B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
--------
NGUYN TH THANH
PHáT TRIểN KINH Tế TRÊN ĐịA BàN HUYệN Tứ Kỳ
TỉNH HảI DƯƠNG GIAI ĐOạN 2005 2014
Chuyờn ngnh: a lớ hc
Mó s: 60.31.05.01
LUN VN THC S KHOA HC A L
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Nguyn Th Sn
H NI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng nhất tới
PGS.TS Nguyễn Thị Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tác
giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
Ban chủ nhiệm khoa Địa Lý cùng các thầy, cô giáo bộ môn đã tham gia giảng
dạy, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho quá trình học tập và nghiên cứu của tác giả.
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Tứ Kỳ, phòng Thống kê
huyện Tứ Kỳ, phòng Kinh tế hạ tầng, phòng Tài nguyên môi trường huyện Tứ
Kỳ… đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tác giả những tư liệu cần thiết và
quý báu trong quá trình thực hiện đề tài của mình.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực
Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp – xây dựng
Cụm công nghiệp
Đồng bằng sông Hồng
Tổng sản phẩm trong nước
Giá trị sản xuất
Hợp tác xã
Nông nghiệp
Khu công nghiệp
Kinh tế - xã hội
Tài nguyên thiên nhiên
Thành phố
Thị trấn
Ủy ban nhân dân
Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.2: Dự kiến QH ngành chăn nuôi huyện Tứ Kỳ đến năm 2020,
.................................................................................................104
định hướng năm 2030...........................................................................104
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1:
Cơ cấu sử dụng đất huyện Tứ Kỳ năm 2014.....................37
Bảng 4.2: Dự kiến QH ngành chăn nuôi huyện Tứ Kỳ đến năm 2020,
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích trong phát triển KT và hội nhập song
so với yêu cầu đặt ra của bối cảnh mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn
huyện còn chậm, chất lượng chưa cao và có sự phân hóa rõ nét giữa các địa
phương trong huyện. Bởi vậy, đẩy mạnh phát triển kinh tế một cách toàn diện
không chỉ là xu hướng tích cực mà còn là vấn đề tất yếu, mang tính quyết định
đến sự phát triển bền vững của huyện Tứ Kỳ trong thời gian tới.
Chính vì những lí do trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Phát
triển kinh tế trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 2014” làm đề tài luận văn của mình.
1
2. Lịch sử nghiên cứu
Trên phương diện lí luận và thực tiễn đã có một số công trình tiêu biểu như:
- Các công trình về cơ sở lí luận chung về phát triển kinh tế như:
Giáo trình phát triển kinh tế của tác giả Vũ Thị Ngọc Phùng [Nguồn 13]
được đánh giá là một trong những công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa
lớn. Giáo trình đã tổng kết những vấn đề khái quát nhất về phát triển kinh tế như:
lí luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế, các nguồn lực của tăng trưởng kinh tế
và phát triển kinh tế, các chính sách phát triển kinh tế,…
Giáo trình Địa lí KT – XH đại cương của tác giả Nguyễn Minh Tuệ (chủ
biên) [Nguồn 20] đã tổng hợp các khái niệm cơ bản về phát triển kinh tế của
một lãnh thổ như: cơ cấu kinh tế, nguồn lực phát triển kinh tế, sự phân hóa
lãnh thổ,…
Giáo trình Địa lí KT – XH Việt Nam tập 1,2, của tác giả Đỗ Thị Minh Đức
[Nguồn 4,5]. Giáo trình này đã đề cập đến các nguồn lực phát triển kinh tế cũng
như thực trạng KT – XH của Việt Nam.
Sách Việt Nam các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm của các tác giả
Lê Thông – Đồng Quý Thao (đồng chủ biên) và nnk [Nguồn 15]. Cuốn sách là
nguồn tài liệu tổng hợp về sự phát triển kinh tế - xã hội của 7 vùng kinh tế và các
phát triển kinh tế của địa phương. Các công trình “Báo cáo quy hoạch và kế
hoạch sử dụng đất đến năm 2020” [Nguồn 11], “Lịch sử Đảng bộ huyện Tứ
Kỳ” [Nguồn 24] đã trình bày tóm tắt về lịch sử phát triển, điều kiện tự nhiên –
tài thiên nhiên, điều kiện KT – XH và hiện trạng sử dụng đất của huyện Tứ Kỳ
đến năm 2014, quy hoạch tới 2020.
