Lỗi chính tả tiếng việt của học sinh dân tộc mông tại huyện điện biên đông, tỉnh điện biên - Pdf 41

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, hiện tƣợng viết sai chính tả rất phổ biến trong cả nƣớc. Có
thể nói không quá rằng, nhìn ở đâu cũng có lỗi chính tả: từ bài viết của học
sinh đến các biển hiệu trên phố, thậm chí là các ấn phẩm là văn bản viết bằng
tiếng Việt xét về phƣơng diện chính tả, chữ viết (các chữ cái ghi âm, vần, vị
trí các dấu thanh, viết hoa, ...) dƣờng nhƣ đều có vấn đề cần phải bàn.
“Lỗi là những điều sai sót do không thực hiện đúng quy tắc”. Lỗi chính tả
là do viết chính tả không đúng chuẩn. "Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn viết các
âm (phụ âm, nguyên âm, bán âm) và các thanh; chuẩn viết tên riêng (viết hoa);
chuẩn viết phiên âm từ và thuật ngữ vay mượn" [27, tr 125]. Chính tả trƣớc hết là
sự quy định có tính chất xã hội, nó không cho phép vận dụng quy tắc một cách
linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân. Do đó nó có một vị trí rất quan trọng. Nó
không chỉ quan trọng đối với mỗi cá nhân mà còn quan trọng với toàn xã hội. Viết
đúng chính tả và thực hành tốt các kĩ năng viết chữ không chỉ có ý nghĩa trong
giao tiếp mà còn thể hiện năng lực tƣ duy và trình độ văn hóa của mỗi ngƣời.
Đối với các trƣờng Trung học cơ sở, viết đúng chính tả là một trong
bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cần hoàn thiện cho học sinh, góp phần giữ
gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Điện Biên là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc, có nhiều cộng đồng dân
tộc khác nhau sinh sống, nhƣ Thái, Mông, Kinh, Khơ Mú, Xinh Mun, Lào, ...
Đây là vùng có núi non hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu khắc
nghiệt, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Trƣớc đây do hoàn cảnh xã hội, tùy
thuộc điều kiện địa hình, dân tộc Mông thƣờng sống quần tụ thành từng thôn
bản từ vài ba nóc nhà đến vài chục nóc nhà, ngƣời Mông ít có điều kiện đi
học, nhất là con gái lấy chồng rất sớm và đa số không đƣợc đi học. Điều này

1


ảnh hƣởng không nhỏ đến cách viết chính tả của học sinh nơi đây. Ở tỉnh

Trong quá trình học tập, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ với
cá nhân mà còn đối với cả cộng đồng xã hội. Viết đúng chính tả, phát âm
chuẩn chính tả và thực hành tốt kĩ năng tạo lập văn bản sẽ đem lại hiệu quả
giao tiếp đồng thời thể hiện năng lực văn hóa của mỗi con ngƣời.
Nhiều công trình điều tra, khảo sát về thực trạng sử dụng ngôn ngữ
của học sinh phổ thông cũng đƣợc trình bày. Nhƣ Mấy gợi ý về việc phân
tích và sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh (Nguyễn Minh Thuyết, Ngôn ngữ, số
3.1974). Hay của Phan Ngọc Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội (NXB
Giáo dục, Hà Nội năm 1984); Hồ Lê – Lê Trung Hoa Sửa lỗi ngữ pháp
(NXB Giáo dục, Hà Nội năm 1990)... Những công trình này đã giúp cho giáo
viên giảng dạy ở trƣờng phổ thông có đƣợc những công cụ làm việc hữu ích.
Trong thời gian gần đây, vẫn có nhiều tác giả tiếp tục đi sâu nghiên
cứu một cách khá toàn diện về lỗi sử dụng ngôn ngữ của học sinh trong nhà
trƣờng và đã xuất bản các công trình của mình. Cụ thể là:
Nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (1997) trong cuốn
“Tiếng Việt thực hành” của NXB Giáo dục đã nêu lên tƣơng đối có hệ thống
về việc sử dụng ngôn ngữ từ chữ viết, chính tả đến việc dùng từ, đặt câu và
tạo lập văn bản. Các tác giả cũng phân tích, lí giải thuyết phục về lỗi sử dụng
ngôn ngữ mà học sinh thƣờng mắc phải và nêu lên cách khắc phục.
Các tác giả Lê Phƣơng Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo
trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, NXB Đại học sƣ
phạm 2009 đã đƣa ra những khái niệm về chính tả và chuẩn chính tả, xây
dựng đƣợc nội dung, yêu cầu và hình thức chính tả cho từng khối lớp học.
Trên cơ sở mục tiêu, nội dung chƣơng trình, cuốn sách cũng nêu phƣơng
pháp, hình thức dạy học chính tả ở cấp tiểu học hiện nay.
Tác giả Phan Ngọc trong sách Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi
chính tả (NXB Thanh niên Hà Nội 2000), đã cung cấp cho chúng ta một số

