Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự học - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN HÙNG

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU NĂM 1986
DƢỚI GÓC NHÌN TỰ SỰ HỌC

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 62.22.01.20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS. NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
2. TS. TRẦN THỊ SÂM

HÀ NỘI, NĂM 2014

HÀ NỘI-năm


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, TS. Trần Thị Sâm,
người đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành
luận án.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Khoa Xã hội và nhân văn, lãnh đạo Trường
Đại học Phú Xuân (Huế), lãnh đạo Viện Văn học, lãnh đạo Khoa Văn học, Học viện
Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam đã quan tâm, tạo mọi
điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án.

4. Đóng góp của luận án ..........................................................................................8
5. Cấu trúc của luận án ............................................................................................8
NỘI DUNG ................................................................................................................9
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .......................................9
1.1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng lí thuyết tự sự học .....................................9
1.1.1. Khái lược diễn trình và thành tựu nghiên cứu tự sự học trên thế giới .......9
1.1.2. Quá trình vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu văn học Việt Nam ...11
2.2. Những công trình nghiên cứu về thể tài tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam sau năm 1986 ...................................................................................15
2.2.1. Những công trình nghiên cứu về đặc trưng thể tài tiểu thuyết lịch sử ....15
2.2.2. Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986....16
2.2.3. Những công trình vận dụng lí thuyết tự sự học nghiên cứu tiểu thuyết
lịch sử Việt Nam sau 1986 .................................................................................22
Chƣơng 2: NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ TRONG TIỂU
THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU NĂM 1986 ..............................................24
2.1. Sự độc đáo của người kể chuyện trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau
năm 1986 ...............................................................................................................24


2.1.1. Một vài giới thuyết về người kể chuyện và các loại hình người kể chuyện
trong văn xuôi tự sự ...........................................................................................24
2.1.2. Đổi mới hình thức kể chuyện từ ngôi thứ ba ...........................................27
2.1.3. Thể nghiệm hình thức kể chuyện từ ngôi thứ nhất ..................................39
2.2. Sự đa dạng hóa điểm nhìn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau
năm 1986 ...............................................................................................................49
2.2.1. Một số vấn đề về điểm nhìn và các loại hình điểm nhìn trong văn xuôi tự sự ....49
2.2.2. Điểm nhìn phức hợp của hình thức tự sự từ ngôi thứ ba .........................50
2.2.3. Điểm nhìn đơn tuyến và đa tuyến của hình thức tự sự từ ngôi thứ nhất .59
Chƣơng 3: NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC THỜI GIAN VÀ KẾT CẤU TỰ SỰ
TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU NĂM 1986 ....................66

TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM SAU NĂM 1986 ĐƢỢC
KHẢO SÁT TRONG ĐỀ TÀI
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

NKC :

Người kể chuyện

TSH :

Tự sự học

TTLS:

Tiểu thuyết lịch sử


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Tự sự học - một khuynh hƣớng nghiên cứu giàu tiềm năng
So với nhiều lí thuyết văn học khác, tự sự học (Narratologie) là một ngành
nghiên cứu còn khá non trẻ. Mặc dù khái niệm tự sự đã tồn tại rất lâu trong đời sống
tinh thần nhân loại, song tự sự học xuất hiện như một phân môn nghiên cứu khoa
học thì chính thức hình thành ở Pháp vào những năm 60 - 70 của thế kỉ XX. Lần
đầu tiên khái niệm Narratologie được nhắc đến trong công trình Grammaire du