Nhìn chung, các đề tài đã cung cấp những vấn đề về phương pháp luận cho
đề tài nghiên cứu của cá nhân. Các đề tài đã nêu và phân tích được những nguồn
lực tự nhiên và KT – XH, phân tích và đánh giá được hiện trạng phát triển của
kinh tế địa phương. Từ đó so sánh với xu hướng chung của tỉnh, vùng và cả
3
nước cũng như đánh giá được nét nổi bật của địa phương trong phát triển kinh tế.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Trên cơ sở tổng quan các vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế, đề
tài có mục đích làm rõ được các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển kinh
tế của huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 - 2014. Từ đó đề xuất các
giải pháp góp phần phát triển kinh tế có hiệu quả và bền vững trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển KT để vận dụng vào địa
bàn huyện Tứ Kỳ.
- Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế
của huyện Tứ Kỳ.
- Phân tích hiện trạng phát triển kinh tế của huyện từ năm 2005 đến năm
2014 dưới góc độ địa lí.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và hiệu
quả của nền kinh tế huyện.
4. Phạm vi nghiên cứu
từng địa phương, từng dân tộc. Vì vậy, đề tài đã dựa trên quan điểm tổng hợp
lãnh thổ để tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trên địa bàn huyện Tứ Kỳ và đặt vị trí của huyện trong bối cảnh toàn
tỉnh Hải Dương và vùng KTTĐ phía Bắc.
6.1.2. Quan điểm hệ thống
Đây là một trong những quan điểm quan trọng trong quá trình nghiên cứu
đề tài này. Dựa trên quan điểm này, tác giả xem xét đối tượng một cách toàn
diện hơn, đặt trong nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và
phát triển với việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy
luật vận động của đối tượng.
Bản chất của “hệ thống” là tổng thể các thành phần nằm trong sự tác động
tương hỗ lẫn nhau nên mọi đối tượng và hiện tượng địa lí đều có mối quan hệ
5
biện chứng tạo thành một chỉnh thể gọi là một hệ thống. Hệ thống đó bao gồm
nhiều thành phần có mối quan hệ mật thiết, chuyển hóa lẫn nhau. Trong luận
văn, huyện Tứ Kỳ được xem như một hệ thống lãnh thổ KT – XH. Trong đó quá
trình chuyển dịch kinh tế chịu ảnh hưởng tác động của nhiều nhân tố từ tự nhiên
đến KT – XH.
6.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Trong luận văn quan điểm này được vận dụng để thể hiện sự chuyển dịch
trong quá trình phát triển các ngành kinh tế huyện Tứ Kỳ, qua đó thấy được sự
thay đổi của nền kinh tế trên phương diện cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và thành
phần kinh tế. Các đề tài nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có từ khá
sớm, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đó đề tài đã chọn lọc để phù
hợp với địa bàn nghiên cứu cụ thể. Quan điểm này cho phép đề tài đánh giá
đúng sự vật, hiện tượng theo một quá trình phát triển.
6.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Để có số liệu bổ sung, hình ảnh minh chứng cụ thể làm cơ sở đánh giá thực
chất về quá trình phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ. Tác giả đã tiến hành khảo sát
thực tiễn tại địa bàn, thu thập các số liệu thực tế và rút ra những đánh giá tổng
hợp về vấn đề nghiên cứu.
6.2.4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ và ứng dụng công nghệ GIS
Trên cơ sở những bản đồ đã được thành lập trước đó như: bản đồ hành
chính huyện, tỉnh; bản đồ giao thông vận tải,… được tác giả sử dụng như tài liệu
tham khảo.
Ngoài ra để đưa được những kết quả nghiên cứu của luận văn lên bản đồ,
tác giả đã sử dụng hệ thống thông tin địa lí (GIS), các phần mềm Arc GIS,
Mapinfo để thành lập các bản đồ chuyên ngành trong luận văn như: Bản đồ
hành chính huyện Tứ Kỳ, Bản đồ nguồn lực phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ, Bản
đồ hiện trạng phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ.
7. Cấu trúc luận văn
Đề tài “Phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương giai
đoạn 2005 - 2014” ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển kinh tế
7
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ
Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ giai đoạn 2005
- 2014
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế huyện Tứ Kỳ đến
năm 2020 và tầm nhìn 2030
8
9
triển kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục tiêu phấn đấu của một
chính phủ, một vùng, địa phương vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu
quả điều hành đất nước, địa phương của chính phủ, của người lãnh đạo.
1.1.1.2. Phát triển kinh tế
Theo quan điểm Triết học, phát triển là khái niệm chỉ sự thay đổi về quy
mô và chất lựợng của một sự vật, hiện tượng trong thời gian và không gian nhất
định. Sự thay đổi này bao hàm cả tăng lên hoặc giảm đi về số lượng và chất
lượng của sự vật, hiện tượng đó. Tóm lại, phát triển là khái niệm về sự tồn tại và
phát triển không ngừng của sự vật, hiện tượng trong một thời gian và không gian
cụ thể.
Theo đó, phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của
nền kinh tế ở một địa phương trong một thời kì nhất định, bao gồm cả sự tăng
thêm về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về mọi mặt của xã hội để hình thành cơ
cấu kinh tế hợp lí [Nguồn 13].
Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm
tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc
lợi xã hội, tuổi thọ…) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỉ trọng của
nông – lâm – ngư nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ). Phát triển kinh
tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm: kinh tế, xã
hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định.
Tóm lại, tăng trưởng và phát triển kinh tế có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển, ngược lại sự phát triển
về mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng.
1.1.1.3. Cơ cấu kinh tế
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), cơ cấu kinh tế là tổng thể các
ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các vùng trong một nước, giữa các quốc
gia với nhau. Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, vị trí địa lí trở thành nhân tố
góp phần định hướng có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế và xây dựng
mối quan hệ song phương hay đa phương của một quốc gia [Nguồn 20].
Vị trí địa lí quy định những đặc điểm chung của thiên nhiên mà trước hết là
khí hậu, đất đai, sinh vật, khoáng sản… từ đó bước đầu nhận thấy được những
thế mạnh và hạn chế của tài nguyên thiên nhiên ở lãnh thổ nghiên cứu.
11
1.1.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) là nền tảng để phát
triển kinh tế, là những điều kiện cần nhưng chưa đủ. ĐKTN và TNTN bao gồm
các yếu tố như: địa hình, khí hậu, thủy văn, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật,
tài nguyên khoáng sản... [Nguồn 4, 5, 20].
Tài nguyên khoáng sản được coi như “bánh mì” trong công nghiệp. Số
lượng, quy mô và chất lượng của khoáng sản ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu
và phương thức khai thác của công nghiệp.
Tài nguyên đất, nước, khí hậu và sinh vật ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt
động sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp. Sự phong phú, đa dạng của những tài
nguyên này góp phần tạo dựng một nền nông nghiệp đa dạng về sản phẩm.
Các TNTN sẽ trở thành sức mạnh kinh tế khi được con người khai thác và
sử dụng một cách hiệu quả và bền vững. Cũng giống như vị trí địa lí, tài nguyên
thiên nhiên không đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế mà chỉ là
tiền đề vật chất cơ bản cho sự phát triển KT – XH. Bất kì một quốc gia nào nếu
thiếu vắng tài nguyên thì đều gặp một số khó khăn trong sự phát triển.
TNTN tạo ra những thuận lợi để xây dựng cơ cấu kinh tế đa dạng, là nguồn
hàng xuất khẩu có giá trị, thu hút vốn đầu tư và công nghệ… Nhưng nhân tố này
cũng có thể trở thành mối tranh chấp của nhiều nước tư bản, hơn nữa TNTN
của sản xuất, làm cho danh mục các loại TNTN đa dạng hơn, từ đó góp phần
tăng chất lượng sản phẩm.
KHCN thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế qua việc tăng năng suất lao
động, đẩy nhanh quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. KHCN góp
phần tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Các
nước hoàn toàn có khả năng đi tắt đón đầu trong việc mua hoặc chuyển giao
công nghệ.
Đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, đang ngày
càng đẩy mạnh việc tiếp thu những chuyển giao công nghệ của các nước tiên
tiến để sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước, đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng và phát triển kinh tế, góp phần thực hiện thành công quá trình CNH –
HĐH đất nước. Tuy nhiên cần chọn lọc hợp lí nếu không rất dễ biến thành “bãi
rác công nghệ” của các nền kinh tế phát triển.
c. Nguồn vốn
Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho các quá trình sản xuất. Để đảm
13
bảo cho quá trình phát triển ổn định nền kinh tế, phải đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ
sở vật chất kĩ thuật, máy móc, trang thiết bị, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực
và các dịch vụ khác. Vì vậy, việc gia tăng nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn có
hiệu quả góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tăng cường tích lũy nội bộ của nền KT.
Nguồn vốn thường được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, trong nước
và ngoài nước. Trong đó nguồn vốn trong nước có ý nghĩa quyết định chính
trong phát triển KT.
Nguồn vốn trong nước bao gồm: Ngân sách của Nhà nước, vốn của các
doanh nghiệp và tích lũy của người dân.
Nguồn vốn ngoài nước gồm: viện trợ chính thức (ODA), viện trợ của các tổ
chức phi chính phủ (NGO), đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư
doanh để phát huy tổng hợp sức mạnh nội lực và ngoại lực thúc đẩy KT – XH
phát triển. Ngoài ra còn góp phần mở rộng quan hệ ngoại giao, hợp tác 2 bên
cùng có lợi và không can thiệp vào nội bộ của nhau.
f. Cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng bao gồm: mạng lưới giao thông vận tải, cung cấp điện
nước…có vai trò đảm bảo điều kiện vật chất thuận lợi nhất để các cơ sở sản xuất
và dịch vụ hoạt động có hiệu quả. Kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ sẽ tạo điều
kiện rút ngắn thời gian sản xuất và lưu thông, giảm bớt chi phí sản xuất và góp
phần nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời thực hiện mối liên hệ giữa các bộ
phận và giữa các vùng kinh tế. Ngược lại, sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát
triển của các hoạt động sản xuất.
Cơ sở vật chất kĩ thuật bao gồm: hệ thống máy móc, trang thiết bị, trình độ
công nghệ cho từng ngành sản xuất, đây là một trong nhân tố quan trọng ảnh
hưởng tới năng suất lao động và giá thành sản phẩm.
g. Bối cảnh trong nước và thế giới
Sự phát triển tổng thể của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ luôn chịu tác động
trực tiếp của những yếu tố nội tại trong quốc gia, vùng lãnh thổ đó. Song cũng
không thể tách rời ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế, nhất là trong điều kiện mở
rộng hội nhập quốc tế, xu thế toàn cầu hóa như hiện nay. Nắm bắt những tác
động của bối cảnh trong nước và quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc tranh
thủ được các điều kiện thuận lợi, cơ hội và khắc phục được các yếu tố bất lợi,
15
khó khăn cho phát triển KT – XH của địa phương.
1.1.3. Một số hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất
1.1.3.1. Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
- Hộ gia đình
Hộ gia đình là hình thức vốn có của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến ở các
HTX là một tổ chức kinh tế do nông dân tự nguyện lập ra với nguồn vốn
hoạt động do chính họ góp cổ phần và huy động từ các nguồn khác nhằm duy
trì, phát triển kinh tế hộ gia đình và tăng nhanh tỉ suất hàng hóa, đạt hiệu quả
kinh tế cao cho các hộ, chủ trang trại [Nguồn 9, 23].
Ở Việt Nam, từ sau năm 1986, dựa trên chính sách khoán đến hộ gia
đình, các HTX trao quyền sử dụng đất, quyền tự chủ sản xuất cho xã viên.
Hoạt động của HTX chỉ tập trung cho các khâu mà từng hộ không làm được
hoặc làm không có hiệu quả, hay thực hiện các dịch vụ, chế biến và tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp, hướng dẫn sản xuất, chuyển giao kĩ thuật và hỗ trợ
cho kinh tế hộ phát triển.
1.1.3.2. Tổ chức lãnh thổ công nghiệp
- Điểm công nghiệp
Điểm công nghiệp thường chỉ là một, hai xí nghiệp phân bố đơn lẻ, có
kết cấu hạ tầng riêng. Nó được phân bố gần nguồn nguyên liệu với chức năng
khai thác hay sơ chế nguyên liệu hoặc ở những điểm dân cư nằm trong một
vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản nào đó. Cũng có thể nó ở ngay trong
vùng tiêu thụ để phục vụ cho những nhu cầu nhất định của dân cư [Nguồn
20]. Đặc trưng của điểm CN là:
+ Lãnh thổ nhỏ với một (hai) xí nghiệp, phân bố lẻ tẻ, phân tán.
+ Hầu như không có mối liên hệ sản xuất với các xí nghiệp khác.
+ Thường gắn với một điểm dân cư nào đó.
- Cụm công nghiệp (CCN)
17
CCN bao gồm một vài xí nghiệp công nghiệp, được phân bố trên một
khu vực nhỏ, không có ranh giới rõ ràng, không có ban quản lí riêng. CCN
được phân bố ở các thị trấn, thị xã, dọc theo các trục giao thông. Trong quá
trình phát triển, CCN có thể là hạt nhân để tạo các KCN [Nguồn 22].
+ GTSX nông – lâm – thủy sản: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh ngành nông – lâm – thủy sản dưới dạng sản phẩm vật
chất và dịch vụ trong một thời gian nhất định. Trong đó GTSX ngành nông
nghiệp (nghĩa hẹp) bao gồm giá trị sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi và giá trị của
các dịch vụ nông nghiệp. GTSX lâm nghiệp bao gồm: giá trị trồng mới, nuôi
dưỡng, chăm sóc tu bổ, bảo vệ rừng, giá trị cây, hạt giống và các hoạt động dịch
vụ nông nghiệp khác. Các hoạt động ngành thủy sản bao gồm: nuôi trồng và
đánh bắt thủy hải sản (cá, tôm, baba, ếch, lươn…) và các dịch vụ có liên quan.
- Tốc độ tăng trưởng GTSX
Là chỉ tiêu đo lường, thể hiện mặt định lượng tăng trưởng kinh tế của lãnh
thổ ở quy mô nhỏ như cấp huyện. Chỉ tiêu này được tính theo giá so sánh một
năm cố định [Nguồn 29.1].
b. Giá trị sản xuất/ người
GTSX/người được tính bằng cách lấy GTSX chia cho tổng số dân của địa
phương tại một thời điểm nhất định (một năm) [Nguồn 29.1].
Đây là một tiêu chí phản ánh sự phát triển kinh tế nói chung và nâng cao
mức sống của người dân nói riêng. Sự gia tăng liên tục ngày càng cao của quy
mô, tốc độ tăng trưởng của GTSX/người là một dấu hiệu thể hiện sự phát triển
kinh tế ổn định, bền vững theo hướng CNH của lãnh thổ. Mặt khác, nó còn được
sử dụng làm công cụ so sánh mức sống giữa các địa phương với nhau.
c. Cơ cấu giá trị sản xuất theo các nhóm ngành, thành phần kinh tế và sự
chuyển dịch cơ cấu GTSX
Để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhỏ (cấp huyện),
chỉ tiêu thường được sử dụng là cơ cấu GTSX (thay cho cơ cấu GDP ở cấp tỉnh
và quốc gia).
Cơ cấu GTSX cho biết quy mô, tỉ trọng của các ngành, thành phần kinh tế,
lãnh thổ trong nền kinh tế của cấp huyện. Đồng thời qua đó, xác định vai trò, vị
trí, tầm quan trọng của mỗi đối tượng và có thể đánh giá được trình độ phát triển
19
20