LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và hệ
thống Internet phủ khắp toàn quốc, Thương mại điện tử đã dần trở nên quen
thuộc và từng bước khẳng định vị trí của mình đối với hầu hết các bộ phận
của nền kinh tế cũng như các tầng lớp xã hội. Theo Báo cáo Thương mại
điện tử năm 2009, hầu như thương mại điện tử được áp dụng trong hầu hết
các ngành nghề của nền kinh tế và trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên thương
mại điện tử được đánh giá là một con dao hai lưỡi đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam. Nó đem lại một nguồn lợi khổng lồ nhưng cũng có
thể có tác dụng không tốt đối với nền kinh tế nếu vấn đề thực thi.
Hiện nay thương mại điện tử cũng đã được áp dụng trong lĩnh vực
nông lâm nghiệp nhưng vẫn còn ở mức độ sơ khai. Và trong ngành xuất khẩu
sản phẩm hồ tiêu lại càng ít. Do đó việc đưa thương mại điện tử đi vào cuộc
sống một cách có tổ chức và phổ biến là một chính sách quan trọng của chính
phủ cũng như của doanh nghiệp mà đặc biệt là xuất khẩu nông sản trong đó
có hồ tiêu. Bởi vì nông sản là một thế mạnh của Việt Nam nếu kết hợp với
thương mại điện tử sẽ trở thành một sự công hưởng đem lại nguồn lợi khổng
lồ cho sự phát triển của nền kinh tế.
Nhận thấy tầm quan trọng của thương mại điện tử đối với Việt Nam
nói chung và đối vói việc xuất khẩu hồ tiêu nói riêng, nhóm chúng em đã
quyết định chọn đề tài “Ứng dụng thương mại điện tử trong xuất khẩu hồ tiêu
tại công ty ….” để làm tiểu luận. trong bài tiểu luận không tránh khỏi những
sai sót mong thầy và các bạn góp ý để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. 1. Khái niệm về TMĐT:
Sự phát triển như vũ bão của CNTT đã tác động mạnh mẽ và to lớn
đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội. Ngày nay, CNTT đã trở thành một
trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển. Với khả năng số hoá
mọi loại thông tin (số, đồ thị, văn bản, hình ảnh, tiếng nói, âm thanh...), máy
thông qua các phương tiện điện tử (Diễn đàn đối thoại xuyên Đại Tây
Dương, 1997).
•
TMĐT là việc thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn tới việc chuyển
giao giá trị thông qua các mạng viễn thông (EITO, 1997).
•
TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạng máy
tính làm trung gian, bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử
dụng hàng hoá và dịch vụ (Cục thống kê Hoa Kỳ, 2000).
1.1.2. Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng:
Theo nghĩa rộng, thương mại điện tử là việc sử dụng các phương pháp
điện tử để làm thương mại. Nói cách khác, thương mại điện tử là thực hiện
các quy trình cơ bản và các quy trình khung cảnh của các giao dịch thương
mại bằng các phương tiện điện tử, cụ thể là trên mạng máy tính và viễn thông
một cách rộng rãi, ở mức độ cao nhất có thể. Các quy trình cơ bản của một
giao dịch thương mại gồm: tìm kiếm (mua gì, ở đâu,..), đánh giá (có hợp với
mình không, giá cả và điều kiện ra sao,..), giao hàng, thanh toán và xác nhận.
Các quy trình khung cảnh của một giao dịch thương mại gồm: diễn tả (mô tả
hàng hoá, dịch vụ, các điều khoản của hợp đồng), hợp thức hoá (làm cho
thoả thuận là hợp pháp), uy tín và giải quyết tranh chấp. Tất nhiên có những
quy trình không thể tiến hành trên mạng như việc giao hàng hoá ở dạng vật
thể (máy móc, thực phẩm,...), song tất cả các quá trình của giao dịch nếu có
thể thực hiện trên mạng thì đều có thể tiến hành bằng các phương tiện điện
tử.
này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hay tổ chức đã thoả thuận
buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp
của con người. Trao đổi dữ liệu điện tử có vai trò quan trọng đối với giao dịch
thương mại điện tử quy mô lớn giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Với việc hình
thành những hệ thống ứng dụng thương mại điện tử kỹ thuật cao như mạng giá trị
gia tăng (VAN), hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng (SCM), mạng của các nhà
cung cấp dịch vụ trung gian …, có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp sử dụng
dịch vụ áp dụng những tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu thống nhất tạo thuận lợi cho các
giao dịch thương mại điện tử. Sử dụng EDI, doanh nghiệp sẽ giảm được lỗi sai sót
do con người gây nên, giảm thời gian xử lý thông tin trong các giao dịch kinh
doanh, tiết kiệm thời gian và chi phí trao đổi dữ liệu. Hiện nay, sự xuất hiện của các
ngôn ngữ lập trình hiện đại như XML làm cho EDI trở nên dễ thiết kế và dễ sử dụng
hơn, do đó EDI được ứng dụng rất phổ biến trong nhiều ngành trên thế giới.