3




giải pháp dạy học chính tả theo vùng phƣơng ngữ và việc dạy học viết cho
học sinh dân tộc. Tuy nhiên, các công trình trên đa phần còn mang tính định
hƣớng chung cho dạy học chính tả tiếng Việt chứ chƣa có tác giả nào đi sâu
nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho địa bàn cụ thể
là huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Chính vì vậy, tìm hiểu thực trạng
lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông ở địa bàn này và đƣa ra một số giải
pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục là vấn đề
cấp thiết đối với ngƣời làm công tác trong ngành giáo dục nhƣ chúng tôi.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các lỗi chính tả tiếng Việt của
học sinh tại ba trƣờng THCS trên địa bàn huyện Điện Biên Đông.
Phạm vi khảo sát lỗi là các bài kiểm tra học kì môn Ngữ văn cũng nhƣ các
bài nghe (đọc) – viết chính tả của học sinh từ khối lớp 6 đến khối lớp 9 tại các
trƣờng: THCS Thị Trấn; PTDTBT THCS Sa Dung và PTDTBT THCS Tân Lập.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hƣớng tới việc xác định những đặc điểm lỗi chính tả của học
sinh dân tộc Mông khi viết tiếng Việt. Trên cơ sở mục đích này, luận văn giải
quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa lí thuyết về chính tả tiếng Việt.
- Khảo sát thực trạng lỗi chính tả của học sinh ba trƣờng THCS trên địa
bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông.
- Đề xuất các giải pháp và tiến hành thực nghiệm khắc phục lỗi chính tả
của học sinh dân tộc Mông.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu sau:
5.2.1. Phương pháp thống kê



6


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Những nét chính liên quan đến lịch sử vấn đề
Vấn đề nghiên cứu tiếng Việt trong nhà trƣờng nói chung và chính tả
trong nhà trƣờng nói riêng từ lâu đã thu hút đƣợc sự quan tâm chú ý của
nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Các công trình đã bàn về vấn đề này từ
nhiều khía cạnh khác nhau. Việc biên soạn sách giáo khoa cho phân môn
tiếng Việt cũng đƣợc đặc biệt chú ý cải thiện và nâng cao chất lƣợng. Hàng
loạt sách tham khảo về tiếng Việt làm tài liệu giảng dạy cho giáo viên và tài
liệu hƣớng dẫn cho học sinh đã đƣợc xuất bản.
Trong quá trình học tập, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ với
cá nhân mà còn đối với cả cộng đồng xã hội. Viết đúng chính tả, phát âm
chuẩn chính tả và thực hành tốt kĩ năng tạo lập văn bản sẽ đem lại hiệu quả
giao tiếp đồng thời thể hiện năng lực văn hóa của mỗi ngƣời.
Nhiều công trình điều tra, khảo sát về thực trạng sử dụng ngôn ngữ
của học sinh phổ thông cũng đƣợc trình bày. Nhƣ Mấy gợi ý về việc phân
tích và sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh (Nguyễn Minh Thuyết, Ngôn ngữ, số
3.1974). Hay của Phan Ngọc Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội (NXB
Giáo dục, Hà Nội năm 1984); Hồ Lê – Lê Trung Hoa Sửa lỗi ngữ pháp
(NXB Giáo dục, Hà Nội năm 1990)... Những công trình này đã giúp cho giáo
viên giảng dạy ở trƣờng phổ thông có đƣợc những công cụ làm việc hữu ích.
- Nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (1997) trong
cuốn “Tiếng Việt thực hành” của NXB Giáo dục đã nêu lên tƣơng đối có hệ
thống về việc sử dụng ngôn ngữ từ chữ viết, chính tả đến việc dùng từ, đặt
câu và tạo lập văn bản. Các tác giả cũng phân tích, lí giải thuyết phục về lỗi
sử dụng ngôn ngữ mà học sinh thƣờng mắc phải và nêu lên cách khắc phục.


