ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*** Lê Thị Ngọc Thúy
Đẩy mạnh năng lực cạnh tranh xuất
khẩu của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay
Chuyên ngành : Kinh doanh và quản lý
Mã số : 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
khẩu của doanh nghiệp
1.2.1.1 Quan điểm quản trị chiến lược 12
1.2.1.2 Quan điểm tân cổ điển 13
1.2.1.3 Phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp 14
1.2.2 Các tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực cạnh tranh xuất 15
khẩu của doanh nghiệp Việt Nam
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu 18
của doanh nghiệp
1.2.4 Vai trò của việc đẩy mạnh năng lực cạnh tranh đôi với hoạt 20
động xuất khẩu của doanh nghiệp
1.3 Xuất khẩu và vai trò của hoạt động xuất khẩu 22
1.3.1 Xuất khẩu và các hình thức xuất khẩu cơ bản 22
1.3.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu 23
1.4 Vai trò của các giải pháp tài chính đối với xuất khẩu của Việt Nam 25
trong hội nhập kinh tế quốc tế CHƢƠNG 2 THỤC TRẠNG NĂNG LỤC CẠNH TRANH XUẤT KHAU CỦA DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM 30
2.1 Đánh giá tổng quát về thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu 30
của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
2.1.1 Kết quả xuất khẩu qua một số năm 30
2.7.1 Kim ngạch xuất khẩu vào một số thị trường 32
2.1.1 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yêu 35
2.2 Thực trạng các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh xuất khẩu của 38
các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
2.2.7 Thị phần xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 38
2.2.2 Thực trạng chất lượng sản phẩm xuất khẩu của các doanh 41 nghiệp vừa và
nhỏ
NAY
3.1 Định hƣớng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam 71
giai đoạn 2007 - 2010
3.2 Những thuận lợi và khó khăn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ 74
Việt Nam trong hội nhập kinh tê quốc tế
3.3 Giải pháp đẩy mạnh năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh 77
nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
33.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách của Chính phủ li
33.1,1 Giải pháp về chính sách thuế li
3.3.1.2 Giải pháp về chính sách tỷ giá hối đoái 81
33.1.3 Giải pháp về chính sách tín dụng 83
33.ỉ A Các giải pháp khác 87
332 Nhóm giải pháp từ phía nội lực của doanh nghiệp 92
3.3.2.1 Nâng cao chất lượng, hạ giá báu sản phẩm, tạo ra sự khác 92
biệt cho sản phẩm
3.3.2.2 Đẩy mạnh hoại động xúc tiến Thương mại 96
332.3 Đẩy mạnh các mối liên kết trong xuất khẩu 102
3.3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 106
3.32.5 Xây dựng nền vãn hóa của doanh nghiệp 109
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 1
MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài :
Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến rất nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều
thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước cũng như thị
cho các doanh nghiệp Việt Nam với những thời cơ và thách thức mới. Vấn đề nâng
cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của hàng hóa và đặc biệt của doanh nghiệp có ý
nghĩa vô cùng quan trọng quyết định sự thành công của tiến trình hội nhập kinh tế.
Đã có rất nhiều bài báo viết về vấn đề này tuy nhiên chủ yếu là đưa ra các giải pháp
áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung hay cụ thể hơn là các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ mà chưa đề cập nhiều đến các DNVVN,
một bộ phận không nhỏ chiếm khoảng 90% trong tổng số các doanh nghiệp Việt
Nam:
- TS. Tăng Văn Nghĩa (2006), “Chính sách cạnh tranh - công cụ vĩ mô nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dân doanh trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế”, Nghiên cứu kinh tế, (333), Tr.16-17.
- TS. Đặng Thị Hiếu Lá (2006), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO”, Nghiên cứu kinh tế,
(335),Tr.40-49.
- TS. Nguyễn Đăng Nam (2003), “Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập”, Tài chính, (1), Tr.60-62.
- PGS.TS Lê Xuân Bá (2007), “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Quản lý kinh tế, (12), Tr.11-12.
- PGS.TS Trần Thị Minh Châu (2007), “Kinh nghiệm nâng cao năng lực
cạnh tranh của một số doanh nghiệp trên thế giới và một số gợi ý cho doanh nghiệp
Việt Nam”, Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, (1), Tr.38-45.