tươi mới.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng đặt bên cạnh “gia sản” tự
sự học khổng lồ của thế giới, việc nghiên cứu của chúng ta quá hạn hẹp, ít ỏi và có
một “độ chênh” khá lớn. Còn quá ít công trình đi sâu vào lí thuyết, ít có công trình
dịch thuật hoặc trình bày có hệ thống và cặn kẽ các tư tưởng tự sự học nước ngoài
để giới nghiên cứu và những người quan tâm có thể tham khảo. Bên cạnh sự đa
dạng, sinh động người ta đã bắt đầu nhận ra sự đa tạp, nghèo nàn của bức tranh tự
sự học ở Việt Nam. Sau một thời gian bị cuốn theo “cơn địa chấn tự sự học”, một số
nhà nghiên cứu đã kịp dừng lại, nghiêm túc nhìn nhận, phân tích nhằm mở ra lối đi
vừa kế thừa những thành tựu thế giới vừa sáng tạo phù hợp với thực tiễn, nhu cầu
đổi mới, phát triển văn học nước nhà.
Vận dụng lí thuyết tự sự để tìm hiểu các hiện tượng văn học Việt Nam, do đó đòi
hỏi phải có sự lựa chọn thích đáng, đi sâu vào các vấn đề cốt lõi nhất của một ngành
nghiên cứu đặc thù. Quan trọng hơn là nắm được quy luật vận động, phát triển nội tại
cũng như nhu cầu, thực tiễn của văn học nước nhà để tránh trường hợp “đẽo chân vừa
giày”. Có như vậy mới có thể phát huy tiềm năng của lí thuyết đồng thời góp phần
kiến tạo nên “lối/kiểu tự sự học Việt Nam”. Nghĩa là vừa hội nhập xu thế phát triển
trên thế giới vừa trở về cội nguồn truyền thống, sử dụng kinh nghiệm Việt Nam, dung
hợp tri thức quốc tế, tạo ra một lí luận mang dấu ấn dân tộc.
Xuất phát từ nhận thức này, luận án tập trung vận dụng những phương diện căn
bản và quan trọng của nghệ thuật tự sự như người kể chuyện, điểm nhìn tự sự, thời
gian tự sự, kết cấu tự sự, diễn ngôn tự sự và các chiến lược tự sự... vào khám phá đổi
mới tư duy thể loại, phương thức tự sự của một trong những thể tài văn học nổi bật
nhất sau Đổi mới - tiểu thuyết lịch sử. Dưới giác độ lí thuyết tự sự học, những đặc
trưng của thể loại lần lượt được soi chiếu, qua đó nhiều vấn đề lí luận được giải mã
một cách khoa học, thuyết phục, đem lại nhiều phát hiện thú vị cho người nghiên cứu
cũng như những ai quan tâm đến văn học viết về đề tài lịch sử Việt Nam.
1.2. Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 - đổi mới và thành tựu
Tiểu thuyết lịch sử đã xuất hiện từ lâu trong văn học Việt Nam. Cùng những
thăng trầm, biến động của dân tộc, thể tài này đã dần khẳng định được sứ mệnh cao

phân tích, giả định gắn với chiêm nghiệm, luận giải lịch sử từ góc độ cá nhân. Nhiều
tác phẩm tiêu biểu nằm trong dòng chảy này không chỉ mở rộng đề tài, chủ đề theo
hướng tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt, đời tư thế sự, đời sống
văn hoá, tâm linh, mà quan niệm của các nhà văn trên một số vấn đề về thể loại và
về lịch sử cũng mang màu sắc thẩm mĩ mới. Một số tiểu thuyết gia đề xuất cách
nhìn mới về lịch sử, mở rộng cái nhìn đối với nhiều thời đại trong quá khứ, truy tìm,

3


suy ngẫm và giải mã những vấn đề từ/của lịch sử, ráo riết tìm lời giải đáp cho các
câu hỏi thiết thực của hiện tại và tương lai.
Cho đến nay, nhiều tác phẩm không chỉ mang lại giải thưởng văn học thường
niên cho nhà văn mà còn trở thành món ăn tinh thần độc đáo, thu hút sự quan tâm,
bàn luận của độc giả. Tiểu thuyết lịch sử đã trở thành thể tài để lại nhiều dấu ấn và
thành tựu trong đời sống văn học đương đại. Nó nhanh chóng chiếm vị trí quan
trọng bằng những tác phẩm đặc sắc, khuấy động dư luận bằng những cuộc tọa đàm,
hội thảo quy mô. Có thể nói rằng, tiểu thuyết lịch sử đang lên ngôi trên văn đàn Việt
Nam đương đại.
Thế nhưng trong lĩnh vực lí luận, chúng ta vẫn chưa quan tâm thỏa đáng đến
mảng sáng tác đặc sắc/đặc thù này. Các công trình chuyên khảo mang tính lí luận về
tiểu thuyết nói chung và thể tài tiểu thuyết lịch sử nói riêng còn khá thưa thớt. Gần
đây, chúng ta mới có một số bài viết về tiểu thuyết lịch sử công bố trên các báo, tạp
chí, cũng như xuất hiện thêm nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo có quy mô quốc gia về
mảng đề tài này, hoặc một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ tại các trường đại học
và các viện nghiên cứu. Song nhìn chung, trong bối cảnh đời sống văn học đương
đại, khi mà tiểu thuyết lịch sử đang được dư luận đặc biệt dõi theo và giới sáng tác
nhiệt tình hưởng ứng thì giới lí luận, nghiên cứu gần như chưa bắt kịp với sự hồi
sinh mạnh mẽ này. Cùng với thành tựu nổi bật trên nhiều phương diện được giới
nghiên cứu và độc giả ghi nhận, vẫn còn đó những tác phẩm và vấn đề lí luận sáng