8


Tóm lại, các công trình tiêu biểu mà chúng tôi vừa liệt kê ở trên đã
phản ánh đƣợc tầm quan trọng của dạy học chính tả cũng nhƣ thực trạng và
giải pháp dạy học chính tả theo vùng phƣơng ngữ và việc dạy học viết cho
học sinh dân tộc. Tuy nhiên, các công trình trên đa phần còn mang tính định
hƣớng chung cho dạy học chính tả tiếng Việt chứ chƣa có tác giả nào đi sâu
nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho địa bàn cụ thể
là huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Chính vì vậy, tìm hiểu thực trạng
lỗi chính tả của học sinh dân tộc Mông ở địa bàn này và đƣa ra một số giải
pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục là vấn đề
cấp thiết đối với ngƣời làm công tác trong ngành giáo dục nhƣ chúng tôi.
1.2. Vấn đề chính tả và chính tả tiếng Việt
Để làm cơ sở cho việc thực hiện nhiệm vụ của luận văn, ở đây chúng
tôi sẽ trình bày những thu nhận của mình về chính tả và chính tả tiếng Việt.
1.2.1. Chính tả
Theo “Từ điển tiếng Việt” chính tả là “cách viết chữ đƣợc coi là
chuẩn” [Hoàng Phê, 1992, tr173]. Nhƣ vậy, theo nghĩa gốc của từ này, chính
tả là phép viết đúng, là cách viết hợp với chuẩn và những quy định mang tính
quy ƣớc xã hội, đƣợc mọi ngƣời trong một cộng đồng chấp nhận và tuân thủ.
Ở Việt Nam, trên đại thể hệ thống quy tắc chính tả là những quy định mang
tính quy ƣớc xã hội về cách viết các từ, viết các chữ hoa, cách dùng dấu câu,
cách viết các từ phiên âm hoặc chuyển tự. Do đó, chính tả trƣớc hết là sự quy
định có tính chất xã hội bắt buộc gần nhƣ tuyệt đối, nó không cho phép con
ngƣời vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân.
Nhƣ vậy, nói về chính tả chúng ta phải nói về cách viết chữ của một
ngôn ngữ cụ thể nào đó. Cách viết này là sự quy định có tính chất xã hội bắt
buộc gần nhƣ tuyệt đối. Khi đó, nó không cho phép cá nhân vận dụng quy tắc

"Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bán
âm) và các thanh; chuẩn viết tên riêng (viết hoa); chuẩn viết phiên âm từ và

