không? Nó giờ đây đâu còn là ngôi nhà của mình nữa. Và người ở trong ngôi
nhà ấy cũng đâu phải là người vợ đói khổ của mình. Nhưng không biết quỷ thần
xui khiến thế nào mà đôi chân lão vẫn đưa lão về mảnh đất ngày xưa.
Nhưng! Chuyện gì đang xảy ra thế này? Tất cả đã biến đi đâu? Tại sao
không còn ai nữa? Mụ vợ của ta đâu? Trước mắt ông lão không phải là một
cung điện nguy nga có Long Vương đang ngự giữa hàng trăm lính canh như lão
nghĩ. Kì lạ thay! Trước mặt ông là khung cảnh cũ. Mái lều lụp xụp, rách nát và
siêu vẹo đứng bên cạnh chiếc máng lợn đã sứt mẻ cả hai đầu. Xa xa ngoài kia

12



hơn, lão vẫn nhận ra, đó chính là vợ lão. Vợ chồng gặp nhau trong lặng im và
nước mắt. rồi họ cùng đi về căn lều rách nát nhưng đã gắn bó với họ suốt mấy
chục năm qua. Và ngoài kia gió đại dương thổi vào mát rượi và biển xanh vỗ
sóng êm đềm.”
Ở kì II có một số tác phẩm thơ trữ tình hiện đại giáo viên có thể sử dụng
thao tác này. Chẳng hạn bài “Lượm” của Tố Hữu “Đêm nay Bác không ngủ”
của Hồ Chí Minh. Đây là hai văn bản trữ tình có yếu tố tự sự rất rõ nét bởi nó có
sự việc, có nhân vật. Vì vậy học sinh có thể viết thành một câu chuyện sinh
động, nhất là những em học sinh khá giỏi.
VD: Ví dụ bài thơ “Lượm” của Tố Hữu có thể hướng dẫn học sinh viết thành

câu chuyện như sau:
“Chuyện về cậu bé thiếu niên Lượm dũng cảm đã hi sinh vì đất nước mãi

là kỉ niệm không phai trong lòng người dân Việt Nam. Lần đó tôi có dịp vào
Huế và vô cùng may mắn, tôi được nói chuyện với một người đồng đội của
Lượm. Lúc đó Lượm làm liên lạc cho đơn vị Mang Cá của bác.
Nhắc đến Lượm, đôi mắt bác ánh lên niềm tự hào pha lẫn niềm tiếc thương
một cậu bé vô cùng can đảm, anh hùng. Bác nhớ lại, ngày đó khi được phân
công về công tác ở đồn Mang Cá, bác đã nghe mọi người hay nhắc đến cậu bé
làm liên lạc rất gan dạ và anh dũng. Những lời nói đó đã khiến bác rất lưu tâm
và muốn được gặp cậu bé. Hôm ấy, gặp một chú bé dáng nhỏ bé, nhanh nhẹn
bác liền gọi lại và hỏi:
- Cháu bé, cháu được phân công làm nhiệm vụ gì?
- Cháu làm liên lạc viên chú à.
- Thế có phải tên cháu là Lượm không?
- Dạ thưa chú cháu tên là Lượm. Sao chú biết ạ?
- À ra vậy!- Thế cháu có sợ nguy hiểm không?
Chú bé nhún vai lém lỉnh trả lời:


Tin cháu Lượm hi sinh làm tôi xót xa bàng hoàng. Từ độ kháng chiến đến
nay tôi đã nghe nhiều tin tức hi sinh của đồng bào đồng chí, nhưng tin cháu
Lượm bỏ mình làm tim tôi xao xuyến mãi. Cháu còn bé bỏng quá, vô tư quá, đã
hiểu thế nào là sống chết đâu.
15