hàm của một số thuật ngữ vẫn đang được bổ sung, hoàn thiện. Vận dụng lí thuyết
phương Tây nói chung, lí thuyết tự sự học nói riêng vào hiện tượng cụ thể của văn học
Việt Nam còn một “độ chênh” khá lớn. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng
tìm kiếm những “hạt nhân hợp lí” vừa đảm bảo giữ được bản chất, nội dung của lí
thuyết đồng thời tương thích, phù hợp với nhu cầu, thực tiễn của văn học Việt Nam.
Trong bức tranh đa nguyên, phức tạp của lí thuyết tự sự học, chúng tôi lựa chọn hệ
thống lí thuyết của các nhà tự sự học Pháp, Anh, Mĩ, Nga… Sau khi phân tích các quan
niệm đa dạng của các nhà tự sự học, chúng tôi dựa trên những nét tương đồng cơ bản
và tương đổi ổn định trong quan niệm của họ về các bình diện của nghệ thuật tự sự để
tiến hành luận giải những vấn đề nổi bật, đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
sau năm 1986. Trong đó, chúng tôi tập trung vào các phạm trù cơ bản như: người kể
chuyện, điểm nhìn tự sự, thời gian tự sự, kết cấu tự sự, diễn ngôn tự sự và các chiến
lược tự sự. Ở từng phương diện, chúng tôi nhận thấy vừa có những đặc điểm lặp lại ở
nhiều tác phẩm, thể hiện tiến trình phát triển chung của thể loại, vừa có sự tìm tòi độc
đáo, biểu hiện nỗ lực làm mới, làm khác của mỗi nhà văn. Tựu trung lại, tất cả minh
chứng cho sự vận động, đổi mới trong tư duy, phương thức tự sự lịch sử, đem lại dấu
ấn, thành tựu cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 so với giai đoạn trước.

5


Trên cơ sở lí thuyết, chúng tôi xác định các vấn đề và câu hỏi cần giải quyết trong
luận án như sau:
Một là, đặc trưng thể tài tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau
năm 1986 trên các bình diện: sự khác nhau trong nhiệm vụ của nhà viết sử và nhà viết
tiểu thuyết lịch sử, mối quan hệ giữa sự khách quan, chân xác của lịch sử và vai trò của
hư cấu nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử và nhiệm vụ soi sáng đời sống thực tại, sự đồng
cảm của nhà văn với các nhân vật lịch sử và thời đại lịch sử, các kiểu tiểu thuyết lịch sử
trong kinh nghiệm sáng tác của nhà văn, đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử hiện đại?
Hai là, vận dụng lí thuyết tự sự học nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau

luận chứng xác đáng, sinh động, cụ thể cho các luận điểm.
2.2.6. Phương pháp liên ngành: Vận dụng kiến thức của các ngành khoa học xã
hội khác như: lịch sử, triết học, văn hóa, chính trị, tâm lý... để góp phần làm rõ một
phương diện nào đấy của các thời đại lịch sử với đầy đủ các biến cố và sự kiện lớn
lao cùng những con người đã đi vào lịch sử dân tộc.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận án khảo sát toàn diện các tiểu thuyết lịch sử xuất bản ở Việt Nam sau năm
1986. Trong đó, vấn đề nghiên cứu của luận án là các bình diện tự sự của tiểu thuyết
lịch sử Việt Nam đương đại, tức dùng lí thuyết tự sự học để khảo sát, đánh giá
những thành công và hạn chế của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn Đổi mới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khối lượng tác phẩm tiểu thuyết lịch sử ở Viêt Nam sau 1986 là khá lớn, với
hơn một trăm cuốn (xem thêm Danh mục tiểu thuyết lịch sử sau năm 1986). Vì vậy,
để thuận lợi cho việc nghiên cứu, đánh giá, chúng tôi chỉ lựa chọn những tác phẩm
tiêu biểu cho mỗi khuynh hướng sáng tác về đề tài lịch sử. Những tác phẩm này một
mặt thể hiện được diện mạo của tiểu thuyết lịch sử sau năm 1986 và mang một số
đặc trưng nổi bật cho từng khuynh hướng, mặt khác là những tác phẩm tiêu biểu
cho hiệu quả tự sự của văn học đương đại ở Việt Nam.
Ngoài ra, trong sự mở rộng so sánh, đối chiếu để tìm ra yếu tố tương đồng và
khác biệt, sự kế thừa và cách tân, khẳng định và đối thoại, chúng tôi còn nghiên cứu
tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước năm 1986, truyện ngắn về đề tài lịch sử Việt
Nam sau năm 1986 (xem thêm Danh mục tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước năm
1986 và Danh mục truyện ngắn về đề tài lịch sử Việt Nam sau năm 1986), tiểu
thuyết viết về lịch sử Việt Nam của tác giả nước ngoài (Vạn Xuân, Lãn Ông Yveline Feray) và một số tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu của Pháp, Nga, Trung Quốc…
Lý thuyết tự sự hiện đại quan tâm nhiều bình diện. Trong luận án, chúng tôi tập
trung khảo sát, phân tích một số bình diện chính: người kể chuyện, điểm nhìn tự sự,
thời gian, kết cấu tự sự, diễn ngôn tự sự và các chiến lược tự sự nổi bật, độc đáo.

7

Chƣơng 4. Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986

8


NỘI DUNG
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng lí thuyết tự sự học
1.1.1. Khái lƣợc diễn trình và thành tựu nghiên cứu tự sự học trên thế giới
Tự sự học (TSH) đã xuất hiện từ lâu ở phương Tây. Nó vốn thực chất là một
nhánh của thi pháp học cấu trúc. Đặt nền móng cho cơ sở ban đầu của lí thuyết này
là trường phái hình thức Nga với một số tên tuổi tiêu biểu như V.Shklovski (1893 1984), B.Eikhenbaum (1886 - 1959), B.Tomachevski (1890 - 1957)… Trong công
trình của các nhà hình thức chủ nghĩa, mặc dù không có chủ đích tìm hiểu riêng về
nghệ thuật tự sự với hệ thống thuật ngữ công cụ như sau này, song trong khi chú ý
đến các “thủ pháp”, họ đã bước đầu đề cập đến nhiều phương diện cơ bản của lí
thuyết TSH như kết cấu văn bản tự sự, truyện kể và cốt truyện, thời gian của truyện
kể và thời gian của kể chuyện, thời gian “giả”...
Nếu chủ nghĩa hình thức Nga đặt những viên gạch đầu tiên cho lí thuyết TSH
thì chủ nghĩa cấu trúc đã góp phần hình thành bộ môn TSH với nhiều nhà TSH xuất
sắc (vốn xuất thân từ chủ nghĩa cấu trúc). TSH ra đời khi chủ nghĩa cấu trúc phát
triển ở đỉnh cao. Nhà nghiên cứu gọi đấy là thời kì giải cấu trúc hay hậu cấu trúc.
Các nhà cấu trúc thuộc trường phái Cấu trúc - kí hiệu học Paris tiêu biểu như
R.Barthes, G.Genette, Tz.Todorov, A.J.Greimas, C.Bremond… còn được gọi là
những nhà cấu trúc mới, bởi họ nghiên cứu cấu trúc tự sự của văn bản. Các tác giả
lập nên một chuyên ngành riêng gọi là TSH cấu trúc. Hệ hình lí thuyết này đã thừa
kế những thành tựu lí luận của chủ nghĩa cấu trúc và phát triển lên thành hệ thống lí
thuyết nghiên cứu độc lập, riêng biệt.
Đến khi chủ nghĩa giải cấu trúc ra đời, TSH bắt đầu có những chuyển động
trong hệ hình lí thuyết, đối tượng, phương pháp nghiên cứu. Từ đó, ngành học này

