VIỆN HÀN LÂM
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ THỊ HÒA
HỒ THỊ HÒA
MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở TÂY NGUYÊN
Ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 9.31.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS Vũ Sỹ Cường
2. PGS.TS Bùi Quang Bình
HÀ NỘI - 2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những
kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào của người khác.
Tác giả luận án
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở TÂY NGUYÊN ........................................ 62
3.1 Giới thiệu về Tây Nguyên ............................................................................... 62
3.2 Bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Tây Nguyên........................... 63
3.3 Phân tích thực trạng mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh
tế ở Tây Nguyên..................................................................................................... 89
iii
3.4 Đánh giá chung kết quả nghiên cứu mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và
tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên ....................................................................... 112
CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH
ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở TÂY NGUYÊN........... 126
4.1 Quan điểm kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ........................ 126
4.2 Cơ hội, thách thức trong việc giải quyết mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu
nhập và tăng trưởng kinh tế ................................................................................. 128
4.3 Hàm ý chính sách giải quyết mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng
trưởng kinh tế ở Tây Nguyên ............................................................................... 131
4.4 Kiến nghị đối với Nhà nước .......................................................................... 146
KẾT LUẬN.................................................................................................... 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 151
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 164
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Đồng bằng
6
DH
Duyên hải
7
DTTS
Dân tộc thiểu số
8
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
9
GINI
Hệ số bất bình đẳng thu nhập
10
GNI
Kế hoạch và Đầu tư
16
MOM
Bộ lao động Singapore
17
NN & PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
18
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
19
TFP
Năng suất nhân tố tổng hợp
20
TTKT
(ĐVT:%) .............................................................................................................69
Bảng 3. 7: Tỷ lệ đi học chung theo cấp học cả nước và chia theo vùng năm 2016
(ĐVT: %) ............................................................................................................72
Bảng 3. 8: Tỷ trọng chi cho giáo dục theo 5 nhóm ở Tây Nguyên (ĐVT:%) ..........73
Bảng 3. 9: Tỷ lệ người khám chữa bệnh nội trú, ngoại trú có bảo hiểm y tế hoặc
sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí chia theo 5 nhóm thu nhập, theo vùng năm
2016 (ĐVT: %) ...................................................................................................73
Bảng 3. 10: Chi tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe bình quân một nhân khẩu chia theo
khoản chi (ĐVT: 1000 đồng) .............................................................................74
Bảng 3. 11: Tỷ lệ hộ có nhà ở chia theo loại hình nhà cả nước và Tây Nguyên năm
2016 (ĐVT: %) ...................................................................................................75
Bảng 3. 12: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch ở Tây Nguyên (ĐVT:%) ............77
Bảng 3. 13: Tỷ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt theo thành thị và nông thôn ở Tây
Nguyên (ĐVT:%) ...............................................................................................78
Bảng 3. 14: Tỷ trọng GDP các tỉnh Tây Nguyên (Giá so sánh 2010) (ĐVT:%) ......80
vi
Bảng 3. 15: Số lượng và tỷ trọng lao động của các tỉnh trong vùng Tây Nguyên ....82
Bảng 3. 16: Tăng trưởng lao động các tỉnh Tây Nguyên (ĐVT: %) ........................83
Bảng 3. 17: NSLĐ các tỉnh Tây Nguyên (ĐVT: triệu đồng, giá so sánh 2010) .......83
Bảng 3. 18: Vốn đầu tư và tỷ trọng vốn của các tỉnh Tây Nguyên ..........................84
Bảng 3. 19: Tăng trưởng vốn các tỉnh và Vùng Tây Nguyên (ĐVT: %) ..................85
Bảng 3. 20: Cơ cấu vốn đầu tư chia theo khu vực kinh tế (ĐVT:%) ........................85
Bảng 3. 21: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo Vùng năm 2016 ................86