Nghe bác kể đến đó, trước mắt tôi bỗng hiện lên hình ảnh một chú Lượm
nhỏ bé, đeo cái xắc xinh xinh, đội cái mũ ca lô lệch, vừa huýt sáo vừa nhảy tâng
tâng như con chim chích của vườn ruộng Việt Nam.”
Qua hình thức viết sáng tạo các em không chỉ bộc lộ rõ năng lực cảm thụ và
tiếp thu kiến thức mình mà còn hình thành một số kĩ năng hữu ích khi viết văn tự
sự. Các em sẽ thấy viết văn tự sự, việc tạo sự việc thể hiện lời kể, lời thoại không
khó. Từ đó các em sẽ hào hứng với tiết học phần Tập làm văn hơn.
3.2. Tích cực, chủ động sử dụng các dụng cụ trực quan, phương tiện kĩ
thuật hiện đại
Dụng cụ trực quan và kĩ thuật hiện đại là tranh ảnh, biểu bảng và máy tính,
máy chiếu, đặc biệt là công nghệ thông tin… . Trong dạy học hiện đại, đây là
những phương tiện tạo nên hứng thú học tập của học sinh hiệu quả nhất, tác
động rõ nhất đến các giác quan của các em.
3.2.1. Đồ dùng trực quan
Tôi thấy, ở những bài dạy có tranh ảnh minh hoạ được phóng to, màu sắc
đẹp, sinh động, hoặc những đoạn băng hình…Học sinh rất hứng thú theo dõi, kết
hợp với lời giảng của giáo viên, học sinh trở nên hào hứng say mê lắng nghe,
phát biểu. Chẳng hạn, khi dạy bài “Cô Tô” tiết 103, 104 tôi phóng to và sử dụng
kỹ thuật tô màu từ máy Photo Copy, bức tranh trở nên đẹp đẽ, sống động với
hình ảnh núi đảo xanh mượt, nước biển lam biếc, đậm đà, và mặt trời như lòng
đỏ quả trứng tươi tắn và đầy sức sống trong buổi bình minh. Trong nền cảnh đó,
hình ảnh người lao động gánh nước xuống thuyền thật tấp nập, khoẻ khoắn.
Quan sát tranh, học sinh cảm nhận rõ và sâu sắc cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt

đẹp của động Phong Nha cho học sinh xem. Học sinh vô cùng thích thú, trầm trồ
tấm tắc khen ngợi Ve đẹp kì vĩ của thiên nhiên.
Cùng với giáo án điện tử, giáo viên có thể sử dụng phần mềm
ConceptDraw MINDMAP 5 Professional (Bản đồ tư duy) để mã hoá các kiến
thức giúp học sinh dễ thuộc, dễ nhớ, nhớ lâu kiến thức hơn. Phần mềm này có
thể được sử dụng và khai thác hiệu quả khi giáo viên tổng kết bài học, hoặc khi
dạy các tiết ôn tập, tổng kết.
Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập Tiếng Việt” tiết 66 sử dụng phần mềm này để
minh hoạ phần "Từ tiếng Việt" (theo cấu tạo) rất hiệu quả bằng “Bản đồ tư duy”
kiến thức sau:

18


Hình 3: Bản đồ tư duy về từ tiếng Việt (theo cấu tạo)
Bên cạnh đó giáo viên có thể phần mềm Potatoes (trò chơi ô chữ) để kích
thích tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong tiếp thu kiến thức, tránh sự nhàm
chán, khiên cưỡng. Với trò chơi ô chữ, giáo viên có thể sử dụng linh hoạt trong
cuối các tiết học. Với việc lần lượt trả lời các câu hỏi để tìm ra ô chữ hàng
ngang, hàng dọc các em sẽ được khắc sâu kiến thức của bài học.
Ví dụ: khi dạy tiết “Ôn tập truyện dân gian” tiết 54, 55 giáo viên có thể
sử dụng trò chơi này để tổng kết kiến thức như sau:

19


Hình 4: Ô chữ phần tổng kết văn học dân gian
Rõ ràng, đồ dùng trực quan và kĩ thuật hiện đại là một điều kiện cần thiết
để tạo hứng thú học tập cho học sinh. Giáo viên biết kết hợp đồ dùng trực quan
và kĩ thuật hiện đại với các phương pháp khác sẽ tạo nên hứng thú học tập cho

được đến một số miền quê trên đất nước ta, mỗi nơi để lại cho cô một khám phá
mới mẻ về đất nước, con người Việt Nam. Nhưng đến đất Phong Châu, cô có
cảm xúc đặc biệt là sự thành kính mảnh đất thiêng, nơi Cội nguồn dân tộc, nơi
các Vua Hùng dựng nước từ đó”. Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta hiểu về
nguồn gốc: “Con Rồng Cháu Tiên” của dân tộc Việt Nam.
Ví dụ: Bài “Vượt thác” tiết 85, tôi sử dụng phương pháp ôn cũ học mới,
giúp học sinh liên tưởng về những địa danh, nhớ lại kiến thức đã học, lời giới
thiệu như sau:
“Nếu như trong “Sông nước Cà Mau” (tiết 77) nhà văn Đoàn Giỏi đã đưa
chúng ta đến tham quan cảnh sắc phong phú, độc đáo của vùng đất cực nam Tổ
Quốc, thì với đoạn trích “Vượt thác” Võ Quảng lại dẫn chúng ta ngược dòng sông
Thu Bồn, thuộc miền Trung Trung Bộ, đến tận thượng nguồn để lấy gỗ. Nhà văn
đã giúp ta hiểu thêm về sự hùng vĩ của sông nước cũng như sự dũng cảm kiên
cường của con người nơi đây khi họ chinh phục và chiến thắng thiên nhiên….”
21


