Tái Cơ Cấu Ngành Nông Nghiệp Thành Phố Hải Phòng Theo Hướng Nâng Cao Giá Trị Gia Tăng Và Phát Triển Bền Vững Đến Năm 2020, Định Hướng Đến Năm 2030 - Pdf 41

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ ÁN
TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THEO HƯỚNG NÂNG CAO
GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Đơn vị tư vấn
TRUNG TÂM QH&PTNT II
GIÁM ĐỐC

Trần Anh Hùng


Hải Phòng-Năm 2016

2


MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU
NGÀNH NÔNG NGHIỆP

1. Sự cần thiết của đề án
Thực hiện Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và
PTNT có Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 yêu cầu, hướng dẫn
các địa phương những nội dung, giải pháp cơ bản trong việc thực hiện tái cơ cấu
ngành nông nghiệp; UBND thành phố Hải Phòng có Quyết định số 1658/QĐUBND ngày 31/7/2014 về phê duyệt đề cương, kinh phí lập Đề án tái cơ cấu ngành
nông nghiệp thành phố Hải Phòng; Nghị quyết số 12-NQ/ĐH ngày 24/10/2015 Đại

quyết liệt của cả hệ thống chính trị và hỗ trợ của ngành công nghiệp, dịch vụ.
Vì vậy, Đề án “Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp thành phố Hải Phòng theo
hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030” đã được xây dựng.
2. Cơ sở pháp lý của đề án
- Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị về Xây dựng
và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước;
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về Quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) thành
phố Hải Phòng;
- Kết luận số 72-KL/TW ngày 10/10/2013 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện Nghị quyết sô 32-NQ/TW ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị khóa
IX “Về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước”;
- Kết luận số 97-KL/TW ngày 15/5/2014 của Bộ Chính trị về một số chủ
trương, giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn.
- Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 về chính sách khuyến
khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
- Quyết định số 271/2006/QĐ-TTg ngày 27/11/2006 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
thành phố Hải Phòng đến năm 2020;
- Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến

PTNT phê duyệt Đề án phát triển ngành Trồng trọt đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030;
- Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/06/2013 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT ban hành Chương trình hành động thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành
nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” theo
Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ;
- Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp;
- Quyết định số 2760/QĐ-BNN-TCTS ngày 22/11/2013 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Thủy sản theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định số 794/QĐ-BNN-TCTL ngày 21/4/2014 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Thủy lợi;
- Quyết định số 984/QĐ-BNN-CN ngày 09/5/2014 của Bộ Nông nghiệp và
PTNT phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Chăn nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia
tăng và phát triển bền vững;
- Quyết định số 1006/QĐ-BNN-TT, ngày 13/5/2014 của Bộ Nông nghiệp và
PTNT ban hành Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt năm 2014-2015
và giai đoạn 2016 – 2020;
5


- Quyết định số 710/QĐ-BNN-KTHT ngày 10/4/2014 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT về phê duyệt kế hoạch đổi mới phát triển các hình thức tổ chức kinh tế
hợp tác trong sản xuất nông nghiệp;
- Quyết định số 4930/QĐ-BNN-KTHT ngày 14/11/2014 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT về phê duyệt kế hoạch đổi mới tổ chức sản xuất phục vụ tái cơ
cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền
vững, gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2014 - 2020;
- Thông tư số 05/2013/TT-BKHĐT ngày 31/10/2013 của Bộ Kế hoạch và

phố về việc thông qua Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản thành phố Hải Phòng
giai đoạn 2016- 2025, định hướng đến năm 2030.
6


- Quyết định số 725/QĐ-UBND ngày 27/6/2007 của UBND thành phố về
việc phê duyệt Đề án rà soát điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển nông nghiệp,
nông thôn Hải Phòng đến năm 2020;
- Quyết định số 1342/QĐ-UBND ngày 10/8/2010 của UBND thành phố về
phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2012;
- Quyết định số 2048/QĐ-UBND ngày 29/11/2010 của UBND thành phố về
việc phê duyệt Chương trình triển khai thực hiện Mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010-2010, định hướng đến năm 2025;
- Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng
trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn
2013-2020;
- Quyết định số 1658/QĐ-UBND ngày 31/7/2014 của UBND thành phố về
phê duyệt Đề cương, kinh phí lập đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp thành phố
Hải Phòng theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
- Quyết định số 2851/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của Ủy ban nhân dân
thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt Chương trình bảo tồn và phát triển làng
nghề thành phố Hải Phòng đến năm 2020;
- Quyết định số 2914/QĐ-UBND ngày 24/12/1014 của Ủy ban nhân dân
thành phố về phê duyệt quy hoạch sử dụng đất trồng lúa thành phố Hải Phòng đến
năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;
- Kế hoạch số 3075/KH-UBND ngày 28/5/2012 của UBND thành phố về Hỗ
trợ nghề cho lao động nông thôn năm 2012.
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN


nông thôn.
2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu trên địa bàn các quận, huyện thuộc thành phố Hải
Phòng có hoạt động sản xuất nông nghiệp.
- Thời gian: Số liệu hiện trạng giai đoạn 2005-2014 (chia ra 2 giai đoạn
2005-2010 và 2010-2014), định hướng đến năm 2020, 2030.
- Quy mô: Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp, đề xuất các định
hướng chính trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, làm cơ sở cho việc triển khai các
chương trình, kế hoạch hành động của thành phố về phát triển nông nghiệp, nông
thôn.
- Đề án không nghiên cứu chi tiết việc cân đối hoặc phân bổ nguồn lực cho
phát triển nông nghiệp như các báo cáo quy hoạch về nông nghiệp, nông thôn đã
được xây dựng.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn: các cơ quan Trung ương (Tổng
cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và PTNT…) và các cơ quan thành phố Hải Phòng
(Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và PTNT, các sở, ban, ngành có liên quan…).
- Điều tra, khảo sát thực địa: Sử dụng các phiếu điều tra để thu thập dữ liệu
sơ cấp (từ lãnh đạo, cán bộ địa phương, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ
nhóm, hộ nông dân…) phục vụ phân tích, đánh giá thực trạng phát triển sản xuất,
về lợi thế so sánh, chi phí, lợi ích, tiềm năng lợi thế, hiệu quả kỹ thuật… của ngành
nông nghiệp. Điều tra mẫu một số mô hình phát triển sản xuất theo nhóm ngành
hàng.
3.2. Tham vấn chuyên gia, hội thảo, hội nghị
- Sử dụng phương pháp chuyên gia và hội thảo để lấy ý kiến về ý tưởng xây
dựng Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Hải Phòng.

8




Phần thứ nhất
TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1. Vị trí địa lý
Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm ở Vùng Đông bắc Đồng bằng sông
Hồng, có tọa độ địa lý từ 20o30’39” đến 21o01’15” vĩ độ Bắc và từ 106o23’39” đến
107o08’39” kinh độ Đông; có huyện đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, có
toạ độ từ 20o07’35” đến 20o08’35” vĩ độ Bắc và từ 107o42’20” đến 107o44’15”
kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía
Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ. Vị trí địa lý của Hải
Phòng có nhiều lợi thế cho việc khai thác các tiềm năng tự nhiên xây dựng thành
phố cảng hiện đại, trung tâm chính trị, kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ,
cực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế “2 hành lang, 1 vành đai” (hành
lang Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội
- Hải Phòng; vành đai ven biển).
2. Khí hậu, thuỷ văn, nguồn nước
Khí hậu gió mùa có nền nhiệt cao, độ ẩm lớn là điều kiện thuận lợi phát triển
ngành nông nghiệp đa dạng về trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản. Hải Phòng có nguồn
nước mặt khá dồi dào, trữ lượng khoảng 34 triệu m 3, lượng mưa khá lớn, trung
bình 1.747 mm/năm. Thành phố có nguồn nước ngầm và nước mặn phong phú, là
điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản và sản xuất các cây trồng hàng năm.
Kết hợp với đất đai, địa hình bằng phẳng, có điều kiện hình thành các vùng chuyên
canh rau, màu, vùng lúa chất lượng cao, các cánh đồng mẫu lớn, phát triển sản xuất
hàng hóa nhiều loại nông sản nhiệt đới.
3. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
3.1. Tài nguyên đất đai

sản ở các loại hình mặt nước ao hồ nhỏ, mặt nước lớn, bao gồm diện tích ao hồ nhỏ
là 6.700 ha, diện tích mặt nước lớn 2.300 ha; diện tích ruộng trũng có khả năng
chuyển đổi sang phát triển nuôi thủy sản nước ngọt khoảng 4.000 ha. Tổng sản
lượng cá nuôi ước 37.000 tấn; tôm nuôi trên 5.000 tấn; cua 460 tấn; nhuyễn thể các
loại 6.093 tấn; thủy sản khác 1.054 tấn…1
Hải phòng có nguồn nước mặt khá dồi dào, trữ lượng khoảng 34 triệu m 3.
Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/km 2; nguồn
nước ngầm có chất lượng khá tốt, phân bố ở núi Đèo Thuỷ Nguyên, khu vực Quán
Trữ, Kiến An và Cát Bà.
3.3. Tài nguyên rừng
Diện tích rừng của Hải Phòng không lớn nhưng đa dạng, có nhiều lợi thế
phát triển. Tổng diện tích đất lâm nghiệp thành phố 24.238,1 ha. Diện tích đất lâm
nghiệp có rừng 17.989,2 ha, chiếm 74,22%. Độ che phủ của rừng và cây xanh
trồng phân tán 20,7% (trong đó độ che phủ rừng 11,8%). Trữ lượng rừng 602.270
m3 gỗ (rừng phòng hộ 252.372 m 3, chiếm 42%; rừng đặc dụng 349.897 m 3, chiếm
58%)2.
Rừng tự nhiên 10.773 ha, phân bố tập trung trên quần đảo Cát Bà; rừng
trồng 7.216,2 ha. Lâm sản ngoài gỗ, gồm các loài cây có giá trị kinh tế cao làm
dược liệu, nguyên liệu sản xuất thủ công mỹ nghệ.
Vườn quốc gia Cát Bà có diện tích rừng đặc dụng 9.931,6. Ðây là nơi hội tụ
nhiều hệ sinh thái khác nhau, có hệ động thực vật đa dạng, được UNESCO chính
thức công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới (2004). Nhiều loài động, thực vật
quý, hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới đang có nguy cơ tuyệt
1

Số liệu năm 2014 - Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2020, định hướng
đến năm 2030
2
Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2014


36,24
50,79

Năm
2010
10,01
37,15
52,84

Năm
2011
9,70
36,92
53,38

Năm
2012
9,13
36,90
53,97

Năm
2013
8,53
36,83
54,64

Năm
2014
8,03

tiếp nhận 1.000 lượt khách/ngày; sân bay quân sự Kiến An, cách trung tâm quận
Kiến An 1 km.
2.2. Hệ thống cảng biển
Hải Phòng có vị trí chiến lược, là cửa ngõ ra biển kết nối với thế giới của cả
miền Bắc. Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp quốc gia, cùng với
Cảng Sài Gòn là một trong hai hệ thống cảng biển lớn nhất Việt Nam. Cảng Hải
Phòng nằm trên tuyến đường giao thông trên biển, kết nối Singapore với Hồng
Kông và các cảng của Đông Á và Đông Bắc Á.
Ngoài cảng biển, ở Hải Phòng còn có hơn 20 bến cảng khác với các chức
năng khác nhau, như vận tải chất hóa lỏng (xăng, dầu, khí đốt), bến cảng đóng tàu,
bến cho tàu vận tải đường sông nhỏ có trọng tải 1-2 tấn ("tàu chuột") như cảng
sông Vật Cách, cảng sông Sở Dầu.
2.3. Hệ thống thuỷ lợi
Có 24 tuyến đê với tổng chiều dài 416,9 km, 383 cống dưới đê, 87,3 km kè,
709 trạm bơm phục vụ sản xuất nông nghiệp, 3.823 tuyến kênh chìm dài 4.044 km;
702 tuyến kênh nổi cấp I dẫn nước sau trạm bơm dài 1.296 km và hàng nghìn
tuyến kênh, cống, đập nội đồng phục vụ nhu cầu tưới, tiêu nước cho sản xuất nông
nghiệp.
2.4. Hệ thống điện
Nguồn điện cung cấp cho thành phố được lấy từ lưới điện quốc gia qua các
trạm biến áp nguồn nút 220/110 KV (trạm Hải Phòng, Vật Cách và Đình Vũ).
Dung lượng chuyển tải của hệ thống lưới 110 KV của thành phố yếu do tiết diện
dây nhỏ. Hệ thống lưới trung áp phần lớn là lưới 6 KV đã sử dụng nhiều năm, khả
năng tải của lưới yếu, chất lượng điện áp cung cấp chưa đảm bảo.
2.5. Hệ thống chợ, siêu thị
Hệ thống chợ, siêu thị đáp ứng cơ bản nhu cầu mua sắm của các tầng lớp
dân cư. Thành phố có 154 chợ (6 chợ hạng 1; 14 chợ hạng 2; 122 chợ hạng 3 và 12
chợ tạm kinh doanh hoa quả); 22 siêu thị, trong đó có 3 siêu thị loại 1 (siêu thị
3



Hệ số ICOR là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư để tăng trưởng kinh tế. Là chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp phản ánh cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư thực hiện tăng thêm để tăng thêm 1 đồng tổng sản phẩm
trong nước(GDP).

14


Phần thứ hai
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP
THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN 2005 - 2014
I. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG GIAI ĐOẠN 2005-2014

1. Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp
- Tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu GDP ngành nông nghiệp
Giai đoạn 2005-2010, GDP ngành nông nghiệp tăng trung bình 4,43%/năm;
giai đoạn 2010-2014 tăng 2,65%/năm. Năm 2014, GDP ngành đạt 6.364,1 tỷ đồng
(giá so sánh năm 2010). Tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp đóng góp vào GDP của
thành phố giảm từ 13% (năm 2005) xuống 10% (năm 2010) và 8,03% năm 2014.
- Tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp
Giai đoạn 2005-2010, GTSX ngành nông nghiệp tăng trung bình
5,34%/năm; giai đoạn 2010-2014 tăng 3,18%/năm. So với các tỉnh trong vùng
Đồng bằng sông Hồng, tốc độ tăng trưởng GTSX Nông lâm thủy sản Hải Phòng
cao hơn so với một số tỉnh trong vùng như Thái Bình (3,74%), Hải Dương (2,7%),
Nam Định (4,94%).
Bảng 2.Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản
qua các năm
Ngành kinh tế


%

Năm 2005

Năm 2010

Năm 2014

4.354,70
3.323,10
2.091,30
1.159,50
72,3
33,6
998

12.018,50
9.031,10
4.891,20
3.919,00
220,9
49,1
2.938,30

18.196,50
12.024,00
5875
5531,4
617,6
49,1

2. Thực trạng phát triển các nhóm ngành trong cơ cấu ngành nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản
2.1. Ngành trồng trọt
2.1.1. Tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất
Giai đoạn 2005-2010, GTSX ngành trồng trọt tăng bình quân 1,9%/năm (từ
1.446,5 tỷ đồng năm 2005 lên 1.589,7 tỷ đồng năm 2010 theo giá cố định năm
1994); giai đoạn 2010-2014 tăng bình quân 0,37%/năm (từ 4.920,582 tỷ đồng năm
2010 lên 4.995,6 tỷ đồng năm 2014 theo giá so sánh năm 2010).
Tỷ trọng GTSX trồng trọt trong tổng GTSX nông nghiệp chuyển dịch theo
hướng giảm từ 62,93% (năm 2005) xuống 54,16% (năm 2010) và 48,86% (năm
2014).
Bảng 3.Giá trị sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nội ngành trồng trọt thành phố
Hải Phòng qua các năm
Chỉ tiêu
I. GTSX Trồng trọt (giá HH)
1. Cây hàng năm
Cây lương thực có hạt
Rau, đậu, hoa, cây cảnh
Cây công nghiệp hàng năm
2. Cây lâu năm
Cây ăn quả
Cây công nghiệp lâu năm
II. Cơ cấu
1. Cây hàng năm
Cây lương thực có hạt
Rau, đậu, hoa, cây cảnh
Cây công nghiệp hàng năm
2. Cây lâu năm
Cây ăn quả
Cây công nghiệp lâu năm

82,4
53,5
23,4
4,3
17,6

2010
4.920,6
4.301,7
2.489,6
1.470,1
273,3
573,7
531,5
11,2
100
87,4
50,6
29,9
5,6
11,7

2014
5.875,0
5.170,0
2.833,7
1.416,5
426,3
705,0
666,9

Cơ cấu nhóm cây ăn quả lâu năm chiếm 11,4%, giảm 1,7% so với năm
2005.
2.1.2. Kết quả sản xuất các cây trồng chủ lực
Diện tích đất nông nghiệp của thành phố có xu hướng giảm. Năm 2005, diện
tích đất nông nghiệp thành phố là 86.591,86 ha; năm 2010 là 83.754,05 ha; năm
2014 là 81.144 ha. Diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2005-2014 đã giảm
5.447,9 ha, tốc độ giảm bình quân 0,72%/năm. Diện tích đất trồng lúa cũng giảm
từ 48.568 ha năm 2005 xuống 46.057 ha năm 2010 và còn 45.212 ha năm 2014.
Đất trồng lúa giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng cho phát triển các ngành kinh
tế-xã hội; một phần do chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nội bộ ngành nông
nghiệp, từ diện tích đất lúa kém hiệu quả sang nuôi thủy trồng thủy sản, cây trồng
khác có hiệu quả cao hơn.
- Cây lúa: Năm 2014 diện tích gieo trồng lúa toàn thành phố đạt 77.118 ha,
giảm 3.743,3 ha so với năm 2010 (80.861,3 ha) và giảm 11.221 ha so với năm
2005 (88.339 ha), tốc độ giảm 1,50%/năm. Năng suất lúa tăng bình quân
2,13%/năm, năm 2005 đạt 52 tạ/ha; năm 2010 đạt 60,04 tạ/ha; năm 2014 đạt 62,85
tạ/ha. Sản lượng lúa năm 2005 đạt 495.333 tấn, năm 2010 đạt 485.491 tấn, năm
2014 đạt 484.716 tấn; giảm bình quân 0,24%/năm. Bình quân sản lượng lương
thực/người năm 2005 đạt 260,5 kg; năm 2010 đạt 268,6; năm 2014 đạt 252,3 kg,
bảo đảm an ninh lương thực thành phố. Cơ cấu giống lúa chất lượng tăng, từ
22,24% năm 2005 lên 34,79% năm 2010 và 47,96% năm 2014. Các huyện sản xuất
lúa trọng điểm: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy, An Lão và Thủy Nguyên.
Giai đoạn 2010-2014 đã xây dựng 198 vùng sản xuất lúa tập trung, diện tích
3.060 ha, ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật (giống mới, cơ giới hóa…) mang
lại hiệu quả kinh tế cao hơn 1,8 đến 3,5 lần so với trước khi chuyển đổi.
Sản xuất lúa của Hải Phòng có ưu thế về năng suất so với các tình thành
trong vùng. Năng suất lúa của thành phố cao hơn so với mức bình quân của Đồng
bằng sông Hồng (60,2 tạ/ha) và một số tỉnh thành lân cận như Hải Dương (59,3
tạ/ha), Nam Định (60.5 tạ/ha), Hưng Yên (62,1 tạ/ha) (chi tiết xem phụ lục 5)Theo
kết quả điều tra khảo sát, tỷ số DRC/SER5 của lúa vụ Đông Xuân thành phố Hải

năm 2014 đạt 324 nghìn tấn.
+ Cây khoai tây: Năm 2005, diện tích trồng cây khoai tây là 1.222 ha, năm
2010 là 1.128,6 ha, năm 2014 có diện tích 1.279,3 ha, chủ yếu ở 2 huyện Tiên
Lãng (tại các xã Cấp Tiến, Tiên Thanh, Khởi Nghĩa, Quyết Tiến…), huyện Vĩnh
Bảo (tại các xã Hùng Tiến, Việt Tiến, Vĩnh Long, Thắng Thủy); quy mô từ 30-50
ha/xã. Năng suất khoai tây năm 2005 đạt 150,2 tạ/ha; năm 2010 đạt 158,02 tạ/ha;
năm 2014 đạt 178,18 tạ/ha. Sản lượng khoai tây năm 2005 đạt 18.319 tấn, năm
2010 đạt 17.834 tấn, năm 2014 đạt 22.794,4 tấn.
+ Nhóm rau chất lượng: dưa chuột, ớt, dưa hấu, bí xanh, bí đỏ, bắp cải, hành
tỏi gieo trồng chủ yếu ở huyện Vĩnh Bảo (xã Dũng Tiến, Giang Biên, Việt Tiến,
Tân Liên); huyện An Dương (xã Hồng Phong, An Hòa, Đại Bản); huyện Tiên Lãng
(xã Vinh Quang, Tiên Hưng, Đông Hưng, Khởi Nghĩa, Tiên Thanh, Cấp Tiến,
Quang Phục, Toàn Thắng, Tiên Thắng, Đoàn Lập); huyện Kiến Thụy (xã Tú Sơn,
Đoàn Xá, Tân Phong, Đại Đồng, Thuận Thiên…). Diện tích tăng từ 2.602 ha năm
2005 lên 3.665,6 ha năm 2010 và đạt 4.050,4 ha năm 2014. Sản lượng năm 2005
đạt 53.423 tấn, năm 2010 đạt 83.793 tấn, năm 2014 đạt 93.831,4 tấn. Sản lượng rau
màu chủ yếu tiêu thụ tại chỗ chiếm 80%, xuất khẩu 5%, các tỉnh khác 15%.
Sản xuất rau đậu thực phẩm của Hải Phòng có ưu thế về năng suất so với các
tỉnh thành trong vùng. Năng suất rau đậu thực phẩm của thành phố cao hơn so với
mức bình quân chung của ĐBSH (156,2 tạ/ha) và một số tỉnh thành có sản xuất rau
an toàn khá phát triển và đã được khẳng định như Hà Nội (202,10 tạ/ha), Hưng
Yên (213,3 tạ/ha), Vĩnh Phúc (199,3 tạ/ha)...Có thể nói nhóm cây rau đậu thực
phẩm của Hải Phòng có lợi thế về tiềm năng phát triển và xu hướng tiêu dùng.
Theo kết quả điều tra khảo sát 2 loại cây: khoai tây và hành lá; tỷ số DRC/SER của
khoai tây là 0,5; hành lá 0,6; điều này cho thấy khoai tây và hành lá của Hải Phòng
có lợi thế cạnh tranh khá cao, là sản phẩm có hiệu quả kinh tế (xem phụ lục 13 và
14).
18



được kết quả. Diện tích đất dồn, đổi đạt 15.618 ha; diện tích đất chuyển đổi tạo
vùng sản xuất tập trung đến năm 2014 là 2.379,5 ha (sản xuất lúa 1.698,8 ha; rau,
màu 504,6 ha; vùng cây ăn quả 124,1 ha, vùng hoa 52 ha). Xây dựng được các mô
hình sản xuất tập trung, có hiệu quả cao. Đến năm 2014 đã xây dựng 46 mô hình
cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa, rau màu; diện tích 1.862,5 ha (20 - 30 ha/mô
hình). Các mô hình đã đạt được hiệu quả cao như mô hình ớt doanh thu 300 - 350
triệu đồng/ha; hoa, cây cảnh đạt trên 500 triệu đồng/ha; vùng chuyên canh rau chất
lượng cao đạt trên 200 triệu đồng/ha.

6

Theo số liệu thống kê nông lâm thủy sản năm 2014 của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, năng suất thuốc
lào của Nam Định là 10 tạ/ha; Ninh Bình 10 tạ/ha; Thanh Hóa 15 tạ/ha; Thanh Hóa 15 tạ/ha; đều thấp hơn so với
mức 16,7 tạ/ha của Hải Phòng

19


Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phương pháp canh tác đã đi vào sản
xuất và đạt được nhiều kết quả. Ứng dụng giống cây trồng ưu thế lai năng suất,
chất lượng cao; hàng năm sản xuất hàng trăm tấn giống lúa, 2 - 3 triệu cây giống
(cây ăn quả và hoa chất lượng cao). Ứng dụng tiến bộ thâm canh lúa cải tiến (SRI),
thực hiện chương trình ba giảm, ba tăng; sản xuất lúa theo hướng VietGAP. Sản
xuất và sử dụng giá thể trong trồng hoa, rau; ứng dụng tưới tiết kiệm (tưới nhỏ
giọt, tưới phun sương); màng che phủ cây trồng; sử dụng phân bón NPK, vi sinh,
hữu cơ sinh học…; thuốc trừ sâu sinh học. GTSX tính trên 1 ha đất canh tác (tính
theo giá hiện hành) năm 2005 là 36,51 triệu đồng/ha; năm 2010 là 84,59 triệu
đồng/ha; năm 2014 là 133,71 triệu đồng/ha.
Cơ giới hóa trong sản xuất được quan tâm, hỗ trợ đầu tư. Đến năm 2014 đã
hỗ trợ mua 159 máy nông nghiệp (hỗ trợ 50% giá): 58 máy làm đất trên 24 CV; 7

20


c) Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan
+ Hải Phòng chịu ảnh hưởng rất lớn của biến đổi khí hậu, nước biển dâng,
xâm thực mặn. Sản xuất trồng trọt bị ảnh hưởng lớn do thay đổi cực đoan về lượng
mưa, nhiệt độ và bão úng. Sâu bệnh hại diễn biến phức tạp, có nguy cơ tiểm ẩn
bùng phát dịch hại.
+ Về cơ chế chính sách: Việc giao đất cho các hộ gia đình theo Luật đất đai,
Nghị định 64 và Quyết định 03 (1993) của thành phố, chưa khuyến khích tích tụ,
tập trung ruộng đất, hiện nay đang là rào cản đối với phát triển sản xuất trồng trọt
theo hướng bền vững, chất lượng và hiệu quả; thiếu chính sách hỗ trợ phát triển
kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác. Đầu tư hỗ trợ chưa gắn với phát triển theo chuỗi
liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
+ Môi trường cạnh tranh gay gắt, thị trường diễn biến phức tạp. Các sản
phẩm trồng trọt của tỉnh thành trong cả nước, ngoài nước cạnh tranh, lấn át sản
phẩm trồng trọt của thành phố. Khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu, suy
thoái kinh tế làm giảm sức mua của thị trường.
+ Quá trình đô thị hoá, phát triển công nghiệp đã thu hút một lượng lớn lao
động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ làm
thiếu hụt lao động trong sản xuất trồng trọt, nhất là vào thời vụ sản xuất.
- Nguyên nhân chủ quan
+ Nhận thức của một số cán bộ, cấp uỷ, chính quyền về phát triển sản xuất
trồng trọt hàng hoá còn chưa đầy đủ nên chưa có sự quan tâm chỉ đạo đúng mức;
có chính sách thực hiện không triệt để do thiếu nguồn lực tài chính hoặc không
quyết liệt trong triển khai, đôn đốc kiểm tra thực hiện, như thực hiện quy hoạch
trong lĩnh vực trồng trọt còn chậm (quy hoạch sản xuất rau an toàn, quy hoạch đất
lúa...).
+ Nguồn lực đầu tư cho phát triển trồng trọt còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu

Cơ cấu
1. Gia súc
2. Gia cầm

3. Chăn nuôi khác

ĐVT
tr.đồng
tr.đồng
tr.đồng
tr.đồng

%
%
%
%

2005
1.159,45
774,75
218,5

2010
3.979,91
2.239,92
1.544,91

2014
5.531,39
2.877,44

kg/con (năm 2005) lên 61,53 kg/con (năm 2010) và 75,8 kg/con (năm 2014); năm
2014 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 74,8 nghìn tấn, lợn sữa 1,7 nghìn tấn.
Chăn nuôi lợn thịt của Hải Phòng có ưu thế về trọng lượng xuất chuồng
bình quân so với các tỉnh thành trong vùng. Trọng lượng xuất chuồng bình quân
thành phố cao hơn so với mức bình quân chung của ĐBSH (69,1 kg/con); các tỉnh
như Hà Nội (72,9 kg/con), Thái Bình (65,7 kg/con), Hải Dương (66,8 kg/con) 7.
Theo kết quả điều tra khảo sát, tỷ số DRC/SER của sản phẩm lợn thịt là 0,67; điều
này cho thấy sản phẩm lợn thịt của Hải Phòng có lợi thế cạnh tranh (xem phụ lục
22).
- Chăn nuôi gia cầm: Giai đoạn 2005-2014, quy mô đàn gia cầm tăng qua
các năm. Tổng đàn gia cầm tăng từ 4.591.200 con (năm 2005) lên 6.210.590 con
7

Số liệu năm 2014-Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp

22


(năm 2010) và đạt 7.388.930 con (năm 2014), tăng bình quân 5,43%/năm; trong đó
đàn gà chiếm khoảng 75% trong tổng đàn.
Trọng lượng xuất chuồng bình quân gia cầm của Hải Phòng ở mức cao so
với các tình thành lân cận và vùng ĐBSH, đặc biệt là chăn nuôi gà thịt. Theo số
liệu điều tra nông lâm thủy sản năm 2014-Viện Quy hoạch và Thiết kế nông
nghiệp, trọng lượng xuất chuồng bình quân gà thịt Hải Phòng đạt 2,2 kg/con, cao
hơn so với mức bình quân chung của ĐBSH (1,62 kg/con) và các tỉnh khác như Hà
Nội (1,9 kg/con), Hải Dương (1,8 kg/con), Thái Bình (1,8 kg/con), Hưng Yên (1,7
kg/con)...
- Chăn nuôi bò: Giai đoạn 2005-2010 tổng đàn tăng 4,43%/năm (từ 13.803
con năm 2005 lên 17.143 con năm 2010); giai đoạn 2010-2014 giảm bình quân
5,61%/năm (14.414 con năm 2014). Tuy nhiên sản lượng thịt bò giai đoạn 2005 2014 vẫn tăng 5,64%/năm (do trọng lượng xuất chuồng tăng). Chăn nuôi bò chủ

phát8.
2.2.4. Hình thức tổ chức sản xuất trong chăn nuôi
Chăn nuôi hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2005, tỷ lệ hộ gia đình trong
chăn nuôi lợn chiếm 95% tổng đàn, gia cầm 85,3% tổng đàn. Năm 2010 tỷ lệ
tương ứng là 84,4% và 66%. Đến năm 2014, tỷ lệ chăn nuôi hộ gia đình ở lợn và
gia cầm tuy có giảm nhưng vẫn còn ở mức cao: 74,95% ở đàn lợn và 61,38% ở đàn
gia cầm. Quy mô chăn nuôi hộ tăng từ dưới 10 con lợn (năm 2005) lên 30 - 100
con lợn thịt, 10 - 20 lợn nái (năm 2014); gia cầm tăng từ 50 con (năm 2005) lên
500 - 2.000 con (năm 2014).
Chăn nuôi trang trại: Năm 2005 có 233 trang trại, trong đó 133 trang trại lợn,
100 trang trại gia cầm. Năm 2010 tăng lên 712 trang trại, trong đó 355 trang trại
lợn, 357 trang trại gia cầm. Đến năm 2014 có 568 trang trại (sản lượng thịt chiếm
32,86% tổng sản lượng thịt hơi các loại), trong đó 140 trang trại chăn nuôi lợn
(chiếm 16,7% tổng đàn), 361 trang trại chăn nuôi gà (chiếm 31,61% tổng đàn). Số
trang trại chăn nuôi giảm do thay đổi tiêu chí trang trại (tiêu chí theo Thông tư Số
27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011).
Liên kết, hợp tác trong chăn nuôi: có 2 hợp tác xã, 5 tổ hợp tác, 80 nhóm tổ
đội sản xuất chăn nuôi. (Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành
phố Hải Phòng).
2.2.5. Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Chăn nuôi hộ gia đình là chủ yếu, sản phẩm chăn nuôi được tiêu thụ tại chỗ
thông qua các thương nhân, cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tại địa phương.
Các trang trại, gia trại chủ yếu chăn nuôi theo hình thức gia công, do vậy
tiêu thụ sản phẩm do các công ty (công ty CP, JAFA…) thực hiện.
Trên địa bàn thành phố đã có doanh nghiệp chăn nuôi với hình thức liên kết
tạo chuỗi giá trị trong sản xuất (như Công ty CP giống gia cầm Lượng Huệ, với sự
hỗ trợ của Nhà nước, nhà khoa học và nhà nông đã hình thành chuỗi sản xuất thực
phẩm khép kín từ khâu sản xuất giống, thức ăn đến giết mổ tập trung, chế biến
(đóng hộp) cung cấp sản phẩm cho siêu thị, cửa hàng). Doanh nghiệp sản xuất con
giống cho đơn vị và cung ứng cho các hộ chăn nuôi, hướng dẫn kỹ thuật và thu

cải cách thủ tục hành chính còn chậm, đặc biệt là thủ tục đất đai và tiếp cận nguồn
vốn; chưa tạo môi trường thuận lợi hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi chủ yếu phục vụ nhu cầu người dân
thành phố, sản phẩm chất lượng cao xuất khẩu còn hạn chế. Mối liên kết giữa tiêu
thụ sản phẩm với sản xuất, chế biến còn yếu; chưa thu hút được doanh nghiệp đầu
tư chế biến các sản phẩm chăn nuôi.
2.3. Ngành Thủy sản
2.3.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất
Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2010 đạt 7,93%/năm, khai thác thủy
sản 6,07%/năm, nuôi trồng và dịch vụ giống thủy sản 9,34%/năm; tăng trưởng bình
quân giai đoạn 2010-2014 đạt 5,96%/năm (giá so sánh 2010), khai thác thủy sản
3,51%, nuôi trồng và dịch vụ giống thủy sản 7,77%/năm. Tốc độ tăng trưởng
GTSX lĩnh vực khai thác có xu hướng giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, cụ
thể là 4,91%/năm (giai đoạn 2005-2010) và 5,91%/năm (giai đoạn 2010-2014).
Bảng 5.Giá trị sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nội ngành thủy sản thành phố
Hải Phòng qua các năm
Chỉ tiêu
GTSX Thủy sản (giá HH)
1. Khai thác
2. Nuôi trồng
3. Dịch vụ
Cơ cấu
1. Khai thác
2. Nuôi trồng
3. Dịch vụ

ĐVT
tỷ đồng
tỷ đồng
tỷ đồng

0,84

36,00
60,76
3,24

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status