Bảng 3. 22: Số Doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm
31/12 theo tỉnh và Vùng Tây Nguyên ................................................................87
Bảng 3. 23: Hệ số ICOR Tây Nguyên giai đoạn 2001 – 2016.................................87
Bảng 3. 24: Đóng góp của các yếu tố sản xuất vào tăng trưởng kinh tế Tây Nguyên
trong giai đoạn 2001-2016 .................................................................................88
Đồ thị 3. 3: Hệ số Gini Tây Nguyên .........................................................................65
Đồ thị 3. 4: GDP và tốc độ TTKT Tây Nguyên giai đoạn 2001 – 2016 ...................80
Đồ thị 3.5: Tăng trưởng GDP (%) các khu vực chính (Nông lâm thủy sản, công
nghiệp – xây dựng, dịch vụ) trong nền kinh tế Tây Nguyên 2001 – 2016.........81
Đồ thị 3. 6: Cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng năm 2016 của Tây Nguyên ......90
Đồ thị 3. 7: Xu hướng tác động tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập theo
hệ số Gini ở Tây Nguyên..................................................................................105
Hình vẽ 2. 1: Đường cong Lorenz.............................................................................32
viii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là chủ đề thu hút sự
quan tâm, tranh luận của nhiều nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách trên thế giới
trong thời gian qua, xem xét mối quan hệ này khá phức tạp. Tăng trưởng kinh tế
thường đề cập mục tiêu gia tăng thu nhập cho nền kinh tế bằng việc huy động và
phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế hiệu quả; Còn công bằng xã hội (đặc biệt là
công bằng trong phân phối thu nhập) không chỉ phụ thuộc vào tổng thu nhập của
nền kinh tế, mà còn liên quan trực tiếp đến cách thức phân phối thu nhập đó và khả
năng tiếp cận các cơ hội phát triển (như vốn, đất đai, y tế, giáo dục,…) giữa các
nhóm dân cư trong xã hội. Chính sách phát triển chỉ nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng
trưởng nhanh có thể trả giá đắt nếu bất bình đẳng thu nhập, cơ hội học tập, tiếp cận
dịch vụ xã hội và đói nghèo gia tăng, thậm chí dẫn đến xung đột trong xã hội.
Ngược lại, chính sách phát triển chỉ thiên về đạt được mục tiêu công bằng xã hội có
thể làm triệt tiêu các động lực kích thích tăng trưởng [58,tr18]. Một số nghiên cứu
phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập dưới góc độ
tăng trưởng kinh tế tạo ra sự gia tăng thu nhập và do đó dẫn tới bất bình đẳng thu
nhập; đến lượt mình bất bình đẳng thu nhập sẽ ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế
dạng các thành phần dân tộc là thách thức lớn đối với xã hội khi mà khác biệt theo
vùng bị ảnh hưởng bởi yếu tố dân tộc. Trong nhiều nghiên cứu mức sống hộ gia
đình trước đây cho thấy người Kinh có xu hướng sống ở khu vực thành thị và mức
sống cao hơn các nhóm dân tộc thiểu số khác [32].
Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập là những chủ đề được quan tâm
nghiên cứu ở Việt Nam, tuy nhiên hầu hết các công trình mới bàn riêng hoặc về
tăng trưởng kinh tế hoặc về bất bình đẳng thu nhập. Gần đây đã có một số công
trình nghiên cứu tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế. Tuy
nhiên kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng để phân tích mối quan hệ giữa bất
bình đẳng và tăng trưởng kinh tế ở nước ta là việc còn mới mẻ. Đặc biệt là các
nghiên cứu về lĩnh vực này ở Tây Nguyên – một trong sáu vùng kinh tế lớn ở nước
ta còn khá ít. Việc nghiên cứu một cách có hệ thống mối quan hệ giữa bất bình đẳng
thu nhập và tăng trưởng kinh tế giúp đưa ra những luận cứ khoa học làm cơ sở đề
2
xuất quan điểm và hàm ý chính sách đảm bảo tăng trưởng kinh tế và thực hiện công
bằng thu nhập ở Tây Nguyên trong thời gian tới có ý nghĩa cấp thiết về cả lý luận
và thực tiễn.
Xuất phát từ ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài : “ Mối quan hệ bất bình đẳng
thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên” làm đề tài luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án: tìm ra chính sách giải quyết mối quan hệ bất bình
đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế
Nhiệm vụ nghiên cứu:
-
Hệ thống hóa tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan
hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế.
Nguyên 3 để bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu. Một số chỉ tiêu bài học kinh
nghiệm có sử dụng nguồn số liệu của Ngân hàng Thế giới.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu: Thực tiễn đã và đang đặt ra tại Tây Nguyên một số
4.1
vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết:
Tăng trưởng kinh tế tác động tới bất bình đẳng thu nhập như thế nào ở Tây
Nguyên ?
Bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế ở
Tây Nguyên?