1.2.3. Quảng cáo trực tuyến
Có nhiều hình thức để tiến hành quảng cáo trực tuyến. Doanh nghiệp có thể
hình thành một website riêng, đặt đường dẫn website của mình tại những trang web
có nhiều người xem, đăng hình quảng cáo tại những trang web thông tin lớn hay
trực tiếp gửi thư điện tử tới từng khách hàng, đối tác tiềm năng... Chi phí quảng cáo
trên các trang web rất thấp so với việc quảng cáo trên các phương tiện truyền hình,
đài phát thanh. Vì vậy, việc tiến hành quảng cáo trên những website có số lượng
truy cập lớn cũng đang trở thành một chiến lược quan trọng của nhiều doanh
nghiệp. Những công ty có trang web riêng hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau,
từ sản xuất hàng hoá, dịch vụ công nghiệp tới những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày.
Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng chi phí thấp của các hình thức quảng cáo bằng thư
điện tử bằng cách mua hoặc liệt kê danh sách khách hàng tiềm năng có địa chỉ email
từ những nhà cung cấp dịch vụ Interner như FPT, VDC ... rồi gửi thư điện tử quảng
cáo. Ví dụ về các loại quảng cáo trực tuyến trên website là samer, popup,
contest/quizz ...
1.2.4. Bán hàng qua mạng
•
Tiếp đó đến phần thanh toán, người mua sẽ điền mã số khách hàng (nếu đã
đăng ký) hoặc điền các thông tin về địa chỉ nhận hàng và chọn phương thức
thanh toán : bằng thẻ tín dụng, chuyển tiền thẳng vào tài khoản người bán,
chuyển tiền qua Paypal, chuyển tiền qua bưu điện.
•
Sau khi nhận được thanh toán, người bán sẽ gửi hàng qua bưu điện hoặc
chuyển trực tiếp đến cho người mua (người mua cũng có thể thanh toán trực
tiếp bằng tiền mặt tại thời điểm này).
Với website bán lẻ, doanh nghiệp có thể trở thành một nhà phân phối hàng hoá
mà không cần phải trực tiếp sản xuất hay không cần diện tích quá lớn để làm cửa
hàng. Điều này tạo nên lợi thế cạnh tranh là cắt giảm được chi phí thuê mặt bằng và
nhân công. Tuy nhiên, để thiết lập website bán lẻ, doanh nghiệp cần lưu ý những
điều kiện sau:
•
Thiết kế hoặc thuê thiết kế được một website bán lẻ có đầy đủ các chức năng,
tiện lợi cho người dùng và bảo mật tốt (nhất là với các website có nhận thanh
toán trực tiếp qua mạng).
•
Đặt website trên máy chủ có tốc độ cao, đường truyền băng thông rộng để
khách hàng truy cập dễ dàng.
Internet
như địa
chỉ www.google.com, www.yahoo.com , đặc biệt là đối tác tại các nước phát triển,
nơi có tỷ lệ phổ cập Internet rất cao. Tại những công cụ tìm kiếm, sau vài giờ phân
loại, sàng lọc thông tin, chúng ta có thể có trong tay một danh sách các đối tác tiềm
năng. Để xem thông tin chi tiết về một đối tác cũng như sản phẩm, dịch vụ mà họ
cung cấp, bạn có thể vào trực tiếp các website của họ. So với cách làm truyền thống
là qua các danh bạ điện thoại, các catalogue, phương pháp mới này có rất nhiều ưu
điểm: nhanh hơn, chính xác hơn, tiết kiệm hơn.