tố “X” có thể là chủ nghĩa nữ quyền hay nghiên cứu giới tính, nghiên cứu văn hóa
hay nghiên cứu hậu thực dân, nghiên cứu TSH tâm lí, TSH pháp luật, TSH lịch sử
(như H.White), TSH hậu hiện đại (như M.Coli), TSH tu từ (Phelan, Karl Kao)…
[132, tr.9-16]. Nếu trước đây, TSH cấu trúc chỉ chú ý đến chức năng, ngữ pháp
truyện, ngữ nghĩa truyện ở tầng sâu cấu trúc văn bản, thì nay các học giả đang chú ý
đến tu từ học TSH như là phương diện biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tự sự.
Ngoài những vấn đề cơ bản như điểm nhìn, người kể chuyện, thì kí hiệu tượng
trưng, khoảng cách trần thuật được đặc biệt quan tâm.
TSH là một khuynh hướng nghiên cứu “mở”, giàu tiềm năng. Ngành khoa học
này vận động không ngừng suốt hơn nửa thập kỉ vừa qua. Mặc dù còn tồn tại một số
bất đồng (và bất cập) ở các thế hệ nghiên cứu F2, F3, F4…, song cùng với các hệ

10


hình lí thuyết khác, TSH đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần quan trọng làm phong phú
diện mạo nghiên cứu văn chương nói riêng và các ngành khoa học xã hội nói chung.
1.1.2. Quá trình vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu văn học Việt Nam
Hệ thống lí luận về TSH xuất hiện trên thế giới vào khoảng những năm 60 của
thế kỷ XX nhưng ở Việt Nam mãi đến những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỷ XXI
mới được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức. Một trong những người đầu tiên
đưa TSH vào giới thiệu ở Việt Nam là Trần Đình Sử. Trong hai tiểu luận có tính
chất nghiên cứu dẫn nhập “Tự sự học - một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm
năng” (2001) và “Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển” (2008) được trình
bày ở Hội thảo về tự sự học, tác giả đã hệ thống, khái lược nhiều vấn đề liên quan
đến lí thuyết tự sự. Đặc biệt ở đó, nhà nghiên cứu nhấn mạnh cơ sở hình thành hệ
thống lí thuyết từ nền tảng của chủ nghĩa hình thức Nga cùng những thành tựu đột
phá trong ngôn ngữ học của F.de Saussure và lịch sử hình thành từ Platon, Aristote
đến Tz.Todorov, G.Genette...
Cùng với đó, một vài công trình lí thuyết TSH ở nước ngoài đã được dịch thuật

kết cấu ngôn ngữ truyện kể), A.J.Greimas (Luận về những thành tố tạo nên sự diễn
đạt truyện thần thoại), Tz.Todorov (Những phạm trù của truyện kể văn học),
G.Genette (Biên giới của truyện kể), Wayne C.Booth (Khoảng cách và điểm nhìn)…
Cũng nằm trong sự quan tâm ấy, Ban Văn học nước ngoài của Viện Văn học
đang thực hiện đề tài Tự sự học, lí luận và ứng dụng, tập trung nghiên cứu TSH từ
những vấn đề lịch sử, lí thuyết đến ứng dụng ở một số nền văn học như Trung
Quốc, Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và chủ yếu là Việt Nam. Những kết
quả nghiên cứu đầu tiên đã được chọn lựa, giới thiệu trên Tạp chí Nghiên cứu Văn
học số 9/2010 với chuyên đề Tự sự học.
Nghiên cứu chuyên sâu về các phương diện trần thuật học, Lê Phong Tuyết đã
giới thiệu G.Genette cùng lí thuyết của ông một cách hệ thống. Với hai bài viết
“Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần thuật”, “Người kể chuyện trong văn
xuôi”, tác giả đã tập trung làm rõ một số vấn đề liên quan đến lí thuyết TSH vốn
còn khá mới mẻ với giới nghiên cứu Việt Nam: những tình huống trần thuật, người
nghe chuyện, người kể chuyện, điểm nhìn tự sự...
Cũng quan tâm đến phương diện người kể chuyện, Cao Kim Lan với tiểu luận
“Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả” đã chỉ ra sự thống nhất chứ không
đồng nhất của hai phạm trù quan trọng trong hệ thống lí thuyết TSH cùng với nhiều
vấn đề cốt yếu liên quan. Tiếp tục hướng nghiên cứu đó, trong tiểu luận “Tu từ học
tiểu thuyết - một phương pháp tiếp cận giàu tiềm năng”, tác giả đã giới thiệu một
khuynh hướng tiếp cận mới, khả dụng của TSH vào thực tiễn nghiên cứu tiểu thuyết
ở Việt Nam.

12


Trần Huyền Sâm là một trong những người có nhiều tâm huyết trong việc đưa
bộ môn TSH vào giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam. Bên cạnh công trình biên
soạn, giới thiệu về lí thuyết TSH kinh điển mà chúng tôi giới thiệu trên đây, Trần
Huyền Sâm còn có một số bài nghiên cứu, giới thiệu, tổng thuật về lí thuyết TSH.



công phu của Đặng Anh Đào, Đào Thị Thu Hằng, Phùng Văn Tửu, Lộc Phương
Thủy, Mai Hải Oanh... về nhiều hiện tượng văn học nổi bật ở Việt Nam và thế giới.
Biên soạn và nêu ra một cách hệ thống các yếu tố cơ bản của TSH dưới hình
thức từ điển thuật ngữ có công trình Các khái niệm và thuật ngữ của các trường
phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kì thế kỉ 20 của nhóm những nhà nghiên
cứu Nga do I.P.Ilin và E.Atzurganova chủ biên (dịch giả: Đào Tuấn Ảnh, Trần
Hồng Vân, Lại Nguyên Ân). Công trình đã giới thuyết nhiều thuật ngữ trọng yếu về
trần thuật học (trần thuật học, các cấp độ trần thuật, các bậc trần thuật, người trần
thuật, người nghe chuyện, tiêu cự hóa, các kiểu trần thuật của vai, của tác giả, trung
tính) giúp người nghiên cứu trang bị một hệ thống thuật ngữ công cụ hữu hiệu trong
quá trình nghiên cứu văn bản truyện kể.
Trong Lời giới thiệu công trình Discourse (Diễn ngôn), Sara Mills đã tổng thuật
định nghĩa và quan điểm nghiên cứu diễn ngôn của nhiều nhà lí luận, lịch sử phát
triển của thuật ngữ, đặc biệt là những tư tưởng cơ bản của Foucault về diễn ngôn…
Gần đây nhất (2013), Lã Nguyên đã biên dịch, giới thiệu “22 đoạn trích” luận bàn
về thuật ngữ “diễn ngôn” được rút ra từ công trình Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại:
phân tích đa ngành. Cuốn sách tập hợp công trình nghiên cứu của các học giả nổi
tiếng Bỉ, Hà Lan, Úc và Nga; nội dung tập trung vào hai bình diện chính: thứ
nhất: Lí thuyết diễn ngôn của các khuynh hướng, trường phái Âu, Mĩ và Nga; thứ
hai: Phân tích các loại diễn ngôn. Có thể coi đây là “tiểu cẩm nang” về diễn ngôn
cho những ai quan tâm đến phương diện lí thuyết quan trọng của TSH.
Nhìn chung ở Việt Nam, khuynh hướng nghiên cứu dưới góc độ TSH ngày
càng nhiều, trong đó không ít những tìm tòi, khám phá đáng chú ý. Với sự đột phá
trong tầng sâu cấu trúc truyện kể, nhiều hiện tượng văn học được soi rọi, kiến giải
sinh động, thuyết phục. Hệ hình lí thuyết này ngày càng thể hiện được ưu việt của
mình, góp phần đa dạng hóa các phương pháp tiếp cận đang cùng tồn tại trong đời
sống lí luận văn học nước nhà. Song những công trình khoa học dày dặn, hệ thống
vẫn còn hiếm hoi, mức độ minh họa, giản lược, đại khái khá nhiều. Trong khi đó,

liệu lịch sử, về vai trò hư cấu, sáng tạo từ các biến cố, sự kiện, nguyên tắc xây dựng
nhân vật lịch sử.
Bên cạnh đó, công trình Logic học về các thể loại văn học (Die Logik der
Dichtung) của Kate Hamburger và tiểu luận “Giá trị của tính tự sự trong việc tái
hiện hiện thực” (“The Value of Narrativity in the Representation of Reality”) của
Hayden White đã đưa ra những quan niệm khá mới mẻ về thể loại TTLS. Trong đó,
hai nhà nghiên cứu đã giải quyết được mối quan hệ giữa lịch sử và truyện kể, thời
hiện tại lịch sử và quá khứ sử thi, người viết sử và nhà văn lấy đề tài lịch sử, cứ liệu
lịch sử và cốt truyện, đặc biệt là quan niệm “lịch sử như là diễn ngôn”, “lịch sử - trò
chơi ngôn ngữ” trong TTLS…

15


Qua kinh nghiệm và thực tiễn sáng tác, một số tác giả đã trực tiếp bàn về đặc
trưng thể loại cũng như quan niệm sáng tạo về đề tài lịch sử, trong đó đáng chú ý là
quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp, Nam Dao, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo,
Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Trần Vũ, Bùi Anh Tấn… Nguyễn Huy
Thiệp, người đã “đại náo làng văn” bằng chùm truyện ngắn lấy chất liệu lịch sử thời
Quang Trung, Gia Long (Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết) đã đối thoại với ý kiến phê
phán ông “bôi nhọ anh hùng dân tộc”, “non yếu kiến thức lịch sử” như sau: “Người
ta không đánh nhau với các xác chết. Người ta chỉ tìm cách khai thác các xác chết
sao cho có ích cho thời hiện tại thôi”. Nguyễn Xuân Khánh khi bàn “Về nghệ thuật
viết tiểu thuyết” đã nhấn mạnh: “Lịch sử chỉ là cái cớ để tôi bám vào. Điều quan
trọng là người viết tiểu thuyết phải biết vận dụng tổng thể đời sống của mình vào
cuốn tiểu thuyết ấy. Người viết không hẳn đã dựng lại được lịch sử ngày xưa, điều
cốt yếu là thuyết phục được người đọc”. Hoàng Quốc Hải lại nhấn mạnh đến tính
chất “mượn xưa nói nay” của TTLS: “những vấn đề được phản ánh trong TTLS,
ngoài thông tin về lịch sử thì toàn bộ cái hồn của nó phải là những bài học soi sáng
cho đương đại”.

nghệ thuật viết về lịch sử, mối quan hệ giữa hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử,…
Trên thực tế nhiều vấn đề đã được tranh luận, đối thoại để đi đến thống nhất, nhưng
vẫn còn không ít vấn đề bỏ ngỏ với ý kiến trái chiều, đa dạng.
Cũng trong năm này, Viện Văn học và Nhà xuất bản Phụ nữ tổ chức tọa đàm về
tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. Thông qua các tham luận được tập hợp trong công
trình Lịch sử và văn hóa, cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh, một lần nữa các
tác giả đã thể hiện cái nhìn khách quan hơn về thành công cũng như hạn chế của
tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh nói riêng và TTLS Việt Nam đương đại nói chung.
Quan trọng hơn, tọa đàm đã mở ra nhiều cách hiểu mới về diễn ngôn lịch sử và
khẳng định những chuyển động của tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới.
Bên cạnh các cuộc tọa đàm, hội thảo quy mô, bức tranh nghiên cứu về thể loại
văn học lịch sử Việt Nam còn được tô điểm bằng nhiều bài viết sinh động. Với cái
nhìn tổng thể về diện mạo TTLS trong nền văn học Việt Nam đương đại, và xét
theo góc độ mục đích và quan niệm nghệ thuật của nhà văn, Nguyễn Văn Dân đã
phác họa ba xu hướng cơ bản trong TTLS Việt Nam: TTLS chương hồi khách
quan, TTLS giáo huấn và TTLS luận giải. Cũng trong nghiên cứu này, tác giả bàn
đến vấn đề quan trọng về đặc trưng thể tài TTLS đang gây ra những tranh luận trái
chiều, đó là tính chất hư cấu, tưởng tượng của TTLS.
Phan Trọng Thưởng trong bài viết “Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi và một số
vấn đề lí luận sáng tác về đề tài lịch sử” nhấn mạnh đến các phương diện quan
trọng của thể loại văn học lịch sử nói chung và kịch lịch sử nói riêng như: mối
quan hệ giữa sự kiện lịch sử với hư cấu nghệ thuật, vấn đề nguyên tắc sáng tạo

17


nghệ thuật về đề tài lịch sử… Mặc dù bàn về kịch song vấn đề mà nhà nghiên cứu
đưa ra có giá trị và ý nghĩa cả với thể loại TTLS.
Gần đây, trong bài viết “Cần đổi mới suy nghĩ về lịch sử và tiểu thuyết lịch
sử”, Trần Đình Sử nhận thấy hiện nay trên thế giới đang định hình quan niệm mới

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status