A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Ngay sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn
thắng lợi,… theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng,…
làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy chúng ta cũng nhất định thắng
lợi” [2, tr. 503]. Đây là lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại để lại cho
toàn thể dân tộc Việt Nam trước lúc Người đi xa.
Quán triệt tinh thần này, Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên tự đổi
mới, tự chỉnh đốn. “Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn đã trở thành vấn
đề có tính quy luật trong công tác xây dựng của Đảng ta” [5, tr. 17].
Trong hơn 20 năm đổi mới, về công tác xây dựng Đảng, Đại hội X
(2006) đánh giá: “Bên cạnh những ưu điểm, công tác xây dựng Đảng còn
nhiều yếu kém khuyết điểm, chưa theo kịp đòi hỏi của tình hình mới; nổi lên
là sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng; tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng
viên và nhân dân” [5, tr. 284]. Như vậy, xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng mới là vấn đề sống còn của Đảng,
của chế độ, là nhiệm vụ then chốt trong quá trình đổi mới.
Với tầm quan trọng trên, thiết nghĩ nghiên cứu nó là cấp bách và cần thiết, vì
thế em chọn đề tài: “Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện
nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục những yếu kém, khuyết
điểm. Đồng thời vạch ra được phương hướng, mục đích, nhiệm vụ nhằm nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Mặt khác, nâng cao nhận thức
về xây dựng Đảng, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Góp phần làm
tốt công tác xây dựng Đảng ở chi bộ mình.
1
2
6. Phương pháp
Người viết sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử cụ thể.
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp logic.
- Phương pháp thống kê.
3
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CĂN CỨ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
I.1. Khái niệm thông thường
I.1.1. Xây dựng:
“Làm cho hình thành một tổ chức hay một chủ thể về xã hội, chính trị,
kinh tế, văn hóa theo một phương thức nhất định” (theo Từ điển tiếng Việt
của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2001, tr. 145).
I.1.2. Chỉnh đốn:
“Sửa sang, sắp đặt lại cho đúng phép tắc, cho có nề nếp” (theo Từ
điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2001, tr. 161).
I.2. Quan điểm của các nhà kinh điển
I.2.1. Quan điểm Mác - Lênin
I.2.1.1. Quan điểm của Mác - Ăngghen
Phong trào vô sản trải qua những bước phát triển khác nhau… do đó
chúng ta nhất thiết phải duy trì chỉnh đốn Đảng, nếu không mọi cái sẽ mất hết.
Lênin: Không có một tổ chức vững vàng… thì không thể có phong trào
cách mạng vững chắc được và để đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh của Đảng
Cộng sản Lênin nhấn mạnh: phải đuổi cổ ra khỏi Đảng những kẻ gian xảo,
những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược.
Hồ Chí Minh kế thừa quan điểm trên của Mác, Ăngghen và Lênin. Hồ
Chí Minh nêu ra lý do chỉnh đốn Đảng như sau: Phải chỉnh đốn Đảng vì số
đông đảng viên gương mẫu, tận tâm, tận lực phục vụ cách mạng, nhân dân,
giai cấp, vẫn còn một số không phải là ít đảng viên không làm đúng chính
sách của Đảng, Chính phủ, không đi đúng đường lối của nhân dân, những
đảng viên ấy chưa thật sự đúng đắn cho nên phải chỉnh.
Như vậy, yêu cầu đổi mới, chỉnh đốn lại Đảng Cộng sản trong quá trình
lãnh đạo cách mạng vô sản là một tất yếu khách quan, là nhân tố bảo đảm
Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo của mình.
II.2. Nội dung đổi mới, chỉnh đốn Đảng
Đổi mới, chỉnh đốn Đảng nằm trong hệ thống xây dựng Đảng. Đổi mới,
chỉnh đốn Đảng nhằm xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo đảm Đảng thực hiện có
5
hiệu quả nhiệm vụ cách mạng của mình: lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam
xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1975, Đảng lãnh đạo nhân dân bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, do nhận thức chưa đúng về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tư tưởng chủ quan, duy ý chí, giản đơn hóa, muốn
thực hiện nhanh chóng mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta
mới ở chặng đường đầu tiên; không thừa nhận quy luật của sản xuất hàng hóa
đang tồn tại khách quan, do vậy Đảng không vận dụng quy luật này vào việc chế
định các chủ trương, chính sách kinh tế. Đặc biệt trong công tác xây dựng Đảng,
hai khuyết điểm quan trọng mà Đảng mắc phải là: nguyên tắc tập trung dân chủ
Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng
ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng. Cán
bộ ta được rèn luyện trong quá trình chiến đấu lâu dài, nhiều thế hệ cán bộ
trưởng thành, đó là cơ sở để giải quyết vấn đề cán bộ.
