TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đông Hà là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị, từ thuận lợi về giao lưu đối
ngoại, Đông Hà có khả năng thu hút, hội tụ để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
và trở thành trung tâm phát luồng các mối quan hệ kinh tế trong khu vực và
quốc tế. Cũng như các địa phương khác của tỉnh Quảng Trị, thành phố Đông Hà
đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và đã đem lại một số kết
quả đáng ghi nhận, đặc biệt là việc áp dụng kịp thời các văn bản pháp luật liên
quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, tuy nhiên, các
văn bản pháp luật đó lại chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống. Vì
vậy, nhằm mục tiêu phân tích thực trạng của việc xử phạt vi phạm hành chính,
cũng như đánh giá được sự ảnh hưởng của các biện pháp đó đến ý thức chấp
hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý bảo vệ rừng, quản lý
lâm sản, đồng thời, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu
quả của công tác pháp chế - thanh tra kiểm lâm trong việc quản lý bảo vệ và
phát triển rừng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp và tác động của nó đối
với công tác quản lý, bảo vệ rừng ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị”.
Thông qua các phương pháp thu thập số liệu như phỏng vấn các cán bộ Kiểm
lâm, thu thập các văn bản pháp luật, các chủ trương, giải pháp, tài liệu sẵn có, số
liệu liên quan, cũng như phương pháp phân tích số liệu, chúng tôi thống kê được
tất cả những vụ việc vi phạm về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tại
địa bàn thành phố Đông Hà trong suốt quá trình từ năm 2011–2014 đều là những
trường hợp vi phạm khá phức tạp, hầu hết mang tính chất nhỏ lẻ, quy mô không
lớn, đối tượng vi phạm chủ yếu là các hộ gia đình, cá nhân, không mang tính tổ
chức. Thực trạng công tác xử phạt vi phạm về quản lý bảo vệ rừng tại thành phố
Đông Hà còn gặp nhiều hạn chế, tuy số lượng các vụ vi phạm khá lớn, nhưng
vẫn còn tồn tại các vụ vi phạm vắng chủ nên khiến cho việc xử phạt các hành vi
vi phạm còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó, đánh giá được tác động của việc xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý
lâm sản đến đời sống xã hội, là một biện pháp răn đe, giáo dục, phòng ngừa và
ngăn chặn các hành vi vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ rừng, cũng như
số nơi, tình hình phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật
vẫn diễn biến phức tạp, vẫn còn xuất hiện các “điểm nóng” về khai thác rừng,
săn bắt động vật rừng và phá rừng, các “tụ điểm” mua bán, tàng trữ và vận
chuyển lâm sản trái pháp luật, bọn đầu nậu, kẻ tổ chức phá rừng chuyên nghiệp,
nhiều đường dây buôn bán lâm sản trái pháp luật vẫn chưa bị triệt phá, các đối
tượng vi phạm ngày càng liều lĩnh, côn đồ, tổ chức đông người chống trả quyết
liệt lực lượng chức năng.
Công tác quản lý bảo vệ rừng được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau
thông qua việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước. Trong đó việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với công tác quản lý
bảo vệ rừng là một đặc trưng về tính quyền lực của Nhà nước, nó tác động sâu
sắc đến đời sống xã hội nói chung và công tác quản lý bảo vệ rừng nói riêng.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản liên quan
như: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, các Nghị định, Thông tư, Quyết
định liên quan đến bảo vệ, quản lý và khai thác rừng. Gần đây, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong
đó, không ngừng hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực lâm nghiệp, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực lâm nghiệp là nhu cầu cấp thiết hiện nay vì vi phạm hành chính
trong lĩnh vực này thường xảy ra rất phổ biến, gây nhiều tác hại về kinh tế - xã
hội. Việc xử lý đúng các vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, một trong các yếu tố đó là thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính. Những quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
3
vực lâm nghiệp có điều kiện thực hiện tốt trên thực tế khi có một đội ngũ những
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có phẩm chất, trình độ, năng
4
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cùng với việc đề ra các chủ trương, chính sách phát triển lâm nghiệp, Nhà
nước thực hiện việc quản lý bảo vệ rừng bằng các văn bản pháp luật. Việc quản
lý Nhà nước bằng pháp luật trong công tác quản lý bảo vệ rừng thể hiện dưới 2
dạng:
- Dạng thứ nhất: Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng
dẫn hành vi xử sự của con người. Tức là những văn bản quy phạm pháp luật đó
chỉ cho người ta biết mình phải thực hiện như thế nào khi tác động đến rừng, là
giới hạn để người ta biết nếu vượt quá phạm vi cho phép, làm trái với các quy
định đó phải gánh chịu hậu quả pháp lý xảy ra.
- Dạng thứ hai: Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật quy định việc áp
dụng các chế tài (bằng hành chính hoặc bằng hình sự) để xử lý các vi phạm các
quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng.
2.1 Ban hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng và thành lập lực lượng
Kiểm lâm nhân dân
Trước tình hình rừng ngày càng bị phá hoại nghiêm trọng, đe dọa đến sản
xuất và đời sống của người dân, ngày 6 tháng 9 năm 1972, Ủy ban thường vụ
Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định về việc bảo vệ rừng và ngày 11 tháng
9 năm 1972, Chủ tịch nước đã ra lệnh công bố. Pháp lệnh quy định về việc bảo
vệ rừng là một văn kiện quan trọng của Nhà nước ta, có ý nghĩa chính trị, kinh
tế, xã hội…rất sâu sắc. Pháp lệnh là cơ sở pháp lý cho việc giữ gìn và phát triển
tài nguyên rừng, tạo điều kiện mở rộng một cách cơ bản và lâu dài ngành kinh tế
lâm nghiệp, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc nước ta.
Ngày 21 tháng 05 năm 1973, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định
101/CP quy định hệ thống tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng Kiểm
phủ xanh, nhiều khu rừng được phục hồi, nên diện tích đất có rừng đã tăng lên
rõ rệt, độ che phủ của rừng tăng nhiều.
Để phù hợp với tình hình thực tiễn và đáp ứng hơn nữa nhu cầu bảo vệ và
phát triển rừng trong tình hình hiện nay, ngày 03 tháng 12 năm 2004 Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sau đây gọi tắt là Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
năm 2004) và Luật này đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2005.[7]
Ngày 02/07/2002 Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá X đã thông qua Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính năm 2002, có hiệu lực thực hiện ngày 01/10/2002 thay
thế Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06/07/1995. Sau khi Pháp lệnh xử
lý vi phạm chính năm 2002 có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2002 đến nay đã có
2 lần được Quốc hội sửa đổi bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của xã hội.
+ Ngày 08/03/2007, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11 sửa
đổi một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
+ Ngày 02/04/2008, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh số 04/2008/PL-UBTVQH12 sửa
đổi một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
2.3. Các văn bản pháp luật liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính về
lâm nghiệp được ban hành từ trước đến nay
6
2.3.1. Trong thời kỳ thi hành Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng từ 19721991
Thông tư số 3984-LN-KL ngày 15/10/1977 của Bộ lâm nghiệp hướng dẫn
việc xử phạt hành chính đối với các vi phạm luật lệ bảo vệ rừng.
Thông tư số 23-LN-KL ngày 08/10/1984 của Bộ lâm nghiệp hướng dẫn xử lý
bằng biện pháp hành chính đối với các hành vi đầu cơ, buôn lậu, tàng trữ, vận
chuyển, kinh doanh trái phép lâm sản.
2.3.2. Trong thời kỳ thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (12/08/1991)
7
Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02-11-2009 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Nghị định 74/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 của Chính phủ quy định về phối
hợp hoạt động giữa lực lượng dân quân tự vệ với lực lượng công an xã, phường,
thị trấn, lực lượng kiểm lâm và các lực lượng khác trong công tác giữ gìn an
ninh chính trị, trật tự.
Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách
chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức
quản lý hệ thống rừng đặc dụng.
Quyết định số 34/2011/QĐTTg ngày 24/06/2011 của thủ tướng chính phủ sửa
đổi, bổ sung ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg.
Chỉ thị số 1685/CT-TTg, ngày 27/9/2011 của thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình
trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐCP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc
dụng.
Nghị định số 25/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Thông tư số 42/2012/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT
ngày 04/01/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định hồ sơ
lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản.
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng nói riêng đã có một
bước hoàn chỉnh hơn trước (Luật Bảo vệ và Phát triển rừng – Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính – Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là hệ thống không tách rời nhau).
- Quy định hành vi vi phạm, chế tài mức xử phạt được cụ thể và đầy đủ hơn.
- Thẩm quyền, nguyên tắc, thủ tục xử phạt được quy định chặt chẽ hơn so với
trước đây.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển, biến động của xã hội yêu cầu công tác quản
lý bảo vệ rừng đòi hỏi ngày một cao hơn. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
và Nghị định 159/2007/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều hạn chế cần phải có sự điều
chỉnh sửa đổi bổ sung hoặc thay thế kịp thời để phù hợp với các quan hệ xã hội
phát sinh trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Ngày 11/11/2013, Nghị định 157/2013/NĐ-CP ra đời thày thế Nghị định
99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính của lực lượng Kiểm lâm được nâng lên, cụ thể:
- Kiểm lâm viên có thể lập biên bản xử phạt đến 500 nghìn đồng, trạm trưởng
Trạm Kiểm lâm có thẩm quyền phạt, tịch thu tang vật có giá trị 10 triệu đồng,
hạt trưởng hạt Kiểm lâm, đội trưởng đội Kiểm lâm cơ động và phòng chống
cháy rừng có thẩm quyền phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện có giá trị đến
25 triệu đồng. Chủ tịch UBND cấp xã phạt đến 5 triệu đồng, chủ tịch UBND cấp
huyện phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện có giá trị đến 50 triệu đồng... Quy
định lâm sản bao gồm cả động vật thủy sinh được cơ quan có thẩm quyền cho
9
phép nuôi tại các ao, hồ, sông, suối trong rừng. Tiêu chí xác định gỗ rừng trồng
có đường kính đầu nhỏ từ 6cm, chiều dài từ 1m trở lên. Bản giao kết giữa chủ sở
hữu hợp pháp của phương tiện và người thuê, mượn phải có chứng thực của
UBND cấp xã.
phạt” thành “xử lý”, điều đó có thể hiểu rằng “xử phạt” chỉ một phần trong “xử
lý”. Xử lý vi phạm hành chính bao gồm cả việc xử phạt và việc áp dụng các biện
10
pháp hành chính khác, trong đó thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực
hiện khác nhau. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được ban hành đã khắc
phục một số tồn tại trong các văn bản trước đó đồng thời tạo ra một cơ sở pháp
lý để ban hành các Văn bản về xử phạt vi phạm hành chính trong nhiều lĩnh vực
quản lý Nhà nước khác nhau. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày
02/07/2002 là cơ sở để Chính phủ ban hành Nghị định 139/2004/NĐ-CP ngày
25/06/2004, Nghị định 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007, Nghị định
99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 và Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày
11/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ
rừng và quản lý lâm sản.
11
PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
• Phân tích thực trạng của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
• Đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đến ý
thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý bảo
vệ rừng, quản lý lâm sản và hiệu quả của công tác pháp chế - thanh tra
kiểm lâm.
• Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả của công
tác Pháp chế - Thanh tra kiểm lâm trong việc quản lý bảo vệ và phát triển
rừng.
pháp luật, cũng như các vùng trọng điểm thường xuyên xảy ra các hành vi vi
phạm hành chính về lĩnh vực lâm nghiệp.
3.3.2. Phương pháp phân tích số liệu
Tổng hợp, thống kê các số liệu, thông tin thu thập được theo từng chủ đề (nội
dung nghiên cứu).
Đánh giá, phân tích các thông tin theo từng chủ đề và mối quan hệ giữa các
chủ đề
13
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tình hình cơ bản thành phố Đông Hà
4.1.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Đông Hà có vị trí nằm ở trung độ giao thông của cả nước, trên giao lộ 1A nối
Hà Nội - Tp. Hồ Chí Minh và quốc lộ 9 trong hệ thống đường xuyên Á, là điểm
khởi đầu ở phía Đông của trục hành lang kinh tế Đông - Tây, nối với đất nước
Lào và Thái Lan, Myanma... qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và các nước trong
khu vực biển Đông qua cảng Cửa Việt.
Từ thuận lợi về giao lưu đối ngoại, Đông Hà có khả năng thu hút, hội tụ để
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và trở thành trung tâm phát luồng các mối
quan hệ kinh tế trong khu vực và quốc tế.
Đông Hà là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị, nằm ở tọa độ 16007'53''
đến 16052'22'' vĩ độ Bắc; 107004'24'' đến 107007'24'' kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp huyện Cam Lộ và Gio Linh, cách thành phố Đồng Hới về phía
Bắc 93 km.
Phía Nam và phía Đông giáp huyện Triệu Phong, cách thành phố Huế 70 km
về phía Nam.
Phía Đông giáp huyện Gio Linh và huyện Triệu Phong
của khí hậu gió mùa và có những biểu hiện đặc thù so với các vùng khí hậu khu
vực phía đông Trường Sơn. Đó là do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió phơn
Tây Nam nên tạo thành một vùng khí hậu khô, nóng. Chế độ khí hậu chia làm 2
mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô nóng.
Về mùa Đông, do chịu ảnh hưởng của không khí lạnh cực đới tràn về tới đèo
Hải Vân, nên ở khu vực Đông Hà có mùa đông tương đối lạnh so với các vùng
phía nam. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh
nhất từ 9 - 10 độ C. Đây cũng là khu vực có lượng mưa tương đối lớn nhưng tập
trung chủ yếu trong 4 tháng mùa mưa (khoảng 80%). Tuy nhiên số ngày mưa
phân bố không đều, trong các tháng cao điểm trung bình mỗi tháng có từ 17- 20
ngày mưa làm ảnh hưởng đến bố trí thời vụ của một số cây trồng và ảnh hưởng
đến sản xuất nông nghiệp.
Khu vực Đông Hà còn chịu ảnh hưởng của bão. Mùa bão ở đây tập trung từ
tháng 9 -11. Các cơn bão đổ bộ vào đất liền thường tập trung vào các cơn bão số
7,8,9,10. Bão thường kèm theo mưa to kết hợp với nước biển dâng cao và lượng
mưa lớn từ trên nguồn đổ về gây lũ lụt và ngập úng trên diện rộng.
Đông Hà chịu ảnh hưởng sâu sắc của 2 loại gió mùa: gió mùa đông bắc hoạt
động từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và gió mùa tây nam hoạt động từ tháng 4
đến tháng 9.
Khí hậu của khu vực có nhiều nét biến động mạnh, thể hiện qua sự biến động
mùa: mùa đông và mùa hè, mùa mưa và mùa khô. Thời tiết của Đông Hà thường
gây úng vào đầu vụ đối với vụ đông xuân, hạn đầu vụ, úng cuối vụ đối với vụ
hè.
16
4.1.1.4. Thủy văn
a. Tài nguyên nước mặt
Thành phố Đông Hà có tổng trữ lượng nguồn nước mặt lớn, phân bố khá đều
- Đất Feralít vàng phát triển trên phiến sét (Fs): Phân bố tập trung ở vùng đồi
phía tây và phía tây nam thị xã. Diện tích đất này chiếm khoảng 3.500ha, chủ
yếu thích hợp trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, phát triển đồng cỏ chăn nuôi.
- Đất phù sa Glây (Pg): Phân bố rãi rác ở các khu vực trồng lúa (thuộc các
phường Đông Thanh, Đông Giang, Đông Lễ, Đông Lương) có diện tích 1.000ha,
chuyên trồng lúa và hoa màu. Đặc điểm chung của các loại đất trên là bị chua
phèn, độ PH dao động từ 4,5 đến 6,5 nên độ phì kém.
- Đất cát…
4.1.1.6. Diễn biến diện tích rừng
Bảng 4.1. Diễn biến diện tích rừng thành phố Đông Hà giai đoạn 2011
– 2014 (đơn vị tính: ha)
TT
Năm
Diện tích
tự nhiên
Diện tích đất có rừng (ha)
Tổng số
Rừng
tự
nhiên
Rừng
trồng
3
2013
7.295,90
2.049,90
37,00
2.012,90
24,6
4
2014
7.295,90
2.204,30
37,00
2.167,30
25,4
Nguồn: Số liệu theo dõi diễn biến tài nguyên rừng (Trạm Kiểm lâm
Hình 4.2. Bản đồ hiện trạng rừng thành phố Đông Hà
20
Nguồn: Trạm Kiểm lâm thành phố Đông Hà
4.1.1.7. Đánh giá về đặc điểm tự nhiên của thành phố Đông Hà
- Thuận lợi:
Mặt đất được phủ trên nền phiếm thạch và sa phiến cùng với địa hình gò đồi
bát úp nối dài, thích hợp cho việc sản xuất canh tác, trồng cây lâm nghiệp, xây
dựng và phát triển các mô hình kinh tế trang trại, sinh thái vườn đồi, vườn rừng.
Xen kẻ là những hồ đập có tác dụng điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường, đồng
thời tạo ra những cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái để xây dựng và phát
triển các cụm điểm dịch vụ vui chơi, giải trí, nghĩ ngơi, tạo ra một cảnh quan đô
thị đẹp, đa dạng, vững chắc và không bị ngập lụt.
Địa hình đồng bằng được phủ lên mặt lớp phù sa thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp (trồng lúa, hoa, rau màu...).
Đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa phù hợp với tình hình sinh trưởng và phát
triển của các loài cây trồng nông – lâm nghiệp.
- Khó khăn:
Do địa hình thấp trũng, nên thường hay bị ngập lụt về mùa mưa bão; hạn hán,
thiếu nước về mùa hè, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.
Chịu ảnh hưởng của bão kèm theo mưa to kết hợp với nước biển dâng cao và
lượng mưa lớn từ trên nguồn đổ về làm thiệt hại đến cơ sở hạ tầng và phá hoại
mùa màng.
Số ngày mưa phân bố không đều làm ảnh hưởng đến bố trí thời vụ của một số
cây trồng và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
21
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng nhanh, bình quân
hàng năm tăng 27%. Các loại hình doanh nghiệp tăng nhanh về số lượng, và có
chiều hướng phát triển tốt, đã đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
22
Cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá,
nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất, đạt trên 50 triệu đồng/ha canh tác. Vùng
chuyên canh lúa hàng năm ổn định khoảng 1.100 ha; sản lượng lương thực hàng
năm đạt trên 9.500 tấn, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 4%/năm.
Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, thu nhập bình quân đầu
người tăng hàng năm, đạt trên 26 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần còn
5,37%, chất lượng nguồn nhân lực được chú trọng, số cán bộ được đào tạo sau
đại học tăng dần; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 32%, tạo việc làm mới hằng năm
cho 1.200 lao động, tỷ lệ thất nghiệp đến năm 2010 giảm còn 5,5%.
Giai đoạn 2010 -2015, Đảng bộ thành phố Đông Hà quyết tâm thực hiện
thắng lợi các mục tiêu: nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
bộ, huy động mọi nguồn lực để xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững theo hướng dịch vụ - công nghiệp
và xây dựng - nông nghiệp, thực hiện đồng bộ giữa phát triển kinh tế với nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo tiến bộ và công bằng
xã hội, ưu tiên phát triển nguồn lực con người, xây dựng nếp sống văn minh đô
thị, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng thành phố Đông Hà đạt tiêu chuẩn
đô thị loại II trước năm 2020.
4.1.2.3. Đánh giá về đặc điểm dân sinh – kinh tế của thành phố Đông Hà
- Thuận lợi: Nền kinh tế có tốc độ phát triển khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp – xây dựng; sản
xuất; sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện về trồng trọt và chăn nuôi theo
hướng sản xuất hàng hóa.
tra các giấy tờ tùy thân của họ. Do đó, các hồ sơ vi phạm mà các chủ rừng lập,
chuyển giao cho kiểm lâm hầu hết không xác định được đối tượng vi phạm một
cách chính xác để xử phạt. Cơ quan kiểm lâm đã nhiều lần căn cứ vào hồ sơ
được lập của các lâm trường tiến hành xác minh ở các địa phương nhưng vẫn
không xác định được đối tượng vi phạm. Theo quy định, các trường hợp chủ
rừng phát hiện vi phạm quả tang, lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi
phạm chuyển cho cơ quan kiểm lâm thì cơ quan kiểm lâm sau khi xử phạt người
vi phạm phải trả lại gỗ, lâm sản cho chủ rừng. Nếu chủ rừng không bắt được quả
tang người vi phạm thì tịch thu lâm sản sung vào công quỹ Nhà nước. Thực
trạng xử lý các vụ việc nói trên trong thời gian qua không đảm bảo quyền lợi
cho chủ rừng hoặc không xử lý đúng đối tượng vi phạm mặc dầu chủ rừng đã
phát hiện vi phạm quả tang.
Đây là một thực trạng mà trong những năm qua giữa các chủ rừng và cơ
quan Kiểm lâm đang còn vướng mắc và gây ra nhiều tranh luận. Nếu xử lý
không đúng đắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý bảo vệ rừng.
Bảng 4.2. Đối tượng VPHC trong lĩnh vực lâm nghiệp tại thành
phố Đông Hà
Đối
Hành vi vi phạm
tượng vi Phá
Vi
Vi
Vi
Vận
Mua
Vi
bán,
cất giữ,
kinh
doanh
lâm
sản trái
phép
phạm
thủ tục
hành
chính
Cá nhân
X
X
X
X
X
X
Hộ gia
đình
đối tượng rừng bị xâm hại là rừng tự nhiên, rừng trồng với các loại lâm sản như:
gỗ, động vật hoang dã,... Những vụ vi phạm này xảy ra mọi lúc, mọi nơi, không
kể ngày đêm, trên khắp địa bàn thành phố. Đối tượng vi phạm chủ yếu là người
dân địa phương sống ở khu vực gần rừng, họ vào rừng khai thác trái phép lâm
sản kiếm thêm thu nhập, từ đó gây thiệt hại về nguồn tài nguyên rừng.
Trên địa bàn thành phố Đông Hà hiện nay có khoảng trên 2000 ha rừng
trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, công ty Lâm nghiệp. Các vụ vi phạm hành
chính về phá rừng trái phép là một vấn đề nổi cộm trên địa bàn. Do người dân
chỉ nhìn thấy mặt lợi của rừng là cho nguồn lâm sản dồi dào, mà không nghĩ đến
25