1.3.2. Thỏa thuận hợp đồng
Một trong những điểm quan trọng nhất trong công đoạn thoả thuận hợp đồng là
xác định giá. Với Internet, việc xác định giá cho một sản phẩm và dịch vụ cụ thể
nào đó là khá dễ dàng và nhanh chóng thông qua các cách như gửi thư hỏi giá, thư
báo giá đến các đối tác, đưa giá sản phẩm, dịch vụ của mình trên website để tất cả
những ai quan tâm có thể xem được, có thể trao đổi, đàm phán trực tiếp với đối tác
về các điều khoản của hợp đồng…. Internet có các công cụ hữu hiệu để làm những
việc này, đó là website, e-mail, các công cụ để hội đàm như ICQ, MS Messenger,
AIM v.v...
1.3.3. Thanh toán
Thanh toán là một trong những vấn đề gây nhiều bàn cãi và phức tạp nhất trong
thương mại điện tử. Nếu không kể đến những hợp đồng lớn giữa các công ty, vẫn
được thực hiện theo các phương thức truyền thống như trong giao dịch ngoại
thương thông qua tín dụng thư hoặc điện chuyển tiền, trong các giao dịch nhỏ, việc
thanh toán có thể được thực hiện qua thẻ tín dụng như Master Card, Visa Card,
American Express … Khách hàng chỉ cần nhập một số thông tin về thẻ tín dụng của
Điểm mấu chốt quyết định thành công của một website thương mại điện tử
B2C là khả năng thu hút và duy trì sự quan tâm của người tiêu dùng. Để thu hút
khách hàng mới, bên cạnh giao diện đẹp và thuận tiện cho việc sử dụng, thông tin
trên website cũng cần phải hết sức phong phú. Kinh nghiệm cho thấy khách hàng
đặc biệt quan tâm tìm kiếm những thông tin mô tả và giá cả hàng hóa, dịch vụ trên
mạng, qua đó so sánh, đối chiếu để dẫn đến quyết định mua hàng. Việc đáp ứng một
cách thuận tiện nhu cầu của người tiêu dùng về khảo sát giá cả cũng như sản phẩm
là lợi thế nổi bật của phương thức tiếp thị trực tuyến mà các nhà kinh doanh cần
khai thác triệt để. Một khi khách hàng đã quan tâm đến website, dùng thử các dịch
vụ trên đó và thấy thực sự hiệu quả thì xác suất quay lại sẽ là rất lớn. Trong bối
cảnh các website thương mại điện tử của Việt Nam chưa nhiều, những doanh
nghiệp quan tâm đầu tư làm thương mại điện tử một cách bài bản sẽ có nhiều ưu thế
trong việc xây dựng lượng khách hàng trung thành để làm cơ sở cho giai đoạn cất
cánh về sau.
Phương thức mua hàng trên mạng có sức hút mạnh với đối tượng là cán bộ
công sở, sinh viên, những người ít có thời gian mua sắm và thường xuyên sử dụng
mạng Internet. Do đó, khi triển khai các "cửa hàng trực tuyến", doanh nghiệp cần
lưu ý phân tích thói quen và tâm lý tiêu dùng của các nhóm đối tượng này để có
chiến lược tiếp thị hoặc lựa chọn loại hàng hóa cho phù hợp.
Mô hình kinh doanh thương mại điện tử theo phương thức B2C phù hợp hơn
với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ. Khi có nhu cầu mua sắm, người tiêu
dùng muốn tìm được thông tin đa dạng về các loại hàng hóa và sản phẩm khác nhau
ngay tại một chỗ. Các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra hàng hóa sẽ khó lòng đáp
ứng nhu cầu này do mỗi doanh nghiệp chỉ tập trung sản xuất một vài sản phẩm nhất
định. Trong khi đó, doanh nghiệp thương mại dịch vụ - vốn chỉ đóng vai trò trung
gian phân phối sản phẩm - sẽ có lợi thế hơn trong việc tập hợp các nguồn hàng khác
nhau để có hàng hóa, sản phẩm trưng bày phong phú, tạo thuận lợi, đáp ứng tối đa
nhu cầu của người mua hàng.
Họ có thể bán chỗ quảng cáo trên trang web của mình hoặc bản quyền truy cập tới
một nội dung đặc biệt tính trên cơ sở trả tiền theo sử dụng (pay-per-use) hay trả tiền
theo lần xem (pay-per-view). Với cách bán bản quyền truy cập, các công ty sẽ chia
nhỏ thông tin trên trang web của mình và bán cho khách hàng của mình theo từng
lần sử dụng hoặc là theo một khoảng thời gian sử dụng nhất định. Chẳng hạn, Nhật
báo Wall Street ( cho phép khách hàng quyền truy cập có thời
hạn 1 ngày tới một phiên bản báo trực tuyến của công ty với giá không đầy 50
cent. )
Trong chương 5 sẽ hướng dẫn chi tiết hơn việc xây dựng một website bán lẻ.