10


thuật ngữ vay mượn" [29, tr.125].
Nhƣ vậy, có thể hiểu chuẩn chính tả là cách viết đúng, hợp với chuẩn
và những quy tắc về cách viết chuyển từ dạng thức ngôn ngữ nói sang dạng
thức ngôn ngữ viết. Đó là những quy định mang tính xã hội cao, đƣợc mọi
ngƣời trong cộng đồng chấp nhận và mọi ngƣời đều phải tuân theo. Những
cách viết chữ không đúng so với chuẩn đƣợc coi là sai chính tả.
a) Quy tắc chữ cái ghi âm vị trong âm tiết
Đó là xác định cách viết đúng cho các âm vị trong âm tiết. Trong tiếng
Việt về chữ i/y, có quy tắc nhƣ sau:
Khi đứng liền sau phụ âm đầu trong âm tiết mở, âm chính /i/ đƣợc viết
là i, trừ trƣờng hợp đứng liền sau các phụ âm h, k, l, m, s, t hoặc trong các tên
riêng có thể viết là i hay y tùy theo ý muốn chủ quan của ngƣời viết hay ngƣời
đƣợc mang tên riêng đó (Ví dụ: Tẩn Mí Khé; Tống Mỹ Linh hay Tống Mĩ
Linh;...). Năm 1980, để đảm bảo thống nhất chính tả trong sách giáo khoa, Bộ
Giáo dục đã phối hợp với Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam quy định các
trƣờng hợp âm chính /i/ đứng liền sau phụ âm đều viết là i. Tuy nhiên, quy
định này chỉ áp dụng đối với sách giáo khoa phổ thông. Trong các loại văn
bản khác (văn bản quy phạm pháp luật, sách báo,...) mỗi ngƣời viết một khác.
Do thẩm mĩ, có ngƣời thích viết y vì cho rằng y đẹp hơn.
Có nghiên cứu cho rằng: /i/ viết là i đối với các từ thuần Việt: ỉ thác,
ầm ĩ...; viết y đối với các từ gốc Hán (y tá, hội ý,...). Tuy nhiên, các từ Hán
Việt nhƣ hi hữu, trí tuệ, thống trị, thi vị, hùng vĩ... âm /i/ thƣờng chỉ viết là i.
b) Quy tắc ghi dấu thanh
Trong tiếng Việt, các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng đƣợc đặt trên đầu

(2) Phiên âm qua âm Hán Việt. Ví dụ: Đỗ Phủ, Luân Đôn,...
(3) Phiên âm trực tiếp, theo cách phát âm của nguyên ngữ. Ví dụ: Víchto Hu-gô, Crix-tô-phô-rô, Cô-lôm-bô, Pa-ri, Mát-xcơ-va, ...

12


(4) Giữ nguyên dạng nếu nguyên ngữ sử dụng chữ La tinh hoặc chuyển tự
nếu nguyên ngữ sử dụng hệ chữ khác. Ví dụ: Victor Hugo, UNICEP, ASEAN,...
1.2.3. Đặc điểm của chính tả tiếng Việt
a. Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm. Về cơ bản, chính tả tiếng Việt
là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị đƣợc ghi bằng một con chữ. Nói cách
khác, giữa cách đọc và cách viết về cơ bản thống nhất với nhau. Đọc nhƣ thế
nào sẽ viết nhƣ thế ấy. Từ việc xác định chính xác âm thanh của lời nói sẽ giúp
viết đúng chính tả. Khi viết chính tả tiếng Việt cần tuân thủ nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc ngữ âm học. Tức là, cách viết của từ phải biểu hiện đúng
ngữ âm của từ: phát âm thế nào thì viết thế ấy. Bởi vì tiếng Việt là chữ ghi âm
vị nên nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản nhất. Nó thể hiện ở chỗ cách viết
của mỗi từ thể hiện đúng âm cần đọc của từ. Nguyên tắc ngữ âm học chi phối
hầu hết cách viết các chữ trong bộ chữ tiếng Việt. Chẳng hạn: /b/ ghi là b, /t/
ghi là t, /m/ ghi là m v.v. Quan hệ giữa âm và chữ về cơ bản là quan hệ 1 - 1.
- Nguyên tắc truyền thống. Có nghĩa là chính tả không thay đổi thói
quen từ lâu đời. Trong chữ viết tiếng Việt có những cách viết chấp nhận quy
định từ xa xƣa để lại nhƣ là cách viết các chữ c, k, q cho một âm đầu /k/. Âm
đầu /k/ khi đứng trƣớc các chữ ghi nguyên âm /i, iê, e/ trong âm tiết th́ viết là
chữ k; nhƣng khi đứng trƣớc các chữ ghi nguyên âm /a, ă, o/...vv thì lại viết
bằng con chữ c. Nguyên tắc truyền thống trong chính tả tiếng Việt khiến cho
chữ viết không còn phản ánh ngữ âm đƣơng đại một cách trung thực, tiết
kiệm, gây nhiều rắc rối cho việc học chữ, nhất là đối với trẻ em.
b. Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa. Trong thực tế, muốn viết
đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một

“Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng” đều sử dụng, cụ thể là:
Lỗi mà người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ, có thể là
tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ hai hay một ngoại ngữ) là tình trạng người học sử
dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn viết một từ, cùng một đơn vị ngữ

14


pháp, thực hiện một hoạt động nói năng v.v..) theo cách mà người bản ngữ
hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ với chuẩn
đã được cộng đồng nói thứ tiếng đó chấp nhận và tôn trọng.
1.3.1.2. Đôi nét về ngữ âm tiếng Việt và chữ viết
a) Đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt
Trong tiếng Việt, âm tiết (hay tiếng) là đơn vị phát âm tự nhiên, rất dễ
nhận biết. Khi nói cũng nhƣ khi viết, mỗi âm tiết đƣợc tách bạch rõ ràng. F.de
Saussure nhận xét rằng trong ngôn ngữ không chỉ có các âm mà có cả các
đoạn âm. L.R. Zinder thì cho rằng sự phân chia lời nói tự nhiên thành những
đơn vị nhỏ hơn là không thể xảy ra. Âm tiết chính là nơi giao nhau giữa kích
thƣớc của việc phân đoạn lời nói và khái niệm nội dung ngữ âm.
Ví dụ: Tôi đang học bài. Chúng ta nghe đƣợc những khúc đoạn tự nhiên
trong chuỗi lời nói đó nhƣ sau: Tôi/ đang/ học/ bài. Câu này có 4 âm tiết.
- Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ rõ ràng. Mỗi âm tiết ở dạng tối
đa thƣờng gồm ba phần: phụ âm đầu, vần và thanh điệu. Phần vần tối đa lại
bao gồm ba âm: âm đệm, âm chính và âm cuối. Còn tối thiểu, âm tiết tiếng
Việt phải có âm đầu, âm chính và thanh điệu. Âm chính luôn luôn phải là một
nguyên âm. Cấu tạo của âm tiết chia thành hai bậc nhƣ sau:
Bậc 1: Âm đầu
Bậc 2: Vần (bao gồm âm đệm, âm chính và âm cuối).
Thanh điệu
Phụ âm đầu

Âm

Âm

tiết

đầu

âm đệm

âm chính

âm cuối

á

ze ro

ze ro

a

ze ro

sắc

ồn

ze ro


Ngang

tận

t

ze ro

â

n

nặng

quyển

q

U



n

hỏi

khuya

kh


cho rằng âm đầu gồm 23 âm khi thêm phụ âm /p/.
Trƣờng hợp phụ âm /p/, có tác giả cho rằng, âm vị này chỉ xuất hiện
trong các âm tiết là từ phiên âm (đèn pin) nên không thừa nhận là phụ âm đầu
tiếng Việt. Tuy nhiên, có thể thấy sự xuất hiện của /p/ trong các từ địa danh và
tên riêng (Sa Pa, Pa Cá,...). Vì vậy /p/ cũng đƣợc coi là phụ âm đầu của tiếng