Cách 3: Khởi động bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin, hoặc đồ
dùng trực quan. Như đã nói ở trên đây là phương tiện tạo hứng thú rất có hiệu
quả. Bằng hình ảnh, âm thanh, màu sắc, bảng biểu…trực quan sinh động được
treo, được chiếu trên bảng học sinh sẽ tập trung mọi giác quan để học bài mới.
Ví dụ: Khi dạy bài “Sông nước cà mau” tiết 77, “Động Phong Nha” tiết
129, 130, “Cầu Long Biên chứng nhân lịch sử” tiết 123…, giáo viên có những
hình ảnh sinh động liên quan đến bài học chiếu lên màn hình kết hợp với lời giới
thiệu hay sẽ rất hiệu quả.
Tóm lại, bằng nhiều hình thức, phương pháp giảng dạy phù hợp, giáo viên
sẽ khơi gợi được hứng thú học tập cho học sinh.
3.4. Coi trọng và nâng cao chất lượng các tiết thực hành: Hoạt động
tập làm thơ, hoạt động Ngữ văn thi kể chuyện và chương trình địa phương
Trong chương trình Ngữ văn đây là những đơn vị kiến thức mới. Thời

các em sưu tầm, tìm hiểu các truyện dân gian ở địa phương mình qua ông bà,
cha mẹ, sách báo của địa phương. Qua quá trình tìm đọc, nghe ấy, các em không
chỉ biết thêm được những tác phẩm văn học mà lớn hơn thế các em hiểu rõ hơn
về suy nghĩ, tình cảm của ông cha mình từ đó bồi đắp trong các em lòng tự hào
và tình yêu quê hương sâu sắc.
3. 5. Đánh giá chính xác, khách quan kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra đánh giá là một khâu không kém phần quan trọng tạo nên hứng
thú học tập cho học sinh. Dạy Ngữ văn đã là khó, việc đánh giá bài làm của học
sinh cũng không kém phần khó khăn, vất vả. Với các môn khoa học khác, nhất
là các môn khoa học tự nhiên, không chỉ người thầy dạy mà ngay cả học sinh
sau khi làm bài xong cũng có thể đánh giá gần như chính xác kết quả. Còn sự
đánh giá cho điểm ở bài tập làm văn lại không đơn giản như vậy.
Từ thực tế trên, tôi thấy không thể xem nhẹ khâu đánh giá bài làm của học
sinh. Ngược lại, giáo viên cần coi đây là khâu quan trọng, song song với việc
đổi mới phương pháp dạy học. Theo tôi, khi chấm bài giáo viên cần chú ý một
số điểm sau:
Thứ nhất, trước khi chấm, giáo viên nên đưa ra một mẫu biểu điểm nhưng
linh hoạt với những bài làm có tính sáng tạo, có dấu ấn cá nhân.
Thứ hai, Khi chấm bài, cần có sự phân loại đánh giá bài làm ở hai cấp độ:
Đủ ý về nội dung và nghệ thuật và giọng điệu, cảm xúc, cảm thụ văn chương tốt.
Thứ ba, lời phê cho bài làm của học sinh cũng không kém phần quan
trọng. Lời phê cần ngắn gọn nhưng rõ ràng, giúp học sinh nhận ra ưu điểm hay
khuyết điểm của mình để khắc phục. Cần khen chê hợp lí. Để cho học sinh có
hứng thú chờ đợi giờ trả bài và xem lời phê của cô, chứ không phải chỉ để ý đến
điểm mà không quan tâm đến sai sót trong bài làm.
Trên đây là một số giải pháp tôi đã thực hiện nhằm tạo ra hứng thú cho học sinh.
Những giải pháp này được thực hiện đồng bộ với các giải pháp khác của nhà
23




24


Lớp

Điểm Giỏi

Điểm Khá

Điểm TB

Điểm Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%


19

52,77

11

30,55

2

5,55

Tổng số

71

10

14,08

41

57,74

17

23,94

3


25

71,42

8

22,85

2

5,71

7B

36

23

63,88

10

27,77

3

8,33

Tổng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status