TÌM HIỂU LỖI CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THÁI, DÂN TỘC MÔNG TẠI TRƯỜNG THCS TÔ HIỆU HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
............................................

ĐINH THỊ HUYỀN TRANG

LỖI CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT
CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THÁI, DÂN TỘC MÔNG
TẠI TRƯỜNG THCS TÔ HIỆU HUYỆN MAI SƠN,
TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

SƠN LA – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
............................................

ĐINH THỊ HUYỀN TRANG

LỖI CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT
CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THÁI, DÂN TỘC MÔNG
TẠI TRƯỜNG THCS TÔ HIỆU HUYỆN MAI SƠN,
TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Việt Nam
Mã số: 60.220.102

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN


Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê
bình của các thầy cô giảng viên và các bạn đồng nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn !
Sơn La, tháng 11 năm 2015
Tác giả

Đinh Thị Huyền Trang


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

1

Lí do chọn đề tài

1

2

Mục đích nghiên cứu.

4


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ CHO VIỆC THỰC HIỆN
LUẬN VĂN

8

1.1.

Những nét chính liên quan đến lịch sử vấn đề.

8

1.2.

Vấn đề chính tả và chính tả tiếng Việt.

12

1.2.1.

Chính tả

12

1.2.2.

Một số nội dung của chính tả tiếng Việt

14


1.3.1.3.

Cách hiểu về lỗi chính tả trong tiếng Việt

23

1.3.2.

Lỗi chính tả và việc dạy học tiếng Việt cấp THCS.

30

1.3.2.1.

Nhiệm vụ dạy học tiếng Việt cấp THCS.

30

1.3.2.2.

Nội dung dạy học tiếng Việt cấp THCS.

31


1.4.

Một số đặc điểm kinh tế - xã hội - giáo dục huyện Mai Sơn.

33

1.5.

Tiểu kết chương 1.

38

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN LỖI CHÍNH TẢ
CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THÁI VÀ MÔNG Ở
TRƯỜNG THCS TÔ HIỆU, MAI SƠN
2.1.

40

Thực trạng chung về lỗi chính tả của học sinh Thái và Mông
tại trường THCS Tô Hiệu

40

2.1.1.

Số liệu tổng thể.

40

2.1.2.

Phân tích theo vùng cư trú.

41


2.2.3.

Lỗi phần vần

51

2.2.3.1

Lỗi âm đệm

51

2.2.3.2.

Lỗi âm chính

52

2.2.3.3.

Lỗi âm cuối

54

2.2.4.

Lỗi thanh điệu

56

65

2.3.2.

Nguyên nhân chủ quan

67

2.3.2.1.

Nguyên nhân từ phía học sinh

67

2.3.2.2.

Nguyên nhân từ phía giáo viên

70

2.3.3.

Những nguyên nhân khác

71

2.4.

Tiểu kết chương 2



76

3.1.1.3.

Cách ghi hệ thống thanh điệu trong ngữ âm tiếng Thái

77

3.1.1.4.

Kết hợp vần trong tiếng Thái

77

3.1.2.

Đặc điểm ngữ âm tiếng dân tộc Mông

78

3.1.2.1.

Cấu trúc âm tiết trong tiếng Mông ở Mai Sơn

78

3.1.2.2.

Hệ thống phụ âm trong tiếng Mông.

Việt

82

3.2.1.1.

Những nét tương đồng cơ bản

82

3.2.1.2.

Sự khác biệt về chữ viết và cấu âm giữa tiếng Việt và tiếng 83
Thái

3.2.2.

Sự khác biệt về ngữ âm tiếng Mông với tiếng Việt và những
ảnh hưởng đến việc học tiếng Việt cấp THCS

84

3.2.2.1

Về hệ thống phụ âm

84

3.2.2.2.


Ngữ văn trong nhà trường.

3.3.2.

88

Giải pháp xuất phát từ kết quả học tập tại trường THCS Tô
Hiệu, Mai Sơn.

3.3.3.