4.2 Khung phân tích
Mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên
Vùng địa lý
Năng suất lao động
Dân tộc
Trình độ lao động
Bất bình
đẳng thu
nhập
Tăng
trưởng
kinh tế
Hiệu quả sử dụng vốn
Kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng trong phân tích mối quan hệ bất
bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế.
- Nghiên cứu định tính: nhằm nghiên cứu và phát hiện, đề xuất những luận
điểm khoa học. Phân tích dữ liệu định tính bao gồm thu thập, tổ chức sắp xếp, giải
thích ý nghĩa dữ liệu. Trước khi thu thập dữ liệu có một số ý tưởng và giả thuyết từ
các nghiên cứu trước. Những ý tưởng, giả thuyết này dùng như những điểm xuất
phát cho việc sắp xếp, phân loại, giải thích dữ liệu.Tiến hành mã hóa dữ liệu bao
gồm: Tổng hợp các dữ liệu, xác định danh mục các chủ đề được nói tới trong dữ
liệu, nghiên cứu khái niệm, ý tưởng mới từ dữ liệu.
Kỹ thuật khảo sát lấy ý kiến chuyên gia:: Nghiên cứu xây dựng bảng hỏi
phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia – những người có trình độ chuyên môn cao đã
nghiên cứu về mối quan hệ giữa TTKT và BBĐTN, các nhà quản lý địa phương ở
Tây Nguyên. Xem xét các ý kiến, nhận định của chuyên gia về vấn đề nghiên cứu.
- Nghiên cứu định lượng: lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố thông qua
việc sử dụng các công cụ thống kê toán, kinh tế lượng và toán học đơn thuần.
+ Phân tích mô tả: Phương pháp này mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu
thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau như sử dụng
các con số để lập bảng biểu hoặc vẽ sơ đồ (đây là bước ban đầu – phân tích mô tả –
của nghiên cứu định lượng) phân tích các vấn đề về TTKT, BBĐTN…
+ Phương pháp mô hình hóa: mục đích bao gồm: (i) Kiểm nghiệm lý thuyết
bằng cách xây dựng mô hình kinh tế phù hợp; (ii) Kiểm tra mô hình đó xem chúng
đưa ra kết quả chấp nhận hay phủ quyết lý thuyết kinh tế. Nghiên cứu này xây
dựng mô hình định lượng để kiểm định và ước lượng mối quan hệ giữa bất bình
đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên qua kênh: GDP, hệ số Gini,
một số biến đặc thù vùng.
Trên cơ sở lý luận được đề xuất bởi các đề tài đi trước, nghiên cứu sẽ tiến
hành xây dựng mô hình phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng
trưởng kinh tế ở Tây Nguyên nhằm cung cấp những cơ sở thực chứng cho các phân
5
6
BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên chủ yếu là chính sách phân bổ nguồn lực chưa
hợp lý (đất đai, vốn,…) và mô hình tăng trưởng kinh tế chưa bền vững.
(vi) Luận án đề xuất quan điểm, cơ hội và thách thức đối với Tây Nguyên
trong việc giải quyết mối quan hệ BBĐTN và TTKT. Đề xuất hàm ý chính sách bao
gồm: chính sách phát triển kinh tế chung của Tây Nguyên theo hướng gắn kết
TTKT và công bằng xã hội, chính sách việc làm và giảm nghèo, chính sách đảm
bảo công bằng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, các chính sách tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, an sinh xã hội), chính sách di dân và ứng phó với
biến đổi khí hậu; kiến nghị với nhà nước về chính sách phân phối tài sản, thu nhập
và cơ hội phát triển trong nền kinh tế phù hợp với đặc thù vùng Tây Nguyên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
(i) Đây là nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng khi xem
xét mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên.
Từ đó đưa ra những nhận định xác thực hơn cho vấn đề nghiên cứu.