- Ths. Nguyễn Hữu Thắng (2006), “ Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong những năm tới”, Kinh tế và dự
báo, (4), Tr.31-33.
- Nguyễn Thị Dung (2006), “Tìm giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa”,
Kinh tế châu á thái bình dương, (37), Tr.38-40.
- TS. Nguyễn Thừa Lộc (2003), “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của các doanh nghiệp Vịêt Nam”, Tạp chí kinh tế và
- Do không thể nghiên cứu trên tất cả các doanh nghiệp, luận văn đã tiến 4
hành nghiên cứu trên một số DNVVN mang tính chất điển hình, từ đó suy rộng cho
tất cả các DNVVN.
Dự kiến những đóng góp của luận văn:
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của các DNVVN Việt Nam và
những tồn tại của nó. Từ đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi có thể áp dụng
cho DNVVN.
- Đề xuất một số kiến nghị về phía cơ quan quản lý Nhà nước nhằm hỗ trợ
cho các DNVVN.
Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh xuất khẩu của
doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp vừa
và nhỏ Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh
nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.
Theo tiến sỹ Nguyễn Vĩnh Thanh trong cuốn "Nâng cao sức cạnh tranh của
các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế" xuất bản
năm 2005 thì cạnh tranh là sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ
thể cùng tham dự. Mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. Nó diễn ra trong
một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ
như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh.
Các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: đặc
tính và chất lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, các 6
dịch vụ bán hàng, hình thức thanh toán.
Vậy tựu trung lại cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế
ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế
của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như
các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể
kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích. Đối với người sản xuất kinh
doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp tạo ra, duy trì và phát
triển được những lợi thế của mình thông qua việc hạ thấp chi phí và tạo ra sự khác
biệt hóa cho sản phẩm nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận
cao hơn mức trung bình của ngành.
Theo Michael Porter, giáo sư trường đại học Harvard - Mỹ, năng lực cạnh
tranh là sự tổng hợp từ nhiều yếu tố nhằm tạo ra một sự tăng trưởng và duy trì được
lợi thế cạnh tranh liên tục trong một thời gian dài - cạnh tranh bền vững. Quan điểm
của ông cho rằng để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp cần phải có
được các lợi thế cạnh tranh, hoặc các chi phí sản xuất thấp hơn, hoặc có khả năng
khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá bán cao hơn trung bình. Để duy
trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh
1.1.2 Phân loại cạnh tranh
Dựa theo những tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc vào mục đích và đối tượng
nghiên cứu, cạnh tranh được phân thành nhiều loại hình khác nhau.
- Xét theo chủ thể cạnh tranh có các loại hình: cạnh tranh giữa những người
sản xuất hay người bán, cạnh tranh giữa những người mua, cạnh tranh giữa người
bán và người mua.
- Xét theo tính chất của cạnh tranh có cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang.
Cạnh tranh dọc là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp
nhất khác nhau. Để thực hiện cạnh tranh dọc, các doanh nghiệp sẽ phải tìm mọi
cách để hạ thấp chi phí bình quân bằng cách giảm giá bán sản phẩm đến mức tối
thiểu. Sau một thời gian nhất định sẽ hình thành một giá thị trường thống nhất,
doanh nghiệp nào có chi phí bình quân thấp nhất sẽ thu được lợi nhuận cao và phát
triển, doanh nghiệp có mức chi phí bình quân cao sẽ bị loại khỏi thị trường. Cạnh
tranh ngang là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp
nhất ngang nhau. Giá cả sản phẩm ở mức thấp tối thiểu, vì vậy về lý thuyết sẽ 8
không có doanh nghiệp nào bị loại ra khỏi thị trường, chỉ có người mua hưởng lợi
nhiều nhất còn lợi nhuận doanh nghiệp sẽ giảm dần. Với hình thức cạnh tranh
ngang, sau một thời gian nhất định sẽ xuất hiện hai khuynh hướng: các doanh
nghiệp liên minh với nhau bán hàng giá cao, giảm lượng bán để tiến tới độc quyền,
phân chia thị trường; hoặc tìm cách giảm chi phí bằng cách nâng cao năng lực quản
lý, tổ chức và hiện đại hoá công nghệ tức là chuyển sang hình thức cạnh tranh
dọc.
