Mối quan hệ tương tác giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế như thế nào thông qua thực trạng của việt nam hiện nay. giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế ra sao - Pdf 41

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Để tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thì một trong những
điều kiện cực kỳ quan trong đồi với mọi quốc gia là phải mở rộng đầu tư. Người ta hay
nói đến một trong những nguyên nhân chính làm cho kinh tế của năm con rồng Châu Á
tăng trưởng nhanh trong một thời gian dài là do vốn đầu tư phát triển tăng liên tục và
thường chiếm khoảng 30% trong GDP.
Về mặt lý luận,hầu hết các tư tưởng,mô hình và lý thuyêt về tăng trưởng kinh tế đều
trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận đầu tư và việc tích luỹ vốn cho đầu tư là một nhân tố
quan trọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất,cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế. Từ các
nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith trong cuốn “Của cải của các dân tộc” đã cho
rằng vốn đầu tư là yếu tố quyết định chủ yếu của số lao động hữu dụng và hiệu quả .Việc
gia tăng quy mô vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọng trong việc gia tăng sản lượng quốc
gia và sản lượng bình quân mỗi lao động.
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ nét trong tiến trình đổi
mới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua. Vậy mối quan hệ tương tác giữa đầu tư và
tăng trưởng kinh tế như thế nào thông qua thực trạng của Viêt Nam hiện nay? Giải pháp
để nâng cao hiệu quả đầu tư cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế ra sao? Bài viết này của
nhóm nghiên cứu sẽ giải đáp những vấn đề đó.

1


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2


CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU


1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu về chỉ số ICOR cũng như ưu - nhược điểm của
chỉ số ICOR trong việc đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế; đồng
thời liên hệ thực tiễn tới Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau :
- Khái quát về chỉ số ICOR;
- Ưu, nhược điểm của chỉ số ICOR trong việc đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư và tăng
trưởng kinh tế;
- Liên hệ thực tiễn về chỉ số ICOR tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ số ICOR và ưu-nhược điểm của hệ số này trong việc đánh
giá mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế.
- Phạm vi nghiên cứu: Liên hệ thực tiễn nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Qua mỗi thời kỳ kinh tế, có rất nhiều sự biến động về cả kinh tế, xã hội, chính sách,
…cả ở trong nước và quốc tế. Do đó, việc liên hệ thực tế nền kinh tế Việt Nam trong giai
đoạn gần nhất với thời gian nghiên cứu là điều cần thiết để có thể đảm bảo tính khoa học,
cập nhật của đề tài; đồng thời có thể đưa ra những giải pháp phù hợp và khả thi nhất với
thực trạng hiện tại của nền kinh tế.
Như vậy giai đoạn 5 năm 2011-2015 là khoảng thời gian thích hợp nhất để nhóm
nghiên cứu thực tiễn và đưa ra các kết luận xác thực nhất.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp thu thập dữ liệu: các số liệu thống kê,
báo cáo về vốn đầu tư, GDP và chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 cùng với
các thông tin liên quan đến thực trạng sử dụng vốn đầu tư ở 3 khu vực kinh tế: Khu vực
nhà nước, Khu vực ngoài nhà nước và Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

4


2.2 Tổng quan về vốn đầu tư

Vốn đầu tư là nguồn lực tích luỹ được cuả xã hội, cơ sở sản xất kinh doanh dịch vụ,
tiết kiệm của dân, huy động từ nước ngoài được biểu hiện dưới các dạng tiền tệ các loại
hoặc hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình và hàng hoá đặc biệt khác.
Nguồn vốn đầu tư là các kênh tập trung và phân phối cho vốn đầu tư phát triển đáp
ứng nhu cầu chung của nhà nước và xã hội.
Nguồn vốn đầu tư bao gồm: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài

-

Nguồn vốn trong nước:
Nguồn vốn nhà nước: bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh

-

nghiệp nhà nước.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân: bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ

của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã.
• Nguồn vốn nước ngoài:
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu
chuyển vốn quốc tế (international capital flows). Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn
quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế
giới. Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các
nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm. Dòng vốn
này diễn ra với nhiều hình thức. Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực
hiện riêng, không hoàn toàn giống nhau. Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân
thành các nguồn vốn nước ngoài chính như sau:

trong nước (GDP); tổng sản phẩm quốc dân (GNP); sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP);
thu nhập quốc dân sản xuất (NI) và thu nhập quốc dân sử dụng (NDI).
Trong số đó, đại lượng được sử dụng phổ biến hơn cả là : Tổng sản phẩm trong
nước (Tổng sản phẩm quốc nội - GDP). GDP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ mới
được tạo ra trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Đại
lượng này thường được tiếp cận theo các cách khác nhau:


Về phương diện sản xuất:
GDP = Giá trị sản xuất – chi phí trung gian + thuế nhập khẩu



Về phương diện tiêu dùng :
GDP = C + I + G + (X - M)

Trong đó: C: Tiêu dùng các hộ gia đình
G: Các khoản chi tiêu của chính phủ
I: Tổng đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp
(X - M): Xuất khẩu ròng trong năm

7


2.4 Tổng quan về hệ số ICOR
2.4.1. Khái niệm
Hệ số ICOR phản ánh quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư (mô hình Harrod Domar). Hệ số ICOR (k) là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư, nó được xác định
theo công thức:

2.4.2. Công thức

Tuy nhiên, dù có tính đến độ trễ của đầu tư, nhưng thật sự cách tính này vẫn không
hoàn toàn chính xác, khi có những dự án trung và dài hạn, thời gian dự án không giống
nhau, không hoàn toàn là chỉ 1 năm. Vậy nên, để tính ICOR, ta thường tính trong 1 giai
đoạn thì sẽ có kết quả chính xác nhất.
Công thức tính hệ số ICOR cho nhiều năm:

2.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng
Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố; trong số
đó có ba yếu tố có tác động lớn đến ICOR của nền kinh tế.
Thứ nhất, sự thay đổi cơ cấu đầu tư ngành dẫn đến thay đổi ICOR từng ngành, do
đó tác động đến hệ số ICOR chung.
Thứ hai, sự tiến bộ về khoa học công nghệ đến đến hai chiều hướng tác động trái
ngược nhau.

9


Cụ thể, khi khoa học công nghệ phát triển đòi hỏi phải gia tăng về lượng vốn là
nhân tố tăng ICOR. Mặt khác, khoa học công nghệ phát triển, sẽ tạo ra nhiều ngành mới,
công nghệ mới, làm máy móc hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao năng suất, tăng kết quả
đầu tư, làm giảm hệ số ICOR. Vì vậy, chiều hướng nào mạnh hơn sẽ quyết định tới sự
thay đổi ICOR.
Thứ ba, sự thay đổi cơ chế chính sách, quản lý hợp lý hơn có nghĩa việc sử dụng
nguồn vốn sẽ hiệu quả hơn góp phần làm giảm ICOR và ngược lại.
2.4.4. Ý nghĩa
Ý nghĩa của ICOR là để tạo thêm được một đơn vị kết quả sản xuất thì cần tăng
thêm bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất. Hay nói cách khác, ICOR là “giá” phải trả thêm cho
việc tạo thêm một đơn vị kết quả sản xuất. Hệ số ICOR càng lớn chứng tỏ chi phí cho kết
quả tăng trưởng càng cao nó phụ thuộc vào mức độ khan hiếm nguồn dự trữ và tính chất
của công nghệ sản xuất; ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nước

thời kì dài khác nhau thì sự thay đổi công nghệ hay tỷ lệ kết hợp giữa vốn và lao động ít
khi giống nhau. So sánh giữa các nền kinh tế cho thấy, xu hướng những nền kinh tế phát
triển, sử dụng công nghệ cao thì cần nhiều vốn hơn nên ICOR thường cao.
2.5.2. Nhược điểm



Hệ số ICOR mới chỉ phản ánh ảnh hưởng của yếu tố vốn đầu tư mà chưa tính đến ảnh
hưởng của các yếu tố sản xuất khác trong việc tạo ra GDP tăng thêm. Đầu tư ở đây chỉ là
đầu tư tài sản hữu hình, còn đầu tư tài sản vô hình, tài sản tài chính không được tính đến,
nên chưa phản ánh trung thực ảnh hưởng của đầu tư tới thu nhập quốc dân. ICOR cũng

bỏ qua sự tác động của các ngoại ứng như điều kiện tự nhiên xã hội, cơ chế, chính sách.
− Hệ số ICOR không tính đến yếu tố độ trễ thời gian của kết quả và chi phí (tử số và mẫu



số của công thức), vấn đề tái đầu tư…
Là một chỉ số đã được đơn giản hóa nên khó đánh giá các hiệu quả kinh tế-xã hội.
Chỉ số này không biểu hiện được rõ ràng trình độ kỹ thuật của phía sản xuất, vì ICOR là
tỷ lệ đầu tư/sản lượng gia tăng. Chẳng hạn một bên có kỹ thuật sản xuất kém hơn, với
một lượng đầu tư tương đối cũng có thể cải thiện chỉ số ICOR xấp xỉ với bên có trình độ
kỹ thuật cao hơn, do kỹ thuật càng cao thì càng chậm cải tiến.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ HỆ SỐ ICOR TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2011-2015
3.1 Thực trạng chung tại Việt Nam

Tại Việt Nam, ICOR là một trong những chỉ số quan trọng để đo lường hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư của nền kinh tế.


