TÌNH HÌNH mắc một số BỆNH sản KHOA TRÊN đàn lợn nái NUÔI tại TRẠI CHĂN NUÔI LƯƠNG sơn hòa BÌNH - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

CHU THỊ PHƯƠNG THẢO
Tên đề tài:
“ TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN
NÁI NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LƯƠNG SƠN - HÒA BÌNH
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2012 - 2017

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

CHU THỊ PHƯƠNG THẢO
Tên đề tài:
“ TÌNH HÌNH MẮC MỘT SỐ BỆNH SẢN KHOA TRÊN ĐÀN LỢN
NÁI NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LƯƠNG SƠN - HÒA BÌNH
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2016

Sinh viên

Chu Thị Phương Thảo


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang

MỤC LỤC........................................................................................................iv
Trang................................................................................................................iv
MỤC LỤC iii ii................................................................................................iv
Trang iii ii.........................................................................................................iv
MỤC LỤC iv....................................................................................................iv
Trang iv............................................................................................................iv


iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
ACTH


kg

: Kilogam

LH

: Lutein Stimulin Hormone

PGF2α

: Prostagladin

TT

: Thể trọng

ml

: Mililit

Nxb

: Nhà xuất bàn

STH

: Somato Tropin Hormone

STT

tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Nhiều giống gia súc, gia cầm được lai
tạo, du nhập vào sản xuất đã đem lại nhiều lợi nhuận. Chăn nuôi đã thực sự trở
thành nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình đồng thời đã thúc đẩy sự
phát triển của một số ngành công nghiệp liên quan như chế biến thực phẩm, sản
xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, công nghiệp thuộc da, lông vũ…
Chăn nuôi lợn là một trong những mũi nhọn của ngành chăn nuôi nước
ta, đóng một vị trí quan trọng và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Thịt lợn là
nguồn Protein động vật có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người, nó
không chỉ cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng nhu cầu
thực phẩm cho xã hội mà còn là nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi.
Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho trồng trọt
và thủy sản. Có thể nói ngành chăn nuôi lợn đã đóng góp một phần đáng kể
vào công tác xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội và thúc đẩy sự phát
triển kinh tế chung của đất nước.
Trong chăn nuôi lợn thì lợn nái có vai trò quan trọng làm tăng số lượng
cũng như chất lượng của đàn lợn. Tuy nhiên, lợn nái thường mắc một số bệnh
đường sinh sản như: viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó, bại liệt sau đẻ… gây thiệt
hại lớn do làm giảm năng suất sinh sản, mất khả năng sinh sản, chết thai, tiêu
thai, tỷ lệ thụ thai thấp và là nguồn kế phát các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
cho đàn lợn ở trại.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất, đồng thời để thấy rõ hơn về
tình hình nhiễm, triệu chứng của lợn nái mắc bệnh đường sinh sản góp phần
khống chế bệnh và làm giảm bớt thiệt hại về kinh tế, tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Tình hình mắc một số bệnh sản khoa trên đàn lợn nái nuôi tại trại
chăn nuôi Lương Sơn - Hòa Bình và biện pháp điều trị’’.


2

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển của trang trại
2.1.1.1. Quá trình thành lập
Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau - xã Hợp
Thanh - huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình. Là trại lợn gia công của Công ty
Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở
vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán
bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ, cán bộ kỹ
thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi
hoạt động của trang trại.
2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm
+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại, 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản
chung của trại.
+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư, 1 kỹ thuật điện, 1 kế toán.
+ Nhóm công nhân: 10 công nhân, 6 sinh viên thực tập.
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau
như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu. Có bảng chấm công riêng cho từng công
nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các
thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát
triển của trang trại.
2.1.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại nằm trên địa bàn xã chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao
thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển.
Để đảm bảo công tác chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân trại được
trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:


4


đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu


5

nước sát trùng. Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý,
thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn cho các dãy chuồng.
Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi trại có xây dựng 5 phòng tắm sát
trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1
kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản
vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho
xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài
chuồng nuôi.
2.1.1.4. Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật. Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45
- 2,47 lứa/năm. Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa là 10,7
con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày
thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các Trại chăn nuôi lợn giống của Công
ty. Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì Trại hoạt động vào
mức khá.
Trong trại có 24 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các
lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái
và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn
Pietrain và Duroc. Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng
như con đực.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao,
được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại.

hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn. Vì vậy, không gây thiệt hại
lớn về số lượng đàn gia súc.
2.1.2. Đánh giá chung
2.1.2.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn
của các ngành, các cấp có liên quan như UBND xã Hợp Thanh, Trạm thú y
huyện Lương Sơn tạo điều kiện cho sự phát triển của trại.
Được Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống,
thức ăn, thuốc thú y có chất lượng tốt.
Chuồng trại được trang thiết bị hiện đại, điện lưới và hệ thống nước
sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi.


7

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Kèm theo đó là đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, công nhân
nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Do đó
đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
2.1.2.2. Khó khăn
Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu, do đó ảnh hưởng đến tiến độ
công việc.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu chưa đáp ứng được
nhu cầu sản xuất.
Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp kèm theo dịch
bệnh xảy ra khó kiểm soát gây khó khăn cho chăn nuôi. Do đó đòi hỏi công
tác phòng chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn tại Trại cần
phải được đẩy mạnh.
2.2. Cơ sở khoa học của đề tài

Trong buồng trứng chia làm hai miền. Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều
mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm
bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ trứng. Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với
chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng
chín và rụng. Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai
đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối
đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trường, khi noãn bao
chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Khuất Văn Dũng, 2005) [7].
- Ống dẫn trứng (Oviductus)
Còn gọi là vòi Fallop, được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là
một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng. Căn cứ vào
chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn:
+ Tua diềm: Có hình răng cưa giống như tua diềm ôm xung quanh
cuống buồng trứng.
+ Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng.
+ Phồng ống dẫn trứng: là phần tiếp nối sau phần phễu. Phần này còn
được gọi là đoạn ống giãn rộng xa tâm.
+ Eo: Là doạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với sừng tử cung.
Chức năng của ống dẫn trứng: là nơi để tế bào sinh dục đực (tinh trùng)
và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả năng co bóp


9

dưới ảnh hưởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng thuận lợi hơn
trong việc thụ tinh (Đặng Quang Nam, 2002) [14].
- Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và
niệu đạo, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu. Tử cung được giữ lại tại
chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng.

Ngoài ra, âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là
ống thải các chất dịch từ trong tử cung.
* Bộ phận sinh dục bên ngoài
- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm:
+ Màng trinh: là một nếp gấp gồm hai lá, phía trước thông với âm đạo,
phía sau thông với âm hộ. Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai
lá niêm mạc gấp lại thành một nếp.
+ Lỗ niệu đạo: ở sau và dưới màng trinh.
+ Hành tiền đình: là hai tạng cương ở hai bên lỗ niệu đạo. Cấu tạo
giống thể hổng ở bao dương vật của con đực.
Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng
quay về âm vật.
- Âm vật (Clitoris)
Âm vật nằm ở góc phía dưới mép của âm môn, có cấu tạo giống như
dương vật con đực nhưng thu nhỏ lại. Âm vật cũng có các thể hổng như
dương vật con đực, phần trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (Praepatium
clitoridis), giữ âm vật bẻ gấp xuống dưới.
Âm vật được phủ bởi một lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh
cảm giác, do đó trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh
viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để cổ tử
cung co thắt và con vật trở lại trạng thái bình thường.
- Âm môn (Vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó
bởi vùng hồi âm. Bên ngoài có hai môi (Labia pudendi), hai môi được nối với
nhau bởi hai mép (Rima vulva).
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết chất
nhờn và tuyến mồ hôi.



Trần Văn Phùng và cs. (2004) [18] cho biết: Tuỳ theo giống, điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau. Lợn Ỉ,
Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi),
các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi.


12

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [29]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái
ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65
-70kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55 kg.
Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ. Lợn nái hậu bị được sinh vào
mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa Xuân.
* Tuổi phối giống lần đầu
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc,
nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn
lên. Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs. (2003) [3] thì không nên cho phối giống
ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ,
chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn
chỉnh. Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua
1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống.
Đối với lợn nội (Ỉ, Móng Cái) thường phối giống lần đầu lúc 7 tháng
tuổi, khi lợn đạt khối lượng 45 - 50kg. Lợn lai phối giống lúc 8 tháng tuổi với
khối lượng 65 - 70kg, nái ngoại cho phối giống lúc 9 tháng tuổi, khối lượng
cơ thể đạt 80 - 90kg.
Thường cho phối giống vào lần động dục thứ 2 - 3 trở đi. Nếu phối
giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của lợn mẹ. Nhưng nếu
phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn.
* Tuổi đẻ lứa đầu

có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý. Bên ngoài âm hộ phù thũng,
niêm mạc xung huyết. Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật
biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu
giống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực. Giai đoạn này
tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ
dừng lại. Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính
không xuất hiện.
+ Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh
dục dần dần trở lại bình thường. Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần
mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn.
+ Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính
của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn. Thời kỳ này cơ quan sinh dục
không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong


14

buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái
sinh lý.
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ và các giai đoạn
của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng,
chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần
nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái.
- Thời điểm phối giống thích hợp
Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3
và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục. Đối với lợn nái nội, sớm
hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3.
Nguyễn Hữu Ninh và cs. (2002) [18] cho biết: Thời điểm phối giống ảnh
hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con. Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết
quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu.

2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái
2.2.2.1. Thiếu sót về dinh dưỡng
Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh
hưởng đến viêm tử cung.
Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, gây viêm tử cung
ngược lại thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm không
chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm tử cung.
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung. Thiếu vitamin A sẽ
gây sừng hóa niêm mạc, sót nhau.
Theo Nguyễn Quang Tính (2004) [28], sức đề kháng của cơ thể phụ
thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng. Dinh dưỡng cần đảm bảo đủ cả về
lượng và về chất.
2.2.2.2. Chăm sóc quản lý
- Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, tắm rửa giữ sạch sẽ thân thể lợn
nái, thụt rửa tử cung khi sinh, sử dụng nước sạch làm giảm tỷ lệ viêm tử cung.
- Viêm tử cung: Vi khuẩn từ môi trường xâm nhập vào cơ quan sinh
dục của lợn nái trong quá trình sinh đẻ (nhất là khi thời gian đẻ của lợn nái
kéo dài trên 4 giờ), hoặc do người dùng can thiệp trong quá trình đỡ đẻ gây
trầy xước bên trong đường sinh dục của lợn nái. Hiện tượng sót nhau hay sót
con nếu không can thiệp kịp thời cũng sẽ gây bệnh viêm tử cung gia súc.
- Viêm vú: Trong điều kiện chuồng trại, vệ sinh môi trường khu vực
chăn nuôi kém, vi khuẩn có thể xâm nhập trực tiếp qua ống dẫn sữa ở bầu vú,


16

hoặc theo đường máu từ các vết trầy, vết thương bị nhiễm trùng khác trên cơ
thể gia súc để gây viêm.
2.2.2.3. Tiểu khí hậu chuồng nuôi
- Nhiệt độ và độ ẩm môi trường chuồng nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến


Trong tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa
các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái, do lợn đực
nhảy trực tiếp mà niệu quản và dương vật bị viêm cũng là nguyên nhân dẫn
đến viêm tử cung của lợn nái.
+ Theo Lê Hồng Mận (2006) [12] thì khi lợn đẻ, cổ tử cung, mép âm hộ
bị rách, bị nhiễm trùng kế phát gây viêm. Chuồng đẻ nền bẩn, dây rốn lợn con
và nhau thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm tử cung.
+ Đoàn Thị Kim Dung và cs. (2002) [4] còn cho biết: nguyên nhân gây
viêm tử cung chủ yếu do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung
huyết (Staphylococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebsiella,
E.coli dung huyết, trùng roi (Trichomonas) và do nấm Candida albicans.
+ Còn Nguyễn Văn Thanh (2007) [20] khẳng định rằng việc dùng tay
móc thai khi lợn đang đẻ nhằm rút ngắn thời gian xổ thai của lợn mẹ là
nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm tử cung ở đàn nái nuôi theo mô hình
trang trại hiện nay.
* Triệu chứng: Bệnh xảy ra ở tất cả các giống lợn và ở các giai đoạn
khác nhau nhưng thường xảy ra ở giai đoạn sau khi sinh từ 1 - 10 ngày.
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [16], khi lợn nái bị viêm các chỉ tiêu
lâm sàng như thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng so với lợn nái bình thường.
Lợn bị sốt theo quy luật lên xuống. Sáng sốt nhẹ 39 - 39,5°C, chiều 40 - 41°C.
Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn
đái, từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có
máu trắng đục, hồng hay nâu đỏ. Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn.
Trong trường hợp thai chết lưu, âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu
vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối. Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết
niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại
khó khăn.
Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể: Viêm nội mạc tử cung
(thể nhẹ), viêm cơ tử cung (thể trung bình), viêm tương mạc tử cung (thể

Mùi

Tanh

Tanh thối

Thối khắm

Phản ứng đau

Đau nhẹ

Đau rõ hơn

Rất đau

Phản ứng

Phản ứng

Phản ứng

Phản ứng

co cơ tử cung

co giảm

co rất yếu


Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý
trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niê
mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các


19

chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào
thai phát triển không bình thường.
Theo Trần Thị Dân (2004) [3], Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [6], khi
lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới những hậu quả chính như: Sẩy thai, bào thai
phát triển kém hoặc thai chết lưu, giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng
của lợn con theo mẹ, ảnh hưởng đến khả năng động dục trở lại.
* Chẩn đoán viêm tử cung
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs. (2004) [10]: Dựa vào những triệu chứng
lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất
sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường, ở âm đạo sẽ thấy những
miếng nhau thai sót hoặc thai chết lưu, ở tử cung mùi hôi thối đặc biệt khi
kiểm tra qua trực tràng có thể cảm thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to,
thành tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co lại của sừng tử cung yếu. Nếu
trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ
ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái. Để hạn chế tối đa hậu
quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm, từ đó
đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhất, thời gian điều trị ngắn, chi phí điều trị thấp
nhất nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất.
* Phòng và điều trị bệnh viêm tử cung
- Phòng bệnh viêm tử cung
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [24] thì công tác phòng bệnh cần
phải tiến hành: Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ 1 tuần trước khi đẻ. Tắm cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status