86

90

Giải pháp tạo môi trường giao tiếp và sử dụng tiếng Việt cho
học sinh dân tộc 54

91

3.3.4.

Giải pháp liên quan đến giáo viên

93

3.4.

Tiểu kết chương 3.


SGV

Sách giáo viên

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 2.1

Thống kê lỗi chính tả của học sinh theo khối lớp

Bảng 2.2

Lỗi chính tả của học sinh dân tộc Thái, Mông phân theo
vùng.

Bảng 2.3


giữ gìn, bảo vệ nguồn tài sản vô giá đó để nó không bao giờ mai một theo thời
gian. Cố Thủ ttướng Phạm Văn Đồng đã từng phát biểu tại hội nghị: “Giữ gìn
sự trong sáng của Tiếng Việt về mặt từ ngữ” được tổ chức tại Hà Nội
(26/10/1979) : “Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp… Chúng ta cảm thấy và
thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp của tiếng nước ta, tiếng nói của quần
chúng nhân dân trong ca dao và dân ca, lời văn của các nhà văn lớn. Chính
cái giàu đẹp đó đã làm nên cái chất, giá trị, bản sắc, tinh hoa của tiếng Việt,
kết quả của cả một quá trình và biết bao công sức dồi mài...”
Tóm lại, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là một trong những nhiệm
vụ cách mạng của Đảng ta, của nhân dân ta. Vậy giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt là làm gì? Cũng tại hội nghị: “Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
về mặt từ ngữ”, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh ba nhiệm vụ cụ thể
như sau:
“Một là giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta.

1


Hai là nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta.
Ba là giữ gìn bản sắc, tinh hoa, phong cách của tiếng ta trong mọi thể
văn ( văn nghệ, chính trị, khoa học, kĩ thuật…)
Vậy nơi nào? Ai sẽ là người thực hiện được nhiệm vụ thiêng liêng
này? Trường học là nơi đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người mới có
trình độ văn hoá. Bởi vậy, nhà trường có trách nhiệm lớn trong việc giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt. Ở nhà trường, môn Ngữ văn có vai trò rất quan
trọng trong việc giảng dạy ngôn ngữ cho học sinh nhằm góp phần giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt. Thầy giáo môn Ngữ văn có nhiệm vụ quan trọng là
phải dạy cho học sinh biết nói đúng, viết đúng tiếng Việt, phải cung cấp cho
học sinh một vốn từ nhất định, những kiến thức và kỹ năng cơ bản về ngữ
pháp tiếng Việt.

trình độ nhận thức v.v; trong đó, sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là
nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp.
Trong những năm vừa qua, giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở vùng
sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội gặp nhiều khó khăn đã và
đang được Đảng, Nhà nước cùng các địa phương quan tâm như việc đầu tư
xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp trang thiết bị phục vụ cho dạy và học. Bộ
Giáo dục - Đào tạo đã có rất nhiều thay đổi về khung thời gian, chương trình,
sách giáo khoa đối với học sinh dân tộc thiểu số. Đó là việc xây dựng chương
trình 100 tuần, chương trình 120 tuần, chương trình 165 tuần; tăng thời lượng
môn tiếng Việt, giảm tải chương trình sách giáo khoa; soạn thảo chương trình
sách giáo khoa tiếng dân tộc... Dự án giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn (PEDC) không những đã hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang
thiết bị, sách giáo khoa, sách hướng dẫn mà còn tập huấn nâng cao năng lực
cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, tuyển chọn và bồi dưỡng đội ngũ nhân
viên hỗ trợ giáo viên là người dân tộc thiểu số trong quá trình giảng dạy v.v.
Tuy nhiên, những việc làm đó vẫn chưa nâng cao chất lượng như mong muốn;

3


hiệu quả giáo dục thấp, tỷ lệ học sinh yếu kém, lưu ban, bỏ học vẫn còn rất
cao; thậm chí vẫn còn những học sinh "ngồi sai lớp".
Đối với học sinh Thái, Mông thì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai nên vốn
kiến thức tiếng Việt rất hạn chế. Có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một
bài chính tả khoảng 60 chữ. Khi chấm bài Tập làm văn, chúng tôi không thể
hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều
này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Ngữ văn cũng như các
môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt
rè, nhút nhát.
Là người làm công việc dạy chữ, chúng tôi cảm thấy mình có một