1.4.2. Mô hình giao dịch doanh nghiệp - doanh nghiệp (B2B)
Giữa các doanh nghiệp, TMĐT được sử dụng để trao đổi dữ liệu, mua bán và
thanh toán hàng hoá và dịch vụ. Về mặt công nghệ trong khi B2C chủ yếu sử dụng
cửa hàng ảo trên mạng, mô hình B2B chủ yếu sử dụng trao đổi dữ liệu điện tử
(EDI).Về thanh toán, trong mô hình dạng B2B việc thanh toán được tiến hành trên
cơ sở quyết toán bù trừ vào cuối kỳ và có thể thực hiện theo phương thức truyền
thống mà vẫn không làm giảm ý nghĩa của nó. Trong khi đó ở mô hình B2C, việc
thanh toán được quan tâm đặc biệt vì mua hàng lần nào thanh toán lần đó. Đấy là
chỗ khác nhau căn bản giữa hai loại mô hình B2B và B2C.
Có nhiều kiểu mô hình B2B cho các kiểu kinh doanh khác nhau, trong đó đặc
trưng nhất là các mô hình sau:
a)
Mô hình bán hàng trực tiếp cho nhà phân phối (B2B Direct)
Đây là mô hình áp dụng trong trường hợp bán hàng trực tiếp cho nhà phân
phối hay nhà bán lẻ (còn được gọi là hình thức bán buôn cho nhà bán lẻ. Ví dụ như
nhà nhập khẩu hàng hoá khi nhập khẩu hàng về trong nước có thể giao trực tiếp cho
các siêu thị, công ty kinh doanh bán lẻ; nhà máy sản xuất văn phòng phẩm bán trực
Về mặt công nghệ, thực chất của mô hình này là doanh nghiệp xây dựng một
catalogue chung, các thành viên của doanh nghiệp theo chức năng của mình sẽ được
chia sẻ một phần catalogue chung đó, phần catalogue mà một thành viên được chia
sẻ sẽ được doanh nghiệp áp dụng chính sách riêng, không phụ thuộc vào các chính
sách áp dụng cho các thành viên khác. Như vậy tuy cùng một loại hàng nhưng các
thành viên khác nhau sẽ được doanh nghiệp dành cho các giá bán buôn khác nhau,
thời hạn thanh toán, số lượng, chủng loại hàng hoá, dịch vụ khác nhau, lãi suất quá
hạn khác nhau, hỗ trợ khác nhau... và các thông tin này là thông tin bí mật giữa
doanh nghiệp và đại lý, các đại lý khác không được biết.
Mô hình này, trong thực tế rất phong phú và không chỉ cho hệ thống đại lý,
có thể vận dụng cho cả kiểu mua đứt, bán đoạn nhưng nhiều lần. Hai điều kiện để
áp dụng cho mô hình này là các thành viên chia sẻ thông tin chung theo những quy
định riêng của doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh có tính chất lâu dài.
c)
Mô hình mua hàng thông qua tập hợp các nhà cung cấp
Về công nghệ, mô hình mua hàng qua các nhà cung cấp là mô hình ngược
với mô hình bán hàng qua hệ thống đại lý. Mô hình bán hàng qua hệ thống đại lý
doanh nghiệp xây dựng catalogue và thông tin chung rồi sau đó cho phép các thành
viên tham gia được chia sẻ. Mô hình mua hàng qua các nhà cung cấp thì doanh
nghiệp không xây dựng catalogue mà các thành viên xây dựng các catalogue riêng
của mình sau đó đặt vào "chợ chung" để tạo nên catalogue chung.
Mô hình này được sử dụng để kiên kết các nhà cung cấp riêng lẻ thành một
nhà cung cấp lớn và tạo nên sức mạnh xâm nhập thị trường. Ví dụ một làng nghề có
nhiều cơ sở sản xuất với nhiều mặt hàng khác nhau. Mỗi cơ sở sản xuất xây dựng
một catalogue sản phẩm riêng của mình và đặt tại site chung (chợ chung) của cả
làng. Chợ chung sẽ có hàng nghìn sản phẩm và sẽ đáp ứng đầy đủ nhất nhu cầu của
o
Phân đoạn thị trường
o
Khách hàng
Mỗi site thể hiện như là một site riêng duy nhất cho khách hàng truy nhập, mỗi
site có thể áp dụng quy định kinh doanh riêng. Ví dụ, các vùng địa lý khác nhau có
thể có qui định giá cả, điều kiện thương mại và mức thuế khác nhau.