- Xét theo hình thái cạnh tranh có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không
hoàn hảo. Cạnh tranh hoàn hảo là tình trạng cạnh tranh diễn ra trên thị trường đồng
thời có nhiều người bán và nhiều người mua, họ đều có đầy đủ thông tin về các điều
kiện của thị trường. Nói một cách khác, cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh trong
những điều kiện thị trường hoàn toàn như nhau giữa các sản phẩm và doanh nghiệp.
xem xét năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp. Mọi
nguồn lực và yếu tố đều có thể khai thác được để tạo dựng các lợi thế cạnh tranh
cho doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp cần khai thác và vận dụng các
nguồn lực đó như thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất.
Tuỳ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, đặc điểm thị trường và đặc thù sản phẩm
cũng như quy mô của doanh nghiệp mà áp dụng các công cụ khai thác lợi thế cạnh
tranh khác nhau. Tuy nhiên, có thể hình dung một số công cụ chủ yếu để tạo dựng
lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
như: khai thác các lợi thế sẵn có, thực hiện chiến lược khác biệt hoá, thực hiện tốt
quản trị chất lượng, nghiên cứu và phát triển (R&D), khai thác tri thức ban lãnh
đạo, quản trị tài sản thương hiệu, quản trị nguồn vốn, quản trị nhân sự, phân đoạn
thị trường, quản trị mối quan hệ với khách hàng, sử dụng thông tin tình báo cạnh
tranh và xử lý tốt các tình huống phát sinh. Tình báo cạnh
Phân đoạn thị
Quản trị tài sản
thƣơng hiệu
Tri thức ban lãnh
đạo
Công cụ tạo
dựng lợi thế
cạnh tranh
nghiệp xuất khẩu. Các lợi thế có thể là lợi thế địa phương, lợi thế quốc gia và những
lợi thế khác về tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý, vùng nguyên liệu và các yếu tố
truyền thống kinh nghiệm trong sản xuất hàng hoá. Lợi thế đôi khi là riêng có và
không thể thay thế, là một công cụ rất hữu hiệu để nâng cao năng lực cạnh tranh
trong xuất khẩu cho các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng nông sản, thuỷ sản,
thủ công mỹ nghệ hoặc các sản phẩm đòi hỏi kinh nghiệm và tay nghề của người
lao động.
- Chiến lược khác biệt hoá được thực hiện cả với sản phẩm và với thương
hiệu nhằm tạo ra một hình ảnh rõ nét về doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí
khách hàng. Khi nói đến chiến lược khác biệt hoá, người ta thường đề cập đến các
công cụ như: khác biệt về chất lượng sản phẩm (đẳng cấp sản phẩm); khác biệt về
dịch vụ đi kèm và dịch vụ gia tăng của sản phẩm; khác biệt về giá cả và phong cách
phục vụ của doanh nghiệp; khác biệt hoá về hệ thống phân phối và văn hoá doanh
nghiệp Ngày nay, cạnh tranh càng quyết liệt, người ta càng quan tâm đến chiến
lược khác biệt hoá của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
không có con đường nào khác ngoài việc phải nỗ lực không ngừng để tạo ra một sự
khác biệt. Đó chính là một công cụ rất quan trọng trong cạnh tranh và trong phát
triển hình ảnh thương hiệu. 11
- Quản trị chất lượng là công cụ của không thể thiếu trong nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm là trung tâm chú ý của khách
hàng và là trung tâm của hình ảnh thương hiệu. Nâng cao chất lượng sẽ là điều kiện
tiên quyết để cạnh tranh thành công. Việc áp dụng tích cực các công cụ quản lý chất
lượng đồng bộ sẽ mang lại cho doanh nghiệp khả năng duy trì và không ngừng nâng
cao chất lượng sản phẩm cung ứng ra thị trường.
- Nghiên cứu và phát triển (R&D) là một công cụ mà thực chất là nhằm tạo
ra một sự khác biệt và tạo dựng được lợi thế cạnh tranh ngay từ trong nhà máy.