16


Việt. Toàn bộ số lƣợng âm vị âm đầu tiếng Việt đƣợc trình bày nhƣ sau:
Vị trí
Phƣơng thức

Tắc Ồn

Đầu lƣỡi

Mặt

Gốc

Thanh

Bẹt quặt lƣỡi

lƣỡi

hầu

Bật hơi


s

ş

χ

Hữu thanh

v

z

ʐ

γ

Vang
Xát Ồn

Môi

Vang

H

l

Để phân biệt phụ âm trong hệ thống phụ âm ngƣời ta phân biệt dựa vào
ba tiêu chí:


Chữ viết

âm đầu

Ví dụ

1

/b/

B

bàn, bánh, ...

2

/m/

M

mình, mành, ...

3

/f/

Ph

phim, pháo, ...


đang, đo đỏ, ...

8

/n/

N

nó, nắng, ...

9

/s/

X

xinh xắn, xin, ...

10

/z/

d, gi, g (gì)

dao, dỗ dành, gia, giang, gió, gì, gìn,

11

/l/

rõ ràng, rổ, ...

15

/c/

Ch

cha, chú, ...

16

/ɲ/

Nh

nhớ nhung

17

/k/

k, c, q

kẻ, kể, kiếp, cá, cờ, cốm, quân, quanh, ...

18

/ŋ/


/h/

H

hoa huệ, hoa hồng, ...

Trong 22 phụ âm đầu, những âm vị có nhiều hình thức chữ viết là
những trƣờng hợp đáng chú ý:
- Âm vị âm đầu đƣợc ghi bằng hai chữ cái là 9 /f, t`,ʈ , z, c, ɲ, ŋ, χ, γ /.
- 3 âm vị / k, ŋ, γ/ có hai hình thức chữ viết, nhƣng không đƣợc sử dụng
một cách tự do, mà phải sử dụng theo quy tắc ngữ âm. Âm vị âm đầu /k/ có
lúc viết là “k”, có lúc viết là “c”, lúc khác lại viết là “q”. Hoặc nhƣ âm vị /γ/
tùy từng trƣờng hợp có thể ghi bằng hai cách là “g”, “gh”. Hoặc nhƣ âm vị /ŋ/
có lúc ghi “ng”, có lúc ghi “ngh”. Quy tắc kết hợp nhƣ sau:
Âm vị

Chữ viết
k (kiến, kí...)

/k/

/γ/

Nguyên tắc kết hợp
Khi kết hợp với nguyên âm hàng trƣớc / i, e, ε,
εˇ, ie/
Khi kết hợp với nguyên âm hàng sau: /ɤ, ɤˇ, a,

c (có, ca, cù...)


“giâu gia”, viết “dâu da” hay “giâu gia”? Theo thói quen, nhiều ngƣời thƣờng
viết là “dâu da”, chứ ít khi viết “giâu gia”. Nhƣng khi tìm trong quyển “Từ
điển tiếng Việt” của Hoàng Phê, mục từ “dâu da” [22, tr.249] thì thấy viết:
“dâu da x. giâu gia” (x. viết tắt từ xem). Lật tiếp sang mục từ “giâu gia” [22,
tr.298] thì lại thấy ghi: “giâu gia cv. dâu da. d. Cây to cùng họ với trẩu, lá
hình bầu dục, quả tròn, mọc từng chùm, ăn hơi chua.” (cv: cũng viết).
Nhƣ vậy, hai từ “dâu da” và “giâu gia” đều cùng tồn tại, đều có thể sử
dụng trong khi viết và nói, không có từ nào là sai, ngƣời dùng muốn viết cách
nào cũng đƣợc. Một số (cặp) từ tiêu biểu thuộc loại này nhƣ: dàn/ giàn
(mướp), (trôi) dạt/ giạt, dẫm /giẫm (đạp), dong/ giong (buồm)...
* Khả năng kết hợp của âm vị âm đầu: Kết hợp với tất cả các nguyên
âm và âm đầu vần. Tuy nhiên, có một số trƣờng hợp cần lƣu ý nhƣ sau:
Nhóm phụ âm môi /p, b, m, f, v/ không kết hợp với âm đầu vần (trƣờng
hợp thùng phuy, khăn voan là hãn hữu). Nhóm phụ âm đầu lƣỡi /t`, t, d, n, ʈ,
s, z, l, ş, ʐ/ có thể kết hợp với tất cả nguyên âm và âm đầu vần (riêng phụ âm
/n/ và /ʐ/ kết hợp hạn chế với âm đầu vần (trƣờng hợp noãn bào, ruy băng là