Khu vực ngoài NN

2011
2012
2013
2014

6,16
6,40
6,21
5,73

10,42
7,46
9,75
11,78

3,78
5,35
4,57
3,73
12

Khu vực có VĐT
nước ngoài
8,53
7,08
5,97
5,6



Ở Việt Nam, nguồn vốn đầu tư cho khu vực kinh tế nhà nước là rất lớn, chiếm đến
80% đầu tư công trên cả nước, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn vay và vốn của
doanh nghiệp nhà nước, trong đó nguồn vốn NSNN chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Tuy được đầu tư một lượng vốn lớn nhưng cho đến nay, hoạt động đầu tư của khu
vực này còn kém hiệu quả hơn so với các khu vực kinh tế khác.
Dựa vào biểu đồ sự biến động của vốn đầu tư và GDP trong giai đoạn này, có thể
thấy, nhìn chung tỷ trọng vốn đầu tư có xu hướng tăng dần nhưng tỷ trọng đóng góp GDP
của khu vực kinh tế nhà nước lại có xu hướng giảm dần. Trong giai đoạn 2011-2014, vốn
đầu tư khu vực nhà nước chiếm đến khoảng 40% tổng vốn đầu tư nhưng chỉ đóng góp
khoảng 29% GDP, như vậy sự chênh lệch giữa tỷ trọng GDP với tỷ trọng vốn đầu tư lên
tới 11%, đây thực sự là một con số rất đáng suy nghĩ.
Biểu đồ tỷ trọng VĐT và tỷ trọng GDP khu vực nhà nước giai đoạn 2011-2014
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Do đó, chỉ số ICOR - chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư ở khu vực này rất cao, cao
nhất trong ba khu vực kinh tế. Và đáng buồn hơn, nó đang có xu hướng tiếp tục tăng: Từ
năm 2012 đến năm 2014, ICOR đã tăng 4,32 và đến thời điểm năm 2014, chỉ số ICOR
lên tới 11,78; tức là để tạo thêm 1 đồng GDP, khu vực này cần tới 11,78 đồng vốn đầu tư.

Biểu đồ chỉ số ICOR khu vực nhà nước giai đoạn 2011-2014
14


(Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê)
Chỉ số ICOR cao đã phần nào cho thấy việc sử dụng vốn đầu tư ở khu vực kinh tế
nhà nước là chưa hiệu quả trong khi kinh tế nhà nước luôn được coi là đóng vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào ICOR thì chưa thể hoàn toàn đánh giá được hiệu quả
đầu tư ở khu vực này, vì:
ICOR chưa xem xét đến một yếu tố đặc trưng của hoạt động đầu tư đó là độ trễ về

Vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước luôn chiếm một tỷ trọng cao trong
tổng vốn đầu tư phát triển xã hội. Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê giai đoạn
2005-2010, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt từ 33% đến 38%.
Trong những năm gần đây, vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ
trọng ngày càng cao, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng, tính ổn định và bền vững của
khu vực khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Trong thời gian qua, khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã có những đóng góp tích cực
vào tăng trưởng kinh tế. Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê giai đoạn 20112014, đóng góp GDP của khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3
khu vực, chiếm khoảng trên 55%.
Biểu đồ tỷ trọng vốn đầu tư và GDP khu vực kinh tế ngoài nhà nước

(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước mặc dù đứng sau khu vực kinh tế
nhà nước, tuy nhiên, mức đóng góp vào GDP của khu vực này lại gấp khoảng 1.9 lần so
với mức đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước. Chính điều này đã dẫn đến hệ số ICOR
16


của khu vực này luôn thấp hơn rất nhiều, thậm chí có những năm chỉ bằng một nửa so với
khu vực nhà nước. Và chỉ số ICOR ở khu vực này cũng đang có những dấu hiệu tích cực
khi nó đang có xu hướng giảm, cho thấy hiệu quả đầu tư đang có xu hướng tăng lên.

Biểu đồ chỉ số ICOR khu vực kinh tế ngoài nhà nước giai đoạn 2011-2014

(Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Tổng cục thống kê)
Chúng ta có thể đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:
Thứ nhất, hiện tượng thất thoát và lãng phí vốn do tham nhũng, quan liêu tại khu
vực kinh tế ngoài nhà nước thấp hơn so với khu vực kinh tế nhà nước.
Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân thực hiện đầu tư với kỳ vọng làm tăng giá trị công
ty, doanh nghiệp của chính họ. Vì vậy, các chủ thể này luôn tìm cách để doanh nghiệp,

thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn và thời gian vận hành các kết quả đầu
tư thường kéo dài. Chính những đặc điểm này khiến hệ số ICOR có một nhược điểm đó
là độ trễ về thời gian tức tổng sản phẩm trong nước GDP ngày hôm nay có thể là kết quả
của lượng vốn đầu tư bỏ ra từ nhiều năm trước.
Như vậy, có thể thấy rằng, hệ số ICOR chưa phản ánh một cách chính xác hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước nói riêng và toàn bộ nền kinh tế
nói chung. Trên thực tế, khu vực kinh tế ngoài nhà nước là một thành phần đóng vai trò
chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, tuy nhiên cũng không thể phủ nhận
được một thực tế đó là số các doanh nghiệp phá sản và giải thể liên tục tăng, số các doanh
nghiệp hoạt động thua lỗ khá nhiều, điều đó cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của các
doanh nghiệp nói riêng và khu vực ngoài nhà nước nói chung là chưa hiệu quả.
18


Biểu đồ thể hiện số lượng DN nội địa giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động
giai đoạn 2011-2015

3.4 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Kể từ khi gia nhập WTO năm 2007, nhờ lợi thế về vị trí địa lý, nền tảng chính trị ổn
định và nguồn lao động giá rẻ, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn với các nhà đầu
tư nước ngoài, lượng vốn đầu tư hàng năm chảy vào Việt Nam liên tục tăng qua các năm
và chiếm khoảng 20-25% trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế giai đoạn 2011-2015.
Tuy nhiên, mức đóng góp vào GDP của khu vực này vẫn chưa tương xứng với
nguồn vốn đầu tư đã bỏ ra.
Năm 2011, tuy vốn đầu tư của khu vực FDI chiếm 24% trong tổng vốn đầu tư
nhưng lại chỉ đóng góp 15,4% vào tổng sản phẩm quốc dân. Sự chênh lệch này đang có
xu hướng thu hẹp lại, tuy nhiên cho đến nay, tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực này
vẫn nhỏ hơn rất nhiều so với tỷ trọng vốn đầu tư.
Biểu đồ thể hiện tỷ trọng VĐT và GDP của khu vực kinh tế
có VĐT nước ngoài giai đoạn 2011-2014

Loan chỉ dưới 4 USD/kg, tức chưa đến 100.000 VND. Điều này tất yếu dẫn đến những
con số báo lỗ triền miên và các doanh nghiệp này đã tiết kiêm được 1 khoản thuế khổng
lồ.
Và tất nhiên không chỉ có các doanh nghiệp kể trên, theo thống kê, tại Việt Nam có
tới 20-30% doanh nghiệp FDI khai báo lỗ liên tiếp trong 2-3 năm, thậm chí 5 năm.