Ngày nay, người ta nói nhiều đến cạnh tranh ngay trong quá trình sản xuất, nghĩa là
nghiệp.
- Phân đoạn thị trường và quản trị mối quan hệ với khách hàng là một công
cụ phụ trợ nhưng không kém phần quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Một
sản phẩm có thể có khả năng cạnh tranh cao ở một phân khúc này, nhưng chưa chắc
đã có năng lực cạnh tranh tốt ở một phân khúc khác. Vì thế việc phân khúc thị
trường sẽ tạo điều kiện cần thiết để có những chính sách và chiến lược phù hợp
trong từng giai đoạn và từng phân khúc riêng. Bên cạnh đó, mối quan hệ với khách
hàng được quản trị tốt sẽ mang lại sự hài lòng cho khách hàng, giúp duy trì nhóm
khách hàng trung thành - một tài sản thương hiệu quan trọng. Phân khúc hợp lý thị
trường, chia nhỏ hợp lý các nhóm khách hàng mục tiêu theo những tiêu chí khác
nhau, duy trì mối quan hệ công chúng và tạo giao diện tiếp xúc thương hiệu tốt
nhất sẽ là những biện pháp cụ thể để thực hiện công cụ này.
- Tình báo cạnh tranh và đối phó với các tình huống phát sinh là công cụ ít
được các DNVVN quan tâm đến vì khả năng tài chính hạn chế. Việc trực tiếp khai
thác hoặc mua lại những thông tin tình báo cạnh tranh luôn tạo ra cho doanh nghiệp
sự chủ động để đối phó với những biến động của thị trường và xử lý tốt các tình
huống phát sinh trong quan hệ với khách hàng và sản phẩm.
1.2 Các tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu và những
nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp
1.2.1 Tổng quan các quan điểm phân tích năng lực cạnh tranh xuất khẩu
của doanh nghiệp
Có một số quan điểm khác nhau để phân tích năng lực cạnh tranh xuất khẩu
của doanh nghiệp. Luận văn đưa ra ba quan điểm chính làm cơ sở cho việc xác định
những tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp. 13
1.2.1.1 Quan điểm quản trị chiến lược
Là phương pháp phân tích theo cấu trúc thị trường, quan điểm này thể hiện
khá hoàn chỉnh qua các công trình nghiên cứu của Michael Porter và J.Sachs, giáo
- Chi phí đầu vào cho một đơn vị sản phẩm xuất khẩu.
- Những thay đổi về các đặc trưng dân số và khuynh hướng nhu cầu trên thị
trường thế giới.
- Vai trò của các sản phẩm thay thế và bổ sung.
- Những thay đổi trong chính sách của Chính phủ.
Theo quan điểm mới này chi phí thấp chỉ là bước khởi đầu để có thể cạnh tranh.
Sự phát triển kinh doanh năng động mới tận dụng được lợi thế so sánh chi phí, từ đó
nâng cao khả năng về chất. Tất cả các kỹ năng tổ chức, quản lý của các nhà kinh
doanh trong suốt chu trình sản xuất kinh doanh từ giai đoạn trước sản xuất (dự báo,
thiết kế sản xuất, mua công nghệ ) đến bản thân quá trình sản xuất (số lượng lao
động có kỹ thuật, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng ) và sau sản xuất (bao gói, giao
nhận, liên kết thương mại ) đều là những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp.
1.2.1.3 Phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp kết hợp các quan điểm quản trị chiến lược, quan điểm tân
cổ điển, xem năng lực cạnh tranh của một công ty là “năng lực duy trì được lợi
nhuận và thị phần” trên các thị trường trong và ngoài nước.
Theo phương pháp này, năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp được
xác định qua hai chỉ số đo cơ bản: lợi nhuận và thị phần xuất khẩu. Từ hai chỉ số
chung đưa ra các chỉ số về lượng và chất để đánh giá cụ thể hơn:
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
- Năng suất lao động, năng suất sản xuất.
- Khoa học, công nghệ: chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R$D), trình độ
công nghệ, khả năng đổi mới công nghệ và ứng dụng khoa học công nghệ mới.