20


hãn hữu). Nhóm phụ âm mặt lƣỡi /c/ và /ɲ/ kết hợp đƣợc với tất cả các
nguyên âm và âm đầu vần. Nhóm phụ âm cuối lƣỡi /k, ŋ, χ, γ/ có thể kết hợp
với tất cả nguyên âm và âm đầu vần, trừ phụ âm /γ/ kết hợp hạn chế với âm
đầu vần (chỉ có một trƣờng hợp: góa). Nhóm phụ âm thanh hầu /q/, và /h/:
Kết hợp đƣợc với các nguyên âm và âm đầu vần.
2. Âm đầu vần (âm đệm)
Trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt, âm đệm đứng ở vị trí thứ hai của âm
tiết, vị trí thứ nhất của phần vần. Âm đệm còn gọi là âm nối, tiền chính âm.
Không giống nhƣ phụ âm đầu, âm đệm có thể khuyết (zêrô).
* Số lượng âm đầu vần: Trong tiếng Việt chỉ có một bán âm /-w-/ làm

u

e

ɤ

o

ε

a

ɔ

ɤˇ

4 nguyên âm ngắn
3 nguyên âm đôi

εˇ

ă

ɔˇ

ie

ɯɤ

uo

tròn môi

Tròn môi

ɯ

u

e

ɤ/ ɤˇ

o

ε/ εˇ

a/ ă

ɔ/ ɔˇ

ie

ɯɤ

uo


Để phân biệt nguyên âm trong bảng hệ thống nguyên âm, ngƣời ta dựa
vào 4 tiêu chí:
- Chiều hƣớng của lƣỡi: khi phát ra một nguyên âm, lƣỡi có thể dịch


Ê

3

/ε/

E

4

/εˇ/

a (anh, ach)

5

/ie/

iê, ia, yê, ya

6

/ɯ/

Ƣ

23



/u/

U

13

/o/

Ô

14

/ɔ/

o(on), oo(oong, ooc)

15

/ɔˇ/

o (ong oc)

16

/uo/

uô, ua

ƣơ, ƣa



- Căn cứ vào nghĩa: tay
/ă/

/ie/

ă

Trong các âm tiết ăn, chăn...

a

Các âm tiết có vần ay và au nhƣ tay, hay, cau, cháu...



Khi âm tiết chỉ có phụ âm đầu, âm chính, âm cuối (tiền, tiêu...)

ia

Khi âm tiết không có âm cuối (chia, bịa, phía...)



Khi có âm đệm và âm cuối (tuyến, khuyên...) hoặc khi mở đầu
âm tiết (yến, yên...)

ya

Khi âm tiết có âm đệm, không có âm cuối (khuya)

với âm đầu vần. Các nguyên âm còn lại đều có khả năng kết hợp với âm đầu
vần (trƣờng hợp âm tiết có phụ âm đầu và âm đầu vần, ví dụ: hoa, huyền, ...).
4. Âm vị âm cuối
Âm vị âm cuối đứng ở vị trí cuối vần và cũng là vị trí cuối âm tiết. Đó
là âm kết thúc âm tiết. Âm đảm nhiệm vị trí này là bán nguyên âm cuối hoặc
phụ âm cuối. Vị trí của âm vị âm cuối có thể khuyết.
* Số lượng âm vị âm cuối

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status