(ii) Nghiên cứu trên phạm vi một vùng (Tây Nguyên), luận án chứng minh
chỉ tồn tại quan hệ nhân quả một chiều giữa BBĐTN và TTKT. Chỉ ra thành quả,
tồn tại và nguyên nhân trong việc giải quyết mối quan hệ này. Cung cấp căn cứ cần
thiết cho việc đưa ra các chính sách tác động đến TTKT và BBĐTN ở Tây Nguyên
(iii) Luận án đã chứng minh vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính
sách giải quyết mối quan hệ giữa TTKT và BBĐTN ở Tây Nguyên, làm cơ sở cho
việc đề xuất các chính sách đảm bảo tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Tây
Nguyên trong thời gian tiếp theo
7. Cơ cấu của luận án: Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận án được kết cấu thành 4 chương cơ bản
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu mối quan hệ BBĐTN và TTKT
Chương 3: Thực trạng mối quan hệ giữa BBĐTN và TTKT ở Tây Nguyên
với sự bất bình đẳng thu nhập ngày càng cao, thu nhập của người công nhân ngày
càng giảm so với thu nhập của nhà tư bản do hiệu ứng tiết kiệm lao động khi sử
dụng công nghệ hiện đại và họ luôn phải chịu sự đe dọa bị sa thải [24, tr37]. Marx
cho rằng chính quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là nguồn gốc của bất bình
đẳng thu nhập, vì vậy cần xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu để giải
8
quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. Ý nghĩa phương pháp luận trong lý thuyết
của Marx thể hiện ở hai khía cạnh chính sau đây: (i) Công bằng xã hội là kết quả
của quá trình phát triển lịch sử đời sống xã hội theo quy luật khách quan; (ii) mặc
dù trong giai đoạn phát triển thấp của chủ nghĩa cộng sản có thiết lập chế độ công
hữu nhưng hình thức phân phối mới chưa đạt tới mục tiêu thực sự công bằng. Marx
nhấn mạnh cần phát triển năng lực của mỗi cá nhân, khai thác hết tiềm năng của
người lao động hướng tới sự phát triển tự do và công bằng chân chính [70]
Quan điểm của Simon Kuznets (1955)
Simon Kuznets, nhà kinh tế học người Mỹ năm 1955 đã đưa ra một mô hình
nghiên cứu khi xem xét mối quan hệ giữa thu nhập và tình trạng bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập.
“Những gì chúng ta quan sát thấy về cấu trúc phân phối thu nhập của hai khu
vực là: (a) thu nhập bình quân đầu người của người dân ở nông thôn thường thấp
hơn các khu đô thị; (b) Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cho người dân ở
nông thôn có phần hẹp hơn so với dân số ở đô thị thậm chí khi dựa trên thu nhập
hàng năm” [124, tr7]
Theo mô hình này, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển các nước
thường không quan tâm đến phân phối lại thu nhập. Giai đoạn này cùng với việc đạt
được các thành tựu về tăng trưởng (thu nhập bình quân đầu người tăng) thì sự bất
bình đẳng lại có xu hướng tăng, kết quả của tăng trưởng chỉ tập trung vào một số
nhóm người. Khi nền kinh tế đã đạt được mức thu nhập bình quân đầu người cao thì
Lý thuyết mô hình kinh tế chính trị
Alesia và Rodrik (1994); Pesson và Tabellini (1994) [93],[139] đã cố gắng xây
dựng cầu nối giữa lý thuyết kinh tế chính trị nội sinh và lý thuyết tăng trưởng nội
sinh. Nghiên cứu này cho rằng, trong những xã hội dân chủ, mức thuế được xác
định bởi những cử tri trung bình. Thuế được đánh tỷ lệ thuận với thu nhập và mang
tính lũy tiến (thuế lũy tiến nhằm phân phối lại thu nhập cho mọi người một cách
công bằng hơn). Lúc này lợi ích mà người nghèo nhận được sẽ lớn hơn người giàu,
vì vậy người nghèo sẽ thích đánh thuế lũy tiến để phân phối lại nhiều hơn. Trong xã
hội không bình đẳng, thu nhập của cử tri trung bình thấp hơn so với thu nhập trung
bình, quy tắc đa số sẽ quyết định mức phân phối lại cao. Mặc dù cách thức phân
phối này có thể tác động làm giảm nghèo đói tức thì, nhưng tăng trưởng sẽ chậm
10
hơn. Mô hình này có thể có giá trị nhất định đối với những nền kinh tế phát triển,
nhưng dường như chưa thích hợp với những nền kinh tế đang phát triển, cơ chế này
đòi hỏi sự ủng hộ của dân chúng và cơ quan quyền lực chính trị phân phối lại thu
nhập thông qua việc đánh thuế cao vào đầu tư và từ đó làm giảm thu nhập trên vốn
đầu tư. Rất khó tìm kiếm bằng chứng về vấn đề này ở các nước đang phát triển, một
số nền kinh tế Đông Á thực hiện phân phối lại thông qua chi tiêu công hay cải cách
ruộng đất chứ không dựa vào các quyết định chính trị liên quan đến thuế (Morrissey
và Nelson, 1998) [135].