Mông ở trường THCS Tô Hiệu Mai Sơn, Sơn La. Việc nghiên cứu là để có
được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chính tả tiếng Việt cho học
sinh dân tộc Thái, Mông.
Chúng ta biết rằng tình trạng lỗi chính tả tiếng Việt của học sinh dân
tộc Thái và Mông có liên quan đến chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà
trường từ năm học 2010 - 2015 cũng như tình trạng kinh tế - xã hội của đồng
bào dân tộc Thái. Mông ở huyện Mai Sơn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi giả định rằng nếu tìm ra nguyên nhân mắc lỗi chính tả tiếng
Việt, từ đó đề xuất một số biện pháp sửa lỗi có hiệu quả và sử dụng hợp lý các
biện pháp đó thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân
tộc Thái, Mông tại trường THCS Tô Hiệu nói riêng và huyện Mai Sơn nói
chung. Vì thế, luận văn xác định những nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết có liên quan đến lỗi và lỗi chính tả tiếng
Việt
- Khảo sát, thống kê, đánh giá thực trạng lỗi chính tả tiếng Việt của học
sinh dân tộc Thái, Mông ở trường THCS Tô Hiệu huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La.

5


- Tìm hiểu nguyên nhân và thử đề xuất các biện pháp sửa lỗi cho học
sinh dân tộc Thái, Mông ở trường THCS Tô Hiệu huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
qua việc tổ chức dạy học thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của các biện
pháp được đề xuất.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp chính được sử dụng trong luận văn là miêu tả và phân tích.
Theo đó, dựa trên các kết quả của việc thực hiện các thủ pháp khác như thống
kê, điều tra xã hội (qua việc lập bảng hỏi, lập phiếu bài tập chính tả, quan sát
điền dã, dự giờ trên lớp v.v) chúng tôi sẽ miêu tả và phân tích lỗi của học sinh


1.1. Những nét chính liên quan đến lịch sử vấn đề
Vấn đề nghiên cứu tiếng Việt trong nhà trường nói chung và chính tả
trong nhà trường nói riêng từ lâu đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều
nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Các công trình đã bàn về vấn đề này từ nhiều khía
cạnh khác nhau. Việc biên soạn sách giáo khoa cho phân môn tiếng Việt cũng
được đặc biệt chú ý cải thiện và nâng cao chất lượng. Hàng loạt sách tham
khảo về tiếng Việt làm tài liệu giảng dạy cho giáo viên và tài liệu hướng dẫn
cho học sinh đã được xuất bản.
Trong quá trình học tập, chính tả có vai trò quan trọng không chỉ với cá
nhân mà còn đối với cả cộng đồng xã hội. Viết đúng chính tả, phát âm chuẩn
chính tả và thực hành tốt kĩ năng tạo lập văn bản sẽ đem lại hiệu quả giao tiếp
đồng thời thể hiện năng lực văn hóa của mỗi người.
Nhiều công trình điều tra, khảo sát về thực trạng sử dụng ngôn ngữ của
học sinh phổ thông cũng được trình bày. Ví dụ như Mấy gợi ý về việc phân
tích và sửa lỗi ngữ pháp cho học sinh (Nguyễn Minh Thuyết, Ngôn ngữ, số 3.
1974); Lỗi ngữ pháp của học sinh - nguyên nhân và cách chữa (Nguyễn Xuân
Khoa, Ngôn ngữ , số 1. 1975). Hay các công trình của Phan Ngọc Chữa lỗi
chính tả cho học sinh Hà Nội (NXB Giáo dục, Hà Nội năm 1982); Cao Xuân
Hạo, Trần Thị Tuyết Mai Sổ tay sửa lỗi hành văn tập 1 (NXB Trẻ, Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 1986); Hồ Lê - Lê Trung Hoa Sửa lỗi ngữ pháp (NXB
Giáo dục, Hà Nội năm 1990) v. v. Những công trình này đã giúp cho các giáo
viên giảng dạy ở trường phổ thông có được những công cụ làm việc hữu ích.

8


Trong thời gian gần đây, vẫn có nhiều tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu
một cách khá toàn diện về lỗi sử dụng ngôn ngữ của học sinh trong nhà
trường và đã xuất bản các công trình của mình. Cụ thể:

ra những cách sửa chữa lỗi của học sinh một cách đơn giản mà hiệu quả nhất.
Mặc dù bài viết chỉ dừng lại ở việc phân tích lỗi ngữ pháp về câu ở một cấp
học cụ thể nhưng nó cũng rất hữu ích đối với cấp học cao hơn.
- Các tác giả Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo
trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, NXB Đại học Sư
phạm 2009 đã đưa ra được những khái niệm về chính tả và chuẩn chính tả,
xây dựng được nội dung, yêu cầu và hình thức chính tả cho từng khối lớp học.
Trên cơ sở mục tiêu, nội dung chương trình, cuốn sách cũng nêu phương pháp,
hình thức dạy học chính tả bậc ở tiểu học hiện nay.
- Tác giả Phan Ngọc trong sách Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi
chính tả (NXB Thanh Niên Hà Nội 2000), đã cung cấp cho chúng ta một số
biện pháp dễ làm có tính công cụ để chữa lỗi chính tả một các khoa học cho
học sinh nói chung và học sinh tiểu học nói riêng. Những công cụ mà Phan
Ngọc nêu ra rất đa dạng.
- Tác giả Hoàng Phê trong cuốn Chính tả tiếng Việt (NXB Đà Nẵng năm
2003) và trước đó nhóm tác giả Hoàng Tuyền Linh, Vũ Xuân Lương trong Từ
điển chính tả mini (NXB Đà Nẵng 1995) đã biên soạn sách để hướng dẫn viết
đúng chính tả. Nguyễn Trọng Báu năm 2001 khi biên soạn Từ điển chính tả
tiếng Việt thông dụng (NXB Khoa học xã hội) cũng đã nghiên cứu và hướng
dẫn cách sử dụng từ điển chính tả tiếng Việt thông dụng để giúp cho giáo viên
và học sinh tra cứu nhanh, thuận tiện các âm tiết, các từ dễ gây nhầm lẫn do
phát âm không chuẩn hoặc do thói quen phát âm theo phương ngữ vùng miền
phục vụ cho việc viết đúng chính tả tiếng Việt.
- Đáng chú ý là cuốn sách “Các lỗi chính tả, từ vựng, ngữ pháp và cách
khắc phục (Qua bài viết trong nhà trường và trên các phương tiện truyền

10


thông)”do tiến sĩ Lê Trung Hoa chủ biên (NXB Khoa học xã hội, năm 2002).

nhân và cách khắc phục nhằm nâng cao chất lượng môn tiếng Việt cho học
sinh là người dân tộc thiểu số.
Tóm lại, các công trình tiêu biểu mà chúng tôi vừa liệt kê ở trên đã phản
ánh được tầm quan trọng của dạy học chính tả cũng như thực trạng và biện
pháp dạy học chính tả theo vùng phương ngữ và việc dạy học viết cho học
sinh dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các công trình trên đa phần còn mang tính
định hướng cho dạy học chính tả tiếng Việt nói chung và một số vùng phương
ngữ cụ thể chứ chưa nghiên cứu và tiếp cận một lĩnh vực hay đối tượng học
sinh ở một cấp học cụ thể.
Hiện nay, chúng tôi biết thực trạng lỗi chính tả của học sinh dân tộc Thái,
dân tộc Mông đang là vấn đề quan trọng. Nó không chỉ thu hút sự chú ý của
các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà sư phạm mà còn là sự băn khoăn của cả
những người giáo viên phổ thông đang đứng lớp. Trong bối cảnh Nhà nước ta
có chