1
PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI NƯỚC
TA HIỆN NAY
Công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do Đảng ta
khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua đã đem lại cho đất nước ta những
thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị, kinh
tế đến văn hóa, xã hội…Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới đất
nước, việc thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã
tạo nên những biến đổi kinh tế - xã hội rộng lớn. Sự biến đổi này diễn ra trên
nhiều nội dung tập trung ở những nội dung chủ yếu là biến đổi cơ cấu xã hội;
phân tầng xã hội và biến đổi chuẩn mực xã hội. Những biến đổi xã hội với
những nội dung chủ yếu nêu trên, một mặt phản ánh tính tất yếu của quá trình
phát triển xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay một mặt, có những tác
động tích cực tới tiến trình phát triển chung của đất nước nhưng mặt khác, nó
cũng đưa tới nhiều hệ lụy xã hội cần phải nhận diện và khắc phục. Một trong
những hệ lụy xã hội biểu hiện rõ rệt hiện nay chính là sự phân tầng xã hội mà
nội dung cốt lõi là phân tầng về kinh tế, thực chất là phân hóa giàu nghèo.
Qua hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, từ một nước
nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, phải nhận viện trợ lương thực từ bên ngoài,
nước ta đã có những bước tiến vượt bậc về kinh tế - xã hội với tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá cao( tính từ năm 2000 đến 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế
bình quân hàng năm là 7,26%), đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
ngày càng được cải thiện rõ rệt. Tuy vậy, đi sâu vào bức tranh chung đó, theo
số liêu thống kê và tổng kết của các cơ quan chức năng thì sự chênh lệch giàu
nghèo, phân hóa giàu nghèo ở nước ta cũng đang có xu hướng tăng lên. Phân
hóa giàu nghèo - "mặt tiêu cực" của kinh tế thị trường, đã và đang làm tăng
thêm tính phức tạp xã hội, gây cản trở cho việc huy động và phát huy sức
3
lao động thặng dư và có người chiếm đoạt lao động thặng dư của người khác
để cuộc sống của mình trở nên khá giả hơn. Chính quá trình phân công lao
động xã hội thúc đã đẩy quá trình phân hóa giàu nghèo trở nên sâu sắc và
mạnh mẽ.
Là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử nên tính chất, mức độ, hình
thức biểu hiện của phân hóa giàu nghèo tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội của từng quốc gia, từng cộng đồng người trong từng thời
điểm cụ thể. Phân hóa giàu ngèo là một hiện tượng xã hội ánh quá trình phân
chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế khác biệt nhau, thể
hiện trong xã hội có nhóm giàu, nhóm đủ ăn và nhóm nghèo đói. Phân hóa
giàu nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, văn hóa,
xã hội của thế giới và từng quốc gia dân tộc trong tiến trình phát triển. Nó ẩn
chứa những mầm mống của xung đột xã hội, sự đối lập giàu nghèo trong xã
hội như là căn nguyên trực tiếp, hiển hiện của các cuộc bạo động xã hội.
Trên cơ sở những nhận thức chung về phân hóa giàu nghèo, kế thừa
những thành quả nghiên cứu về phân hóa giàu nghèo của nhân loại, trong
nghiên cứu phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay để có được cái nhìn
khách quan, khoa học và toàn diện phải đứng vững trên lập trường thế giới
quan, phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, lý luận hình thái
- kinh tế xã hội, quan điểm giai cấp của học thuyết Mác-Lênin; thấm nhuần tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
Nói cách khác, nghiên cứu phân hóa giàu nghèo phải xuất phát từ sản xuất vật
chất của xã hội, nắm vững lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói
chung cũng như đặc điểm của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta nói riêng; nghiên cứu phân hóa giàu nghèo phải đặt trong nghiên cứu về
phân tầng xã hội, đặt trong nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở
nước ta hiên nay…
5
Điều quan trọng nhất là sự phân hoá giàu nghèo vừa là kết quả vừa là
tác nhân của sự sự phân tầng xã hội. Những người giàu có điều kiện đầu tư
cho việc học tập và nâng cao sức khoẻ, nhờ vậy họ sẽ có năng lực để tiếp cận
thị trường và kiếm được việc làm có thu nhập cao. Trong khi đó, người nghèo
không có điều kiện học tập và sức khoẻ yếu nên khó tìm được việc làm có thu
nhập cao mà thường phải làm những công việc ít tiền với vị thế xã hội không
cao. Như thế có nghĩa là sự chênh lệch giàu nghèo là nguyên nhân của sự
phân tầng xã hội và ngược lại.
Sự phân tầng xã hội đã xảy ra trong thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp. Trong kinh tế thị trường kể cả khi được sự định
hướng và điều chỉnh của nhà nước, sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo
vẫn xảy ra một cách tất yếu với các hình thức biểu hiện rất khác nhau mà hệ
lụy xã hội của nó đã và đang trực tiếp tác động tới mọi mặt của đời sống xã
hội. Phân hóa giàu nghèo trong cơ chế thị trường có mặt tích cực là tạo nên
sự đua tranh về kinh tế, động lực thúc đẩy khai thác mọi nguồn lực xã hội để
phát triển sản xuất, nâng cao đời sống; giúp nhau xóa đói giảm nghèo tạo nên
một phong trào xã hội mang dậm tính nhân văn, tính dân tộc. Tuy nhiên, phân
hóa giàu nghèo cũng chính là cơ sở kinh tế cho bất bình đẳng xã hội phát
triển; Nó làm tăng thêm tính phức tạp xã hội, góp phần làm gia tăng các tệ
nạn xã hội như đặc quyền, đặc lợi, tham ô, tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế,
bệnh thành tích, không công khai, mất dân chủ… Phân hóa giàu nghèo còn
ảnh hưởng tiêu cực đến việc hình thành chuẩn mực xã hội mới, nó tạo ra xu
hướng sống đề cao, sùng bái các giá trị vật chật, coi nhẹ giá trị nhân văn, đẩy
nhanh quá trình hình thành và phát triển lề thói thực dụng, hình thành tâm lý
"sài lang" trong sinh hoạt hàng ngày. Phân hóa giàu nghèo đã đưa tới việc
hình thành tâm trạng xã hội không thuận lợi cho việc huy động sức mạnh toàn
1
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.20
7
lên (xem bảng 1). Bên cạnh đó chúng ta đã giảm được tỷ lệ hộ nghèo từ
58,1% năm 1993 xuống 12,3% năm 2009.
Bảng 1. Thu nhập bình quân đầu người từ 1999-2008 (nghìn đồng)2
TT
Tỷ lệ hộ nghèo
1999
2002
2004
2006
2008
1
Cả nước
275
378
506
762
Nguồn: Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê, 2010
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì chênh lệch về
mức sống giữa nhóm giàu với nhóm nghèo có xu hướng dãn ra ngày càng sâu
sắc. Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, chênh lệch giữa 20% nhóm thu
nhập cao nhất với 20% nhóm thu nhập thấp nhất đã tăng từ 7,0 lần năm 1995
lên 8,9 lần năm 2009 (xem bảng 2). Ở thành thị và nông thôn, khoảng cách
này lần lượt là 8,2 lần lên 8,3 lần và từ 6,5 lần đến 6,9 lần trong cùng giai
đoạn. Trừ Tây Nguyên, mọi khu vực kinh tế khác đều có mức chênh lệch giàu
nghèo gia tăng.
Bảng 3. Thu nhập bình quân đầu người/tháng chia theo 5 nhóm thu nhập ở
Việt Nam3
Đơn vị tính: 1000 VNĐ
Năm
Chung
Nhóm 1
Nhóm 2
240,7
240,7
347,0
514,2
8,3
2
3
Nguồn niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê, 2010
Nguồn: Tổng cục thống kê. Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008. Hà Nội. 2010
8
2006
636,5
184,3
318,9
318,9
458,9
nước, và hơn thế nữa định hướng xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận khoảng
cách giàu - nghèo đi vào phân cực quá một ngưỡng cho phép.
Nhận thức rõ thực trạng phân hóa giàu nghèo ở nước ta, cũng như
những hệ lụy xã hội mà nó mang lại đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc nên trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, biện pháp đúng đắn về xóa đói, giảm nghèo nhằm cải thiện, nâng cao
đời sống nhân dân, qua đó tạo cơ sở để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xóa đói, giảm nghèo dựa
trên những cơ sở chủ yếu là:
Thứ nhất, Đảng ta coi cơ sở phương pháp luận quan trọng và cơ bản
nhất để phân tích vấn đề đói nghèo và xóa đói giảm nghèo là giải phóng con
người khỏi mọi áp bức, bất công, thực hiện công bằng xã hội. Chủ nghĩa xã
hội là quá trình kiến tạo hạnh phúc và cũng là quá trình đấu tranh vì sự công
bằng, đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xã hội.
11
Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta xác định rõ công bằng xã hội vừa là mục
tiêu vừa là động lực để phát triển. Công bằng xã hội không bó hẹp trong lĩnh
vực kinh tế mà liên quan tới tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - pháp luật văn hóa - xã hội. Công bằng xã hội phải được giải quyết và chỉ có thể được
giải quyết gắn liền với sự phát triển sản xuất, xây dựng xã hội thực sự dân
chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Công bằng xã hội đòi hỏi phải huy
động mọi nguồn lực trong nhân dân, xã hội hóa nhiệm vụ đền ơn đáp nghĩa,
xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở vừa
tăng nhanh tốc độ phát triển, vừa giảm dần sự mất cân đối giữa các vùng;
giảm dần khoảng cách về thu nhập, mức sống, hưởng thụ giáo dục, văn hóa,
bảo vệ sức khỏe của các tầng lớp dân cư ở các vùng khác nhau. Đặc biệt, công
bằng xã hội đòi hỏi phải thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, an
là điều kiện giúp cho việc xóa đói giảm nghèo, nhưng đây là hai nhiệm vụ có
tính độc lập tương đối và không phải là một; Xóa đói giảm nghèo và thực
hiện công bằng xã hội không có nghĩa là kìm hãm sự phát triển kinh tế, không
có nghĩa là cào bằng; Xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, năm 2011, bên
cạnh việc khẳng định những kết quả đã đạt được trong công tác xóa đói giảm
nghèo thời gian qua, Đảng cũng đã thẳng thắn chỉ ra những mặt còn hạn chế
trong việc xóa đói, giảm nghèo của đất nước, cụ thể: "Đời sống của một bộ
phận dân cư nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Xóa
đói, giảm nghèo chưa bền vững, tình trạng tái nghèo cao. Khoảng cách chênh
lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng doãng ra. Chất lượng công tác bảo
vệ, chăm sóc sức khỏe còn thấp, hệ thống y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa
đáp ứng được yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân, nhất là đối với người
nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số…" 6. Trên cơ sở
6
ĐCSVN: Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.168,169
13
nhìn nhận đúng đắn những mặt đã làm được và những hạn chế nêu trên, Đảng
cũng đã vạch ra những phương hướng để nâng cao hiệu quả thực hiện công
tác xóa đói giảm nghèo. Đặc biệt để từng bước khắc phục sự chênh lệch giàu
nghèo đang có xu hướng gia tăng giữa các vùng trong cả nước, Đảng chỉ rõ:
Phát triển kinh tế - xã hội phải "phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng
với tầm nhìn dài hạn…; tăng cường sự liên kết phối hợp giữa các vùng để các
vùng đều phát triển, từng bước giảm bớt chênh lệch về trình độ phát triển và
mức sống dân cư giữa các vùng. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các vùng kinh
tế, lãnh thổ trọng điểm tạo động lực cho nền kinh tế. Tăng cường chính sách
khuynh hướng chủ đạo tạo nên sức mạnh lòng dân giữ vững chủ quyền an
ninh biên giới Quốc gia trong mọi thời kỳ.
Từ khi có Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cùng với sự nỗ lực phát
triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nhân dân các dân tộc ở khu vực biên giới
đã tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, đấu tranh chính trị
vạch trần mọi âm mưu, thủ đoạn “ diễn biến hoà bình “ của các thế lực thù
địch. Hàng trăm nghìn nguồn tin có giá trị do nhân dân cung cấp đã phục vụ
cho cuộc đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ, phá
hoại an ninh trật tự ở khu vực biên giới; đấu tranh chống buôn lậu, gian lận
thương mại; buôn bán chất ma tuý, vũ khí, chất nổ trái phép, buôn bán phụ nữ
qua biên giới. Đặc biệt, quần chúng đã phối hợp với lực lượng vũ trang phát
hiện đấu tranh kịp thời với các nhóm phản động lưu vong xâm nhập vào nước
ta; các tổ chức cơ quan đặc biệt nước ngoài móc lối vào nội biên; các đường
dây đưa đón người xuất, nhập cảnh trái phép đi các nước thứ ba; xác lập
chuyên án, bắt gọn các đối tượng hoạt động tình báo gián điệp. Ý thức cảnh
giác và khí thế quần chúng ngày càng được nâng cao, mọi luận điểm chia rẽ,
kích động phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc đều bị nhân dân vạch mặt và đập
tan. Vì vậy, công tác quốc phòng - an ninh nơi biên giới luôn được đảm bảo.
Những đóng góp to lớn trong sự nghiệp bảo vệ biên giới của nhân dân
các dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nhất là từ khi
có Đảng lãnh đạo cách mạng là thể hiện hình ảnh của biên giới lòng dân, của
chiến tranh nhân dân. Biên giới dù sau này có được trang bị công nghệ hiện
16
đại thế nào cũng không thể quản lý nổi nếu không dựa vào thế bố trí chiến
lược, thế trận nhân dân ở địa bàn quan trọng đặc biệt này.
Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của nhân dân các dân tộc trong sự
sự nghiệp bảo vệ biên giới nên trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng, Nhà
của các vùng miền trong cả nước thì xu hướng chênh lệch giàu, nghèo cũng
có nguy cơ ngày càng doãng ra giữa vùng biên giới với các vùng khác trong
cả nước, bởi khu vực biên giới ít có cơ hội thuận lợi hơn để vươn lên trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Theo báo cáo thẩm tra của Uỷ ban kinh tế
Quốc hội tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XII, năm 2007, cho thấy: Tỉ lệ
nghèo bình quân cả nước là 14,7%, thì ở các tỉnh miền núi nói chung là rất
cao khoảng 30-40%; thậm chí ở các xã đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới, tỉ lệ hộ nghèo tới 70, 80%. Mặt khác, tỉ lệ hộ cận nghèo lại
quá cao, tỉ lệ phát sinh nghèo mới và tái nghèo khoảng trên dưới 20%.10 .
Hiện nay trên toàn tuyến biên giới đất liền, có khoảng 75% số xã thuộc khu
vực 3 ( khu vực chậm phát triển nhất ), nền kinh tế vẫn nặng về tự nhiên, tự
cung, tự cấp, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào còn nhiều khó khăn
cho nên tình trạng du canh, du cư, di cư tự do của đồng bào chậm được khắc
phục, thậm chí có nơi xu hướng gia tăng. Ở nhiều đoạn biên giới đang thiếu
hụt lớn lực lượng dân cư, có nơi chỉ 10-15 người/1km 2; thậm chí có những
đoạn biên giới và ở một số đảo không có dân sinh sống.
Đối với vùng thuận lợi như thị trấn, thị xã, vùng kinh tế cửa khẩu đang
phải đương đầu với tác động của mặt trái kinh tế thị trường, nảy sinh những
vấn đề đáng lo ngại về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, như truyền
đạo trái phép, tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán, vận
chuyển ma tuý, buôn bán phụ nữ qua biên giới vẫn diễn biến rất phức tạp.
Biên giới “mở cửa” đã thực sự trở thành thương trường. Vì mục đích làm giàu
với bất cứ giá nào, một số người, thậm chí có cả cán bộ, đảng viên đã bị sa
ngã trong cơ chế thị trường, thoái hoá biến chất. Đồng bào các dân tộc đang
định cư ở đây, nhìn chung đại bộ phận có nhận thức và trách nhiệm tốt đối với
10
Không để vùng dân tộc, miền núi tụt hậu quá xa so với cả nước, Báo Biên phòng, Số 45, ngày 5-11-2007,
tr.5.
20
Một là, kết hợp chặt chẽ chính sách kinh tế và chính sách xã hội hợp
lòng dân tạo môi trường thuận lợi, ổn định dân cư lâu dài ở khu vực biên
giới.
Phát triển kinh tế gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội là bản chất ưu
việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, là định hướng quan trọng trong đường lối
của Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm qua Đảng ta rất coi trọng tới sự
kết hợp này, nhất là đối với những địa bàn khó khăn như vùng biên giới nhờ
vậy đã phát huy hiệu quả nguồn lực con người tại chỗ trong bảo vệ chủ quyền
an ninh biên giới. Tuy nhiên trên thực tế cũng đã bộc lộ những khuynh hướng
khác nhau: Có khuynh hướng quá coi trọng phát triển kinh tế, chưa thực sự
coi trọng các vấn đề xã hội dẫn đến những nơi thuận lợi thì có cơ hội phát
triển nhanh, còn những nơi khó khăn ở vùng biên giới ngày càng có nguy cơ
tụt hậu xa hơn các vùng khác đã tạo nên sự bất bình đẳng ngay chính trong
nội bộ khu vực biên giới; Có khuynh hướng thì quá chú trọng tới các vấn đề
xã hội, chưa chú trọng nhiều đến phát triển kinh tế nên tạo ra sự trông chờ, ỷ
lại trong đồng bào các dân tộc làm cho nội lực của khu vực biên giới không
được phát huy hiệu quả cao nhất.
Vấn đề đặt ra phải xác định mối quan hệ hợp lý giữa chính sách kinh tế
và chính sách xã hội bảo đảm cho những vùng khó khăn như ở vùng biên giới
vừa có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đồng thời vừa bảo đảm sự tiến bộ và
công bằng xã hội. Sự kết hợp này phải được thể hiện ngay từ trong chiến lược
phát triển toàn diện kinh tế, xã hội, trong từng kế hoạch dài hạn và hàng năm,
trong các chương trình, dự án cụ thể đối với vùng này. Mọi chính sách kinh tế
đều phải tính đến hiệu quả xã hội. Mọi chính sách xã hội phải gắn chặt với
phát triển kinh tế...Sự kết hợp trên phải được quán triệt tới tất cả các cấp các
ngành, đến mọi cán bộ và người dân để tránh mọi khuynh hướng lệch lạc có
thể xảy ra.
dân tộc, địa phương và từng dân tộc trong quốc gia dân tộc thống nhất, đoàn kết
22
trong xây dựng và trong bảo vệ biên cương tổ quốc nhằm tạo nên lòng tự hào, tự
tôn dân tộc. Đồng thời tuyên truyền hiệu quả cho mọi người dân nắm vững
đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nghị
quyết của địa phương, nhất là tư duy mới của Đảng ta về củng cố quốc phòng - an
ninh, xây dựng lực lượng vũ trang; xây dựng "thế trận lòng dân" trong tình hình
mới; hiểu biết đầy đủ về xu thế hội nhập và âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm tạo nên sự đồng thuận “ý Đảng lòng
dân”. Trên cơ sở đó, mỗi người dân nhận thức đúng quyền lợi, nghĩa vụ và trách
nhiệm đối với nhiệm vụ quốc phòng-an ninh ở địa phương, nâng cao cảnh giác
cách mạng, tỉnh táo đề phòng các thủ đoạn chống phá cách mạng của kẻ xấu, tạo
sự phối hợp đồng bộ, thường xuyên, chặt chẽ giữa các cấp, các ngành các lực
lượng trong việc tham gia xây dựng "thế trân lòng dân" vững chắc thực hiện hiệu
quả nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia.
Ba là, vạch rõ các quan điểm sai lầm, luận điệu phản động của các thế
lực thù địch; khắc phục hiệu quả sự tác động tiêu cực mặt trái kinh tế thị
trường trong xu thế hội nhập.
Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng.
Lợi dụng tình hình hình đó, các thế lực thù địch đang ra sức chống phá ta,
nhất là thực hiện “diễn biến hoà bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ với nhiều
thủ đoạn rất thâm độc, trong đó ở khu vực biên giới là một trong những địa
bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch lợi dụng. Trên thực tế, một bộ phận
nhân dân, trong đó có cả đội ngũ cán bộ, đảng viên có những nhận thức lệch
lạc, không phân biệt được đúng- sai, trắng-đen, thật-giả, tốt-xấu trong xu thế
hội nhập dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác về kẻ thù, nhiễm luồng tư tưởng độc
tăng cường quan hệ “cá, nước” giữa Quân đội và nhân dân, nhất là ở những
địa bàn chiến lược như vùng biên giới, một trong những biện pháp quan trọng
là phải đổi mới nâng cao hiệu quả công tác dân vận của Quân đội nói chung
24
và công tác vận động quần chúng của BĐBP nói riêng phù hợp với tình hình
và nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Quân đội ta phải ra sức phấn đấu làm tròn
vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; đồng thời có nhiều
hình thức, phương pháp tiến hành công tác xây dựng khối đoàn kết quân dân
thực hiện hiệu quả chức năng của đội quân công tác, đội quân lao động sản
xuất. Trước mắt cần tập trung vào nhiệm vụ tham gia xây dựng cơ sở chính
trị, phát triển kinh tế-xã hội đất nước, nhất là việc tuyên truyền, vận động,
giáo dục hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa,
vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện tốt đường
lối chính sách của Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt phong trào xoá đói giảm
nghèo, phòng chống thiên tai và các tệ nạn xã hội. Trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ, mỗi cán bộ chiến sỹ làm công tác dân vận ở vùng biên giới phải
thực hiện tốt phương châm: thận trọng, kiên nhẫn, kiên quyết hiểu phong tục
tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội của địa phương để nghe được dân nói,
nói cho dân hiểu. Coi trọng “lời nói đi đôi với việc làm” “làm trước, nói sau”,
làm đến đâu, chắc đến đó, lấy hiệu quả công tác làm tiêu chí đánh giá hoàn
thành nhiệm vụ của bộ đội trên từng cương vị được giao. Đồng thời bộ đội
phải luôn có thái độ và ý thức chấp hành nghiêm túc mười hai điều kỷ luật
trong quan hệ quân, dân; rèn luyện ý thức tự giác, tính độc lập tự chủ, nhất là
trong điều kiện công tác xa đơn vị; tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp của
địa phương, nhân dân; xây dựng đạo đức lối sống giản dị, khiêm tốn, thương
yêu hết lòng đối với đồng bào, tâm huyết trách nhiệm, nhiệt tình trong công
việc tạo nên tình đoàn kết quân dân bền chặt qua đó góp phần xâu dựng "thế