Lý thuyết xung đột xã hội
Mô hình này nhấn mạnh sự phân phối không bình đẳng các nguồn lực chính là
nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng chính trị và xung đột xã hội, đây được xem
là lý thuyết kinh tế chính trị thích hợp với các nền kinh tế đang phát triển. Theo mô
hình bất ổn về chính trị xã hội, bất bình đẳng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng
tới sự bất ổn chính trị xã hội và có tác động tiêu cực đến tăng trưởng do lợi nhuận
đầu tư thấp hơn mức mong đợi. Trong xã hội mà người nghèo đói chiếm tỷ lệ tương
tín dụng sẽ hoàn thiện hơn đối với các nước nghèo, khi đó những tác động của bất
bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế sẽ quan trọng hơn ở các nước nghèo.
Lý thuyết liên kết phân phối thu nhập và tăng trưởng của Benabou
(1996) Lý thuyết này kết hợp nền kinh tế chính trị và lý thuyết thị trường vốn không
hoàn hảo. Mô hình của Benabou cho thấy sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích phân
phối lại có thể biểu diễn bằng đường cong chữ U ngược [99]. “Tăng trưởng có liên
kết hình chữ U ngược đối với tái phân phối, trong khi đó tái phân phối có liên kết
hình chữ U ngược đối với bất bình đẳng” [34]. Đề xuất có hai tác động ngược chiều
nhau của mối quan hệ này. Ở một nước có thị trường vốn không hoàn hảo thì phân
phối lại là tốt nếu chi tiêu công được dành cho đầu tư giáo dục, tuy nhiên phân phối
lại sẽ mang tác động tiêu cực nếu nó chỉ chuyển đổi thu nhập từ người giàu sang
người nghèo vì điều này làm giảm lợi tức và quyết định đầu tư của người giàu.
Lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản được xây dựng bởi
Perotti (1996), Kremer và Chen (2000), De la Croix và Doepke (2003)
Theo lý thuyết này, bất bình đẳng có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
thông qua quyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh sản. Bố mẹ có thể tối
ưu hóa việc sử dụng những nguồn lực gia đình bằng cách thông qua cải thiện chất
12
lượng giáo dục hoặc số lượng con cái của họ. Xã hội bất bình đẳng là xã hội có tỷ lệ
phần trăm lớn các hộ gia đình không thể đầu tư vào vốn nhân lực thông qua giáo
dục. Do giáo dục có chi phí tương đương với những thu nhập kiếm được mà họ mất
đi khi ở trường, các gia đình nghèo sẽ không đầu tư vào giáo dục và thay vào đó là
lựa chọn tăng số lượng con cái. Nếu tăng trưởng chủ yếu xuất phát từ đầu tư vào
nguồn nhân lực, tỷ lệ sinh sản cao của xã hội này dẫn đến tăng trưởng thấp và bất
bình đẳng thu nhập sẽ tăng [138] [123] [112].
Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Hoa Kỳ Vương quốc Anh và Hoa Kỳ) trong giai đoạn
20 năm (từ năm 1830 đến 1850). Mô hình sử dụng trong giai đoạn 20 năm (trước
chiến tranh). Nghiên cứu này sử dụng các chỉ tiêu bao gồm: INCSH là tỷ lệ thu
nhập nhóm giàu nhất so với nhóm nghèo nhất (là chỉ tiêu đánh giá bất bình đẳng thu
nhập); NOFRAN là tỷ lệ nhóm tuổi, giới tính (chỉ tiêu thể hiện phân biệt đối xử về
chính trị của phụ nữ và các giới hạn độ tuổi khác nhau cho việc bỏ phiếu giữa các
quốc gia); SCHOOL là tỷ lệ trung bình nhóm tuổi dân cư ghi danh đi học;
GDPGAP là tỷ lệ giữa GDP bình quân đầu người và mức GDP bình quân đầu người
cao nhất trong mẫu tại cùng thời điểm (là chỉ tiêu đại diện cho mức độ phát triển
của một nước).