- Sản phẩm: chất lượng, sự khác biệt của sản phẩm xuất khẩu.
- Đầu vào và chi phí: giá cả đầu vào chủ yếu, hệ số chi phí các nguồn lực
(vật tư, nguyên liệu, nhân công ).
- Mức độ tập trung: số các công ty lớn nhất. 16
bằng các giải pháp cụ thể thích hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất
khẩu hàng hoá của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.
- Nhóm các yếu tố cả doanh nghiệp và Chính phủ chỉ quyết định được ở mức
độ nhất định như giá nguyên - nhiên - vật liệu đầu vào cho sản xuất, nhu cầu của
người tiêu dùng hay môi trường thương mại quốc tế.
- Nhóm các yếu tố không quyết định được, thí dụ như môi trường tự nhiên,
rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu trên thị trường thế giới.
Như vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp trước
hết cần sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp và một phần rất quan trọng khác là
các chính sách của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.
1.2.2 Các tiêu chí chủ yếu đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của
doanh nghiệp Việt Nam
Trên cơ sở các khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và qua các
phương pháp phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh có rất nhiều hệ thống các tiêu
chí khác nhau để xem xét, đánh giá. Nếu xem xét trên góc độ quốc gia, một nền
kinh tế hay một địa phương thì hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá sẽ khác nhiều so
với việc xem xét trên góc độ năng lực cạnh tranh của một ngành, của doanh nghiệp
và của sản phẩm.
- Năm 2005 tại Việt Nam, VCCI và dự án VCI đã thực hiện nghiên cứu về
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh theo 9 nhóm tiêu chí như:
chi phí gia nhập thị trường; các vấn đề về đất đai; tính minh bạch và trách nhiệm;
chi phí thời gian/thanh kiểm tra; chi phí không chính thức; thực hiện chính sách của
Trung ương; ưu đãi với doanh nghiệp nhà nước; tính chủ động sáng tạo và đổi mới;
phát triển doanh nghiệp tư nhân.
- Ở cấp độ doanh nghiệp, khi đánh giá năng lực cạnh tranh, hệ thống các tiêu
chí được xem xét gồm:
+ Thị phần trong và ngoài nước: khi xem xét tiêu chí thị phần của doanh
+ Sự nổi tiếng của thương hiệu sản phẩm: khả năng biết đến và cảm nhận
của thương hiệu, cho thấy sức hút của thương hiệu và sản phẩm đối với người tiêu
dùng.
+ Thị phần của sản phẩm. 18
Thực chất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được cấu thành chủ yếu từ
sức cạnh tranh của sản phẩm. Nói cách khác, sức cạnh tranh của sản phẩm là bộ
phận cấu thành quan trọng và chủ yếu nhất của năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
Vì vậy khi xác định hệ thống các tiêu chí để phân tích năng lực cạnh tranh của
DNVVN Việt Nam, luận văn phân tích năng lực khai thác các công cụ tạo dựng lợi
thế cạnh tranh, từ đó có cái nhìn gián tiếp về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường. Do đó, các nội dung trong luận văn được đưa ra phân tích về:
* Sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu: xuất phát từ chỗ khó có thể có được các
số liệu cụ thể về thị phần của các doanh nghiệp, nên luận văn phân tích sự gia tăng
kim ngạch xuất khẩu theo thời gian. Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng duy trì và
mở rộng thị phần của doanh nghiệp.
* Chất lượng và giá cả sản phẩm xuất khẩu: đây là chỉ tiêu quan trọng để
nhận xét về sức cạnh tranh của sản phẩm, một yếu tố cấu thành quan trọng của năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được nhìn nhận gián tiếp trên cơ sở
các vướng mắc mà doanh nghiệp gặp phải trong hoạt động kinh doanh của mình.