Mô hình XS khởi tạo và quản lý một cấu hình dữ liệu chung, các site sẽ chia sẻ
và sử dụng chung. DN có thể tạo XS chứa tất cả các khai báo cần thiết đối với
khách hàng của mình để xác lập site duy nhất cho một thị trường đặc biệt.
Ví dụ: Doanh nghiệp sản xuất ô tô có thị trường tiêu thụ là Việt Nam (miền Bắc,
Trung, Nam) và xuất khẩu ra thế giới (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc ...); tham
gia vào sản xuất có các nhà cung cấp linh kiện, bán thành phẩm, nội thất; tham gia
vào quá trình phân phối có các nhà xuất khẩu, các đại lý, salon ôtô.
Khi tham gia TMĐT, doanh nghiệp sản xuất ôtô có thể mở thêm các site ngoài
site chính của mình như:
• Site cho nhà cung cấp săm, lốp
• Site cho nhà cung cấp trang bị nội thất, ghế, đệm
• Site cho nhà cung cấp dây, cáp, bảng mạch điện cho ô tô
• Site cho tổng đại lý tiêu thụ
• Site chuyên cho xuất khẩu
• Site chuyên giới thiệu sản phẩm mới …
Tuy mở nhiều site, nhưng DN sản xuất ô tô chỉ cần dùng 1 catalogue chung,
các site tuỳ theo yêu cầu mà sử dụng một phần tài nguyên của catalogue chung này.
Khi sử dụng chung catalogue, doanh nghiệp có thể khai báo để các site mở thêm
bidder không biết các thông tin về giá của nhau.
•
Dutch – Không yêu cầu bidder đặt giá khởi điểm mà người quản trị đặt giá
và thông báo tới các thành viên tham gia đấu giá để xem ai chấp thuận giá
này không. Thông thường sẽ đặt ra một giá cao sau đó giảm dần tới khi có
bidder đồng ý mua.
f)
Mô hình gọi thầu
Việc tổ chức đấu thầu là một quá trình công phu đòi hỏi phải chuẩn bị kỹ càng
và có sự tham gia của Nhà nước. Các văn bản pháp quy về đấu thầu còn phải được
cụ thể hoá trong trường hợp đấu thầu qua mạng. Đó là điều kiện và cũng là cơ sở để
đảm bảo hiệu quả của đấu thầu qua mạng. Hàn Quốc là nước có kinh nghiệm trong
tổ chức đấu thầu mua sắm công. Hàng năm họ thẩm định và phân loại các công ty
tham gia muốn tham gia đấu thầu thành các hạng khác nhau.
Khi gọi thầu, người gọi thầu công bố gói thầu đó dành cho doanh nghiệp hạng
nào và chủ các doanh nghiệp hạng đó muốn được tham gia. Các nhà thầu Download
hồ sơ mời thầu để nghiên cứu. Tại thời điểm mở thầu, các nhà thầu chỉ gửi qua
mạng đến bản chào gửi và các điều kiện thương mại khác theo quy định của hồ sơ
thầu. Việc xét thầu sẽ diễn ra một cách nhanh chóng, chính xác và minh bạch. Năm
2004, kinh phí của Hàn Quốc dành cho mua sắm công là 38 tỷ USD, 95% mua sắm
được đấu thầu qua mạng và tiết kiệm được 2,8 tỷ USD.
Biểu 3. Sự khác nhau giữa B2B và B2C
Đặc tính
trung
gian
Giá trị lớn
Chuẩn hoặc không
1.4.3. Mô hình giao dịch giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng ( C2C)
Phương thức giao dịch thương mại điện tử C2C diễn ra giữa các cá nhân
người tiêu dùng với nhau. Tuy nhiên, khác với thương mại điện tử B2C hoặc B2B là
những mô hình kinh doanh dựa trên doanh nghiệp và do doanh nghiệp làm động
lực, thương mại điện tử C2C phụ thuộc rất nhiều vào trình độ thương mại điện tử
của từng cá nhân tham gia giao dịch cũng như nhận thức và nhu cầu của người tiêu
dùng nói chung trong xã hội.