Ước lượng OLS cho kết quả đáng chú ý nhất là ảnh hưởng của bất bình đẳng
đến tăng trưởng. Hệ số INCSH có ý nghĩa tiêu cực ở mức ý nghĩa thống kê; Biến
NOFRAN có ảnh hưởng không đáng kể, điều này phản ánh sự thiếu biến động của
biến số này trong phần lớn các mẫu; GDPGAP là thước đo liên quan đến nước dẫn
đầu luôn có ý nghĩa tiêu cực, hệ số tiêu cực của nó có thể nhận được các hiệu ứng
cụ thể gắn liền với hai cuộc chiến tranh thế giới, nhưng nó cũng chỉ ra một số hội tụ
về mức GDP theo thời gian; chỉ tiêu SCHOOL không có ý nghĩa thống kê.
Mô hình sử dụng cho giai đoạn 25 năm (sau chiến tranh từ năm 1960 đến
1985) gồm 56 nước khi phân tích độ nhạy của các biến: MIDDLE là khoản thu nhập
chia sẻ cho nhóm thứ ba (phần trăm 41 đến phần trăm thứ 60 của hộ gia đình), bình
đẳng về thu nhập càng lớn thì MIDDLE càng cao, do đó dấu hiệu dự đoán của nó
trong hồi quy là tích cực. Biến MIDDLE được tính theo phần trăm. PSCHOOL là tỷ
lệ phần trăm của nhóm học sinh có liên quan (là thước đo giáo dục) và biến GDP
bình quân đầu người.
14
Kết quả cho thấy MIDDLE luôn luôn có hệ số có ý nghĩa cao. Tuy nhiên,
nhiều quốc gia trong mẫu này có các thể chế chính trị phi dân chủ, lý thuyết này dự
đoán rằng sự tăng trưởng phải liên quan nghịch với bất bình đẳng trong một cuộc
Empirical Relationship Reconsidered in the Light of Comparable Data” [122], ước
lượng tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế sử dụng các
biến: Growth là tốc độ tăng trưởng GDP; GDP là tổng sản phẩm quốc nội; MSE là
số năm đi học trung bình của nam; FSE là số năm đi học trung bình của nữ; PPPI là
giá trị đầu tư tính theo sức mua tương đương; Ineq là bất bình đẳng trong thu nhập
[88, tr111]. Kết quả ước lượng dữ liệu bảng xác nhận có sự tương quan tiêu cực
giữa bất bình đẳng và tăng trưởng giữa các quốc gia nhưng chỉ khi tập trung vào bất
bình đẳng sau khi phân phối lại xảy ra; và bất bình đẳng thu nhập có thể ảnh hưởng
gián tiếp tới tăng trưởng thông qua ảnh hưởng của nó tới giáo dục.
Josten S.D (2003), “social capital, Inequality and Economic growth” [119],
nghiên cứu đã phát triển mô hình trong đó đề cập yếu tố cơ bản về vốn con người và
tính không ổn định về chính trị - xã hội, xem xét vốn xã hội là một biến tác động lên
tăng trưởng và bị ảnh hưởng bởi bất công bằng. Dù là điều đó không được xác nhận
qua thực nghiệm, tác giả đã phát triển ý tưởng của ông thông qua các tác nhân đa
dạng bao trùm mô hình cùng thời liên quan đến vốn xã hội thêm vào các yếu tố tăng
trưởng nội sinh. Kết quả nghiên cứu là có sự tăng lên của bất bình đẳng thu nhập
làm cho vốn xã hội của cộng đồng giảm, từ đó tác động tiêu cực đến tỷ lệ tăng
trưởng kinh tế.
Causa, Orsetta, Alain de Serres and Nicolas Ruiz (2014), “Can growthenhancing policies lift all boats? An analysis based on household disposable
incomes” [106], để khám phá thêm câu hỏi nghiên cứu mối quan hệ BBĐTN và
TTKT, các tác giả ước tính mối quan hệ với GDP bình quân đầu người, trong đó sự
thay đổi về bất bình đẳng thu nhập đã được thêm vào các động lực tăng trưởng như
vốn vật chất và nhân lực. Ý tưởng này kiểm tra xem sự thay đổi của bất bình đẳng
thu nhập theo thời gian có tác động đáng kể đến GDP bình quân đầu người trung
bình trên các quốc gia OECD hay không và liệu ảnh hưởng này có khác nhau tùy
theo mức độ bất bình đẳng được đo ở phần dưới hay phần trên của phân phối. Kết
quả cho thấy tác động luôn luôn tiêu cực và có ý nghĩa thống kê: sự gia tăng bất
16
17