20


Lượng vốn đầu tư liên tục tăng do công ty mẹ rót sang để mở rộng hoạt động kinh
doanh, cùng với việc chuyển giá để trốn thuế, bóp méo giá trị GDP đã dẫn đến hệ số
ICOR theo tính toán ở khu vực FDI cao hơn so với con số thực tế.
Một nhược điểm khác của chỉ số ICOR là nó chưa xét đến một yếu tố đặc trưng của
hoạt động đầu tư là yếu tố độ trễ về thời gian. Phần lớn các dự án đầu tư thường mất tối
thiểu 1-2 năm để dự án có thể đi vào hoạt động. Do đó, lượng vốn đầu tư bỏ ra ở hiện tại
sẽ mất một khoảng thời gian tương ứng để có thể tạo ra được doanh thu.
Một ví dụ điển hình là công ty Samsung Electronics Việt Nam. Các dự án với con
số đầu tư khổng lồ của Samsung Electronics Việt Nam đã đưa Hàn Quốc trở thành quốc
gia có vốn đầu tư FDI lớn nhất tại Việt Nam.
Năm 2013, Samsung Electronics Việt Nam bắt đầu khởi công xây dựng khu tổ hợp
công nghệ cao Samsung Thái Nguyên với vốn đầu tư lên tới 2 tỷ USD, đưa Samsung
Thái Nguyên trở thành nhà máy sản xuất điện thoại di động lớn nhất thế giới của
Samsung.
Và cho đến năm 2014, sau hơn 1 năm xây dựng, Samsung Thái Nguyên đã đạt
doanh thu lên tới 7,8 tỷ USD, đóng góp 5,2% vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và
0,13% vào GDP.
Ngoài việc đóng góp trực tiếp vào GDP, dự án khu tổ hợp công nghệ cao Samsung
Thái Nguyên đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, ngoài ra còn giúp
phát triển các ngành kinh tế phụ trợ. Việc đổ một lượng vốn đầu tư khổng lồ của
Samsung theo thời gian đã đưa Thái Nguyên dần trở thành một trung tâm công nghiệp

mối đe dọa lớn với các doanh nghiệp nội địa. Trước sức ép cạnh tranh, nhiều doanh
nghiệp nội địa đã phải tuyên bố giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động hoặc bị thâu tóm.
22


Như vậy, sự phát triển của các doanh nghiệp FDI đã đóng góp đáng kể vào sự tăng
trưởng kinh tế, tuy nhiên nó cũng có thể là “con dao hai lưỡi” giết chết các doanh nghiệp
nội địa. Do đó, các doanh nghiệp FDI đóng góp GDP cho nền kinh tế nhưng đồng thời
cũng góp phần làm giảm lượng đóng góp GDP của nhiều doanh nghiệp nội địa cùng
ngành, qua đó tác động đến chỉ số ICOR của các khu vực kinh tế khác.
Kết luận:
Như vậy, bên cạnh những ưu điểm của mình, chỉ số ICOR còn bộc lộ rất nhiều mặt
hạn chế. Để có thể đánh giá chính xác và khách quan hiệu quả đầu tư, cần xem xét thêm
các chỉ tiêu đo lường khác nữa, như chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp TFP – chỉ tiêu đo
lường năng suất của đồng thời cả lao động và vốn. Do bên cạnh vốn, lao động cũng là
một nhân tố quan trọng tác động tới hiệu quả đầu tư.

23


CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ
CHO MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
4.1 Giải pháp chung cho nền kinh tế Việt Nam
Chỉ số ICOR của Việt Nam hiện nay còn ở mức cao so với các quốc gia khác, điều
này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của nước ta thấp hơn rất nhiều ngay cả với các
quốc gia trong khu vực, thậm chí còn thấp hơn cả Lào.
Có rất nhiều cách để lý giải cho thực trạng trên.
Một là, phần lớn hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam là các mặt hàng thô: nguyên liệu
thô, nông sản thô hay chỉ qua sơ chế,… ; sản phẩm của các ngành công nghiệp đang chủ
yếu dựa vào gia công cho nước ngoài như dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, nhựa… có giá

đạt được hiệu qủa kinh tế cao là những vấn đề mà các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà
hoạch định chính sách, xây dựng dự án đầu tư phải nghiên cứu kỹ.
Ngoài những giải pháp trên, mỗi khu vực kinh tế với đặc thù khác nhau cần có
những giải pháp riêng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ở từng khu vực này.
4.2 Khu vực kinh tế nhà nước
Ở khu vực kinh tế nhà nước, hiệu quả đầu tư chưa cao là do nhiều nguyên nhân:
Một là, đầu tư của khu vực Nhà nước không có hiệu quả kinh tế thuần túy cao như
đầu tư của khu vực tư nhân, bởi vì trong nhiều trường hợp mục đích của đầu tư không
phải nhằm vào lợi nhuận và hiệu quả kinh tế mà còn hướng tới các mục tiêu xã hội.
Hai là, Việt Nam đang trong giai đoạn tập trung cho phát triển hạ tầng, bao gồm cả
hạ tầng vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội,
công tác quy hoạch còn nhiều hạn chế; quyết định đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp, còn xảy
ra tình trạng thất thoát, lãng phí vốn.
Ba là, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất cũng chính là
nguyên nhân dẫn đến đầu tư chưa hiệu quả nói chung. Bởi lẽ, với doanh nghiệp tư nhân
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status