* Khả năng xâm nhập thị trường: các DNVVN khó có thể đối đầu trực tiếp
với các tập đoàn lớn. Vì vậy để thành công trên thương trường, các DNVVN luôn
tìm cách đi vào các thị trường ngách với những phân khúc chuyên biệt. Đây được
coi như tiêu chí đánh giá mức độ linh hoạt để duy trì và phát triển năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
* Tính linh hoạt trong đổi mới mặt hàng: tiêu chí này được nhìn nhận dưới
góc độ khả năng đáp ứng những nhu cầu biến động thường xuyên của khách hàng,
khả năng làm mới hình ảnh thương hiệu để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh
nhân viên, tay nghề của người lao động luôn là động lực tạo ra những lợi thế cạnh
tranh và sự vượt trội trên những mặt khác nhau của doanh nghiệp so với đối thủ.
Khi xem xét nhân tố con người ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, không thể không xem xét các chỉ tiêu như mức lương bình quân, chế
độ đãi ngộ của doanh nghiệp và thời gian làm việc đối với người lao động. Điều này
có tác động rất nhiều đến hiệu quả cũng như sự nhiệt tình và hăng say trong công
việc của người lao động.
Hai là, các yếu tố về công nghệ và kỹ thuật. Đây là những yếu tố liên quan
đến khả năng tiếp cận và ứng dụng các kỹ thuật sản xuất cũng như công nghệ hiện 20
đại trong các doanh nghiệp. Với các DNVVN, mặc dù rất nhanh nhạy trong chuyển
đổi công nghệ xuất phát từ quy mô hạn chế của mình, nhưng lại gặp không ít khó
khăn trong thay đổi thiết bị do hạn chế lớn về tài chính. Vì thế, nếu được sự hỗ trợ
trong một chừng mực nhất định về tài chính và tiếp cận thường xuyên với công
nghệ hiện đại sẽ tạo động lực mạnh mẽ để DNVVN có thể nâng cao chất lượng
cũng như năng suất sản xuất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và
của doanh nghiệp.
Ba là, vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là nhân tố luôn được các
DNVVN quan tâm và chú trọng. Nguồn vốn ảnh hưởng trực tiếp nhất đến khả năng
đổi mới mặt hàng, mở rộng thị trường và gia tăng quảng bá cho sản phẩm. Tuy
nhiên, nguồn vốn hoàn toàn không phải là nhân tố ảnh hưởng quyết định nhất đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải biết huy động tối đa và
khai thác, sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn vốn khác nhau.
Bốn là. môi trường pháp lý của doanh nghiệp. Đây được coi là nhân tố
khách quan nhưng có rất nhiều ảnh hưởng đến khả năng tạo dựng năng lực cạnh
tranh của DNVVN. Thực tế đã chứng minh, các chính sách vi mô lẫn vĩ mô đều tác
động rất mạnh đến sự phát triển nói chung của doanh nghiệp, có thể cản trở và
nhiều khi triệt tiêu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Các chính sách bảo
công nghệ kỹ thuật hiện đại để tiến tới ứng dụng khoa học kỹ thuật ngày càng tiên
tiến, sáng tạo công nghệ kỹ thuật mới nhằm tăng hiệu quả hoạt động. Từ đó có
điều kiện tiếp cận và bắt kịp với sự phát triển của lực lượng sản xuất thế giới như
quy trình sản xuất, công nghệ và khả năng quản lý.
Đẩy mạnh năng lực cạnh tranh là tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp
không ngừng cải tiến quản lý sản xuất, áp dụng công nghệ mới nhằm hạ thấp chi phí
sản xuất kinh doanh và giá bán sản phẩm đồng thời nâng cao chất lượng hàng hoá,
dịch vụ và tổ chức mạng lưới phân phối và tiêu thụ hợp lý. Có như vậy doanh
nghiệp mới có khả năng tồn tại và phát triển.
Quá trình này không chỉ có tác động tích cực đến doanh nghiệp, mà còn tác
động đến thị trường và xã hội. Việc đẩy mạnh năng lực cạnh tranh giúp nâng cao
hiệu quả và năng suất lao động của toàn xã hội, đồng thời giúp cho người tiêu dùng
được sử dụng các hàng hóa, dịch vụ có chất lượng cao hơn, với giá thấp hơn.
Đẩy mạnh năng lực cạnh tranh giúp phân bổ một cách có hiệu quả và đồng
đều nguồn vốn của xã hội. Bởi vì vốn cũng là một loại hàng hóa, mà giá trị của nó