Đổi mới quan điểm đánh giá cán bộ tức là lấy hiệu quả chính trị làm
thước đo phẩm chất và năng lực của cán bộ. Lấy nhu cầu nhiệm vụ làm căn
cứ bố trí cán bộ.
Đào tạo đội ngũ cán bộ kế tục; phải có cơ chế quản lý cán bộ đúng bởi
cơ chế quản lý cán bộ có đúng thì sự đánh giá cán bộ mới chính xác.
Đại hội VI cũng nêu rõ: đổi mới nhưng giữ vững các nguyên tắc tổ
chức và sinh hoạt trong Đảng.
Thứ nhất: Tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng nhất chỉ đạo mọi
hoạt động tổ chức của Đảng. Sức mạnh to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy
đủ nguyên tắc này. Nếu nguyên tắc bị vi phạm dẫn đến những quyết định sai
lầm, làm suy yếu đoàn kết trong Đảng. Do vậy, cần giữ vững nguyên tắc tập
trung dân chủ trong Đảng.
Thứ hai: Đấu tranh phê bình và tự phê bình là quy luật tồn tại và phát
triển của Đảng, là thước đo trình độ dân chủ trong Đảng. Thể hiện thái độ, ý
chí trách nhiệm của Đảng trước nhân dân, người cộng sản dũng cảm nhìn
thẳng vào sự thật. Trong Đảng không thể dung thứ thái độ che giấu khuyết
7
điểm, thổi phồng thành tích, lừa dối cấp trên. Thái độ nể nang hoặc đàn áp, trả
thù người phê bình, không được coi tự phê bình và phê bình là một dịp đả
kích nhau, phải xem đó là một sinh hoạt Đảng bình thường để góp ý kiến giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ, củng cố sự đoàn kết, nhất trí.
Thứ ba: Đoàn kết nhất trí trong Đảng. Đảng ta có truyền thống đoàn kết
nhất trí tốt đẹp, chẳng những lúc cách mạng phát triển bình thường thuận lợi
mà cả những lúc sóng gió, ở những bước ngoặt lịch sử, Đảng luôn là một khối
nghệ, cải cách toàn diện công tác của các trường Đảng, nâng cao chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp.
Về lĩnh vực tổ chức: Trước hết cần nâng cao sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở Đảng vì tổ chức cơ sở Đảng là hạt nhân chính trị của Đảng mà trực tiếp
là chi bộ. Do vậy, cần chăm lo tốt chi bộ. Chi bộ phải làm tốt việc phân công
đảng viên, đảng viên nào cũng được giao công tác và phải làm tròn nhiệm vụ.
Muốn vậy phải thường xuyên chăm lo việc giáo dục rèn luyện mỗi cán bộ,
đảng viên. Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách và thu
hút vào Đảng những người ưu tú. Cần nâng cao chất lượng đảng viên, đấu
tranh chống các biểu hiện tiêu cực. Với lương tâm của người cộng sản, mỗi
cán bộ, đảng viên hãy nghiêm khắc xem xét mình đã sống lành mạnh, sống
bằng lao động của mình hay chưa? Tránh tư tưởng, hoạt động chạy theo đồng
tiền, tính ích kỷ, xâm phạm lợi ích của nhân dân, ăn cắp của công.
Đại hội VI đánh dấu sự đổi mới toàn diện, là Đại hội “đổi mới quan trọng
của Đảng trong lãnh đạo chính trị, tư tưởng, tổ chức” [7, tr. 479] và Đại hội VI
“được xem là đại hội kế thừa quyết tâm đổi mới đoàn kết tiến lên của Đảng”.
II.2.2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (24 - 27/6/1991)
Nếu Đại hội VI được xem là “Đại hội kế thừa quyết tâm đổi mới đoàn kết
tiến lên của Đảng” thì Đại hội VII là “Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ
cương - đoàn kết”. Tiếp tục tinh thần Đại hội VI, Đại hội VII thẳng thắn thừa
nhận những khuyết điểm trong lãnh đạo quản lý của Đảng. Và “khuyết điểm có
tính chất bao trùm là Đảng chậm xác định rõ yêu cầu và nội dung đổi mới
phương thức lãnh đạo trong giai đoạn mới, chưa tập trung nghiên cứu đề ra
phương hướng, chủ trương rõ ràng và chỉ đạo thực hiện tích cực việc tổ chức bộ
máy, còn thiếu những biện pháp có hiệu lực để nâng cao chất lượng đảng viên,
9
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng ngang tầm
“Phải tạo bước chuyển quan trọng trong công tác cán bộ. Đây là khâu
then chốt có ý nghĩa quyết định toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Phải xây dựng
đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ. Sắp xếp, điều chỉnh, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ hiện có và chuẩn bị đội ngũ kế cận. Thực hiện phân công, phân cấp
cán bộ hợp lý. Đổi mới chính sách cán bộ” [9, tr. 517].
“Để Đảng trong sạch, vững mạnh cần đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng. Phải xác định rõ mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các tổ
chức khác trong hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò, chất lượng và hiệu
quả lãnh đạo của Đảng” [9, tr. 517].
II.2.3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (26/6 - 1/7/1996)
Bối cảnh quốc tế và khu vực trong thời gian này có ảnh hưởng to lớn
đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Quốc tế hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới đã và đang trở thành
xu hướng chủ đạo, cuốn hút nhiều quốc gia tham gia. Chủ nghĩa xã hội tạm
thời lâm vào thoái trào sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và Đông Âu. Cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu
như môi trường, nguy cơ bùng nổ dân số, bệnh tật… đòi hỏi các quốc gia hợp
tác vì không một nước nào riêng lẻ có thể tự giải quyết được.
Việt Nam bên cạnh những thành tựu sau 10 đổi mới, nước ta phải đối
đầu với những khó khăn, thử thách lớn như: nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế,
“diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, tệ quan liêu, tham nhũng, nguy cơ
chệch hướng xã hội chủ nghĩa, những mặt trái của toàn cầu hóa kinh tế…
Tình hình thế giới và thực tiễn đổi mới sinh động của đất nước đặt ra
cho Đảng ta những nhiệm vụ và bước đi mới.
Bộ Chính trị rút ra một số bài học chủ yếu của một năm đổi mới, trong
đó có bài học kinh nghiệm “Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây
dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt” [9, tr. 562]. Đây là một trong những bài
học thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự
Hai là: Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận
(trong nước và thế giới).
12
Ba là: Đổi mới công tác giáo dục trong Đảng và trong xã hội về chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng,
pháp luật của Nhà nước.
Bốn là: Tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống
của cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải tự giác rèn luyện đạo đức lối
sống, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gương mẫu giữ gìn phẩm chất
người chiến sĩ cộng sản, chống chủ nghĩa cá nhân…
Năm là: Tập trung chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí,
quan liêu có hiệu quả.
Sáu là: Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê
bình và phê bình trong Đảng.
Bảy là: Củng cố, tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của
các tổ chức cơ sở Đảng.
Tám là: Sắp xếp lại tổ chức, bộ máy Đảng và các tổ chức trong hệ
thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả.
Chín là: Toàn Đảng tiếp tục tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh
đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình.
Mười là: Cải tiến việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của
Đảng.
“Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII có một
ý nghĩa rất quan trọng, tạo ra bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng
và chỉnh đốn Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm cho
báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, thông tin đối ngoại..
Xây dựng về tổ chức: “Củng cố tổ chức cơ sở Đảng gắn liền với xây
dựng hệ thống chính trị… khắc phục dần biểu hiện ỷ lại, thiếu chủ động,
buông lỏng vai trò lãnh đạo. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong
sạch, vững mạnh, củng cố đảng bộ, chi bộ yếu kém,…” [6, tr. 130].
II.2.5. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (18 - 25/4/2006)
14
“Nhìn thẳng vào sự thật để kiểm điểm, đánh giá… rút ra những bài
học kinh nghiệm” [5, tr. 9] là nhiệm vụ của Đại hội X.
Quán triệt tinh thần Đại hội IX, Đại hội X khẳng định: “Xây dựng
Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh
đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực. Đây
là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta” [5, tr. 48, 49].
Để “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”, đảm bảo là “nhân tố
quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp đổi mới”, trước hết:
Phải nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng. Nâng cao
chất lượng nghiên cứu lý luận và đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị
công tác tư tưởng trong Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ
chốt các cấp.
Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất
lượng đội ngũ đảng viên.
Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; tăng
cường quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, nâng cao chất lượng và hiệu
quả công tác kiểm tra, giám sát.
Đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ.
phát triển còn nắm giữ vị trí chi phối.
Bên cạnh đó, tầm trí tuệ của Đảng cần phải vươn ra phạm vi toàn cầu
để nắm bắt kịp thời cơ và chuẩn xác những chiều hướng mới trên thế giới về
chính trị, kinh tế, văn hóa… Trí tuệ của Đảng được thể hiện trong hiểu biết
thông lệ, quy định quốc tế để đề ra đường lối và pháp luật.
Công tác lý luận và công tác tư tưởng cần có những đổi mới.
Để đáp ứng được những yêu cầu nói trên, khâu then chốt là đào tạo, bồi
dưỡng, giáo dục đội ngũ cán bộ đáp ứng đòi hỏi quá trình hội nhập. Về mặt
chuyên môn, cán bộ, đảng viên ngoài việc nắm vững chuyên môn của mình
cần nâng tầm trí tuệ, hiểu biết sâu rộng những gì diễn ra trên thế giới; phải có
kiến thức luật pháp và thông lệ quốc tế, kỹ năng đàm phán, đấu tranh bảo vệ
lợi ích dân tộc và bản thân, sử dụng thành thạo phương tiện kỹ thuật hiện đại
và ngoại ngữ. Về phẩm chất đạo đức, trong bất kỳ hoàn cảnh nào người đảng
16
viên cộng sản phải có lập trường kiên định, đạo đức trong sáng, chống lại mặt
xấu của nền kinh tế thị trường.
“Cán bộ là gốc công việc”, “công việc thành công hay thất bại do cán
bộ tốt hay kém”. Vì thế, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng là một nội
dung quan trọng trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay.
III. KINH NGHIỆM, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP LỚN
TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG ĐẾN NĂM 2010
III.1. Một số bài học kinh nghiệm qua 20 năm đổi mới
Từ thực tiễn xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2007), có thể
khái quát thành 6 bài học kinh nghiệm chủ yếu sau đây:
“Một là: Phải kiên trì đường lối đổi mới, đổi mới toàn diện, có nguyên
tắc và sáng tạo. Trong quá trình đổi mới phải luôn giữ vững và tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh. Phát huy vai trò giám sát của nhân
dân, của mặt trận, các đoàn thể và của các cơ quan thông tin đại chúng.
Sáu là: Đảng phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nhất là
phương thức lãnh đạo nhà nước, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước, tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân. Phải xây
dựng hệ thống các quy chế về sự lãnh đạo của Đảng ở các ngành, các cấp.
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không làm thay
công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị” [5, tr. 276 - 278].
III.2. Phương hướng và mục tiêu
Phương hướng và mục tiêu tổng quát của công tác xây dựng Đảng đến
năm 2010 là: Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chất
giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh về chính
trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng
trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó
với nhân dân. Cụ thể là:
18
Nâng cao năng lực lãnh đạo cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ
trương, chính sách; tổ chức thực hiện sáng tạo, có hiệu quả đường lối.
Coi trọng công tác tư tưởng, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn, xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận vững chắc cho sự nghiệp đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống, phẩm chất, năng lực
đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chống tư tưởng cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân,
đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu và những biểu hiện tiêu cực khác.
Thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Phân biệt
tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công
tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội. Đây là nhiệm vụ không của riêng ai và hết sức khó khăn, phức
tạp. Do vậy, cần đấu tranh kiên quyết, kiên trì, liên tục, có hiệu quả từ trung
ương đến địa phương. Trong Đảng thường xuyên phê bình, tự phê bình, biểu
dương, nhân rộng những tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Cần
hoàn thiện hệ thống pháp luật để trị, sẽ trị và trị cho kỳ hết những kẻ tham
nhũng, lãng phí. Mặt khác, phải thành lập các ban chỉ đạo phòng, chống tham
nhũng từ trung ương đến địa phương đủ mạnh, có thực quyền, hoạt động có hiệu
quả.
Đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và của hệ thống chính trị.
Cần thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc tổ
chức, hoạt động của Đảng. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động
của Quốc hội. Xây dựng bộ máy Chính phủ theo hướng tinh gọn, hiệu lực,
hiệu quả. Sắp xếp tổ chức bộ máy Mặt trận và các đoàn thể nhân dân theo
hướng tinh gọn ở cấp trung ương, tỉnh, huyện.
Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, công tác bảo vệ chính trị, nội bộ.
Trong đổi mới công tác cán bộ, nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo cao cấp - đứng đầu tổ chức các cấp, các ngành của hệ thống
chính trị. Có ba giải pháp về nhiệm vụ này:
Thứ nhất, cần có chính sách, quy chế tôn vinh những người có năng
lực, hết lòng vì dân, vì nước, khuyến khích những người năng động, sáng tạo.
20
Thứ hai, triển khai đồng bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng.
Thứ ba, thực hiện chính sách trọng dụng và thu hút nhân tài.
Trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần bảo vệ Đảng cả về chính trị,
tư tưởng và tổ chức. Trước hết cần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ
đổi các chương trình, mục tiêu lớn của Nhà nước. Đối với Quốc hội phải giải
quyết tốt hơn mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo về quan điểm, chủ trương của
Ban chấp hành Trung ương Đảng với thẩm quyền quyết định của Quốc hội
trên những vấn đề này. Đối với Chính phủ, xác định rõ hơn thẩm quyền quyết
định của Chính phủ. Đối với các cơ quan tư pháp, Đảng lãnh đạo theo nguyên
tắc: “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp. Đối
với chính quyền địa phương, sự lãnh đạo của cấp ủy đảng là định hướng bảo
đảm để hội đồng nhân dân ấn định các mục tiêu kinh tế - xã hội ở địa phương.
Đối với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phải phát huy tinh thần tự
chủ, sáng tạo của Mặt trận và đoàn thể.
Tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của Đảng theo hướng dân
chủ, kỷ cương.
Xây dựng và thực hiện chế độ báo cáo xin ý kiến. Bộ Chính trị, Ban Bí
thư phải báo cáo, xin ý kiến của Ban chấp hành Trung ương về hoạt động của
mình giữa hai kỳ họp Ban chấp hành Trung ương.
22
C. PHẦN KẾT LUẬN
Thành tựu, khuyết điểm của công tác xây dựng Đảng cũng như toàn bộ
công cuộc đổi mới trong thời gian qua, có thể rút ra kết luận rằng: “thắng lợi
của công cuộc đổi mới tùy thuộc vào bản lĩnh, trình độ và năng lực lãnh đạo
của Đảng. Phải giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời thường
xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng” [4, tr. 392]. Sở dĩ phải kiên định sự
lãnh đạo của Đảng, coi đây là vấn đề nguyên tắc vì không có sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản thì không thể có độc lập dân tộc vững chắc, không có quyền làm
chủ thật sự của nhân dân, không có nhà nước của dân, do dân, vì dân và càng
không có chủ nghĩa xã hội. Lúc bình thường vai trò lãnh đạo của Đảng rất quan
phong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới” [4, 395].
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
GS. Đặng Xuân Kỳ, PGS.TS. Mạch Quang Thắng, TS. Nguyễn Văn Hòa
(đồng chủ biên), Một số vấn đề về xây dựng Đảng hiện nay, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
2.
Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
3.
PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc (chủ biên), Các Đại hội đại biểu toàn quốc
và hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1930
- 2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
4.
GS. Trần Nhâm (chủ biên), Có một Việt Nam như thế đổi mới và phát
triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
5.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