Tại Việt Nam, với sự phát triển của Internet, nhu cầu tìm kiếm, cung cấp
thông tin về hàng hoá và dịch vụ qua mạng ngày càng lớn. Trong vài năm gần đây,
một số website xây dựng theo mô hình thương mại điện tử C2C cũng đã xuất hiện ở
Việt Nam, chủ yếu dưới hai hình thức website rao vặt và website đấu giá. Do yêu
cầu kỹ thuật không phức tạp và đòi hỏi về trình độ thương mại điện tử đối với người
tham gia cũng không lớn, các website rao vặt phát triển với tốc độ khá nhanh, cả về
số lượng trang web cũng như lượng thông tin đăng trên từng trang. Đây là những
website thông tin về các loại hàng hóa và dịch vụ cần bán, cần mua, đi cùng với một
số tiện ích như tìm kiếm, tư vấn tiêu dùng, v.v...
1.5. Ảnh hưởng của thương mại điện tử :
1.5.1. Tác động đến hoạt động marketing
Nghiên cứu thị trường: Một mặt TMĐT hoàn thiện, nâng cao hiệu quả các
hoạt động nghiên cứu thị trường truyền thống, một mặt tạo ra các hoạt động mới
giúp nghiên cứu thị trường hiệu quả hơn. Các hoạt động như phỏng vấn theo nhóm,
website, quảng cáo bằng e-mail, diễn đàn cho khách hàng trên mạng, dịch vụ hỗ trợ
khách hàng 24/7...
1.5.2. Thay đổi mô hình kinh doanh
Việc xuất hiện thương mại điện tử đã dẫn đến trào lưu hàng loạt doanh
nghiệp phát triển các mô hình kinh doanh từ truyền thống sang mô hình kinh doanh
thương mại điện tử như các Công ty Ford Motor, Dell Computer Corp… Bên cạnh
đó cũng đã hình thành các sàn giao dịch điện tử dạng B2B.
Với Ford, việc áp dụng TMĐT vào các hoạt động sản xuất kinh doanh đã
giúp công ty giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng hoá. Hệ thống
cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên
mạng, tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho.
Với Dell Computer Corp, áp dụng TMĐT trong các chiến lược thúc đẩy hoạt
động kinh doanh của công ty như lôi kéo các khách hàng đến với doanh nghiệp
bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, sản xuất hàng theo yêu cầu
(được biết đến dưới tên gọi “chiến lược kéo”), v.v..
Với mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản
qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công từ việc tạo
ra các lợi thế và giá trị mới cho khách hàng bằng TMĐT.
1.5.3. Tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
Các hãng sản xuất lớn nhờ ứng dụng TMĐT có thể giảm chi phí sản xuất
đáng kể. Có thể phân tích một số mô hình để thấy rõ hiệu quả của TMĐT trong sản
xuất. Hàng loạt các dịch vụ ngân hàng điện tử được hình thành và phát triển mở ra
cơ hội mới cho cả các ngân hàng và khách hàng như Internet banking, thanh toán
thẻ tín dụng trực tuyến, thanh toán bằng thẻ thông minh, mobile banking, ATM...
hoạt động vận tải, bảo hiểm. Đặc biệt, đối với hoạt động ngoại thương, TMĐT có
những tác động hết sức mạnh mẽ do đặc thù của Internet là rộng lớn trên toàn cầu,
rất phù hợp với các giao dịch thương mại quốc tế. Mọi hoạt động trong quy trình
kinh doanh quốc tế đều chịu tác động của TMĐT.
chất lượng, tính pháp lý trong giao dịch). Về thực trạng này, thông qua phiếu điều
tra, các doanh nghiệp cũng đã đề xuất phía cơ quan quản lý nhà nước cần đẩy mạnh
tuyên truyền, phổ biến để người tiêu dùng tin tưởng và biết đến lợi ích của TMĐT,
đồng thời cần nhanh chóng hoàn thiện các chính sách pháp luật liên quan đến
TMĐT như vấn đề chữ ký số, hoá đơn điện tử, giải quyết tranh chấp…
Báo cáo được thực hiện dự trên việc điều tra với 2004 doanh nghiệp trên cả
nước và dự kiến sẽ được công bố chính thức vào ngày 12/5/2010.
1.7. Tình hình xuất khẩu tiêu việt Nam cuối năm 2008 đầu năm 2009:
Tin từ Bộ Thương mại cho biết từ đầu năm đến nay các doanh nghiệp trong
nước đã xuất khẩu 59.000 tấn hạt tiêu, đạt kim ngạch 84 triệu USD (tăng 40% về
lượng và 44% về giá trị.
Việc nhu cầu thế giới tiếp tục tăng, nguồn cung hạt tiêu trên thị trường khan
hiếm, giá xuất khẩu cao và ổn định đã có tác động tốt đến giá thu mua hạt tiêu nội
địa.
Hiện giá thu mua hạt tiêu trong nước đã tăng lên trên mức 19.000 đồng/kg.
Riêng trong tháng 5/2006, các doanh nghiệp đã xuất khẩu 14.000 tấn hạt tiêu với
kim ngạch 20 triệu USD. Hiện Việt Nam đang nắm giữ một nửa thị trường hạt tiêu
thế giới và có mặt ở 73 quốc gia, nhiều nhất là Mỹ, các nước EU, vùng Trung Đông.
Hạt tiêu Việt Nam được các nước đánh giá đóng
vai trò quyết định trên thị trường thế giới. Tại một số
thị trường lớn, hạt tiêu Việt Nam chiếm vai trò chi
phối quan trọng, chẳng hạn như 33% tổng nhu cầu
tiêu thụ tại Mỹ và 40% tại EU. Gần đây, đã có doanh
nghiệp Nhật Bản sang Việt Nam đầu tư xây dựng nhà
máy chế biến hạt tiêu đưa về Nhật Bản tiêu thụ.
Việt Nam được bầu giữ chức Chủ tịch trong năm
2007. Vài ba năm trở lại đây nhiều doanh nghiệp đã
đầu tư các dây chuyền sản xuất tiêu sạch, chế biến hạt
Gia Lai, Lâm Đồng, Bình Dương, Tây Ninh, Cần Thơ… Năm 2008, Intimex
Hochiminh được xếp hạng 5 trong 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam với
tốc độ tăng trưởng về kim ngạch và doanh thu bình quân từ 20-50%/năm. Kim
ngạch xuất nhập khẩu bình quân hàng năm của Intimex Hochiminh đã vượt 300
triệu USD, doanh thu đạt trên 7.000 tỉ đồng.
Trong lĩnh vực xuất khẩu, Intimex Hochiminh đã trở thành doanh nghiệp
hàng đầu Việt Nam về xuất khẩu cà phê, hạt tiêu với số lượng xuất khẩu bình quân
từ 120.000 – 150.000 tấn cà phê/năm (chiếm 15% lượng cà phê xuất khẩu của cả
nước) và từ 7.000 – 10.000 tấn tiêu/năm (chiếm 10% lượng tiêu xuất khẩu của cả
nước). Ngoài ra, Intimex Hochiminh còn đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông
sản khác như: gạo, hạt điều, cao su, sắn lát, tinh bột sắn…
Trong lĩnh vực nhập khẩu, Intimex Hochiminh đang là doanh nghiệp hàng
đầu Việt Nam về nhập khẩu thực phẩm đông lạnh với số lượng hàng ngàn tấn/tháng
Intimex Hochiminh đã xây dựng nhà máy chế biến tiêu xuất khẩu hiện đại
theo tiêu chuẩn ASTA cùng nhà máy chế biến cà phê chất lượng cao tại Bình
Dương và sẽ tiếp tục xây dựng những nhà máy tương tự tại các tỉnh Tây Nguyên…
Intimex Hochiminh đã nhiều năm liền nhận được những giải thưởng quan
trọng do Bộ Công Thương, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng các tổ
chức có uy tín khác trao tặng. Đó chính là một trong những đánh giá xác thực về sự
thành công cũng như uy tín của Công ty.
Bên cạnh những thành tích trên của Intimex Hochiminh, ông Đỗ Hà Nam –
Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị, Tổng Giám đốc Công ty– còn được tín nhiệm bầu làm
Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao
Việt Nam (VICOFA).
Sơ đồ tổ chức:
Thành tích Công ty:
34.906.826,17
524,154
42.506.662,49
665,216
71.986.805,80
1.156,307
98.902.541,17
1.673,850
105.625.162,13
1.869,159
191.065.942,32
3.565,280
291.747.869,67
5.202,000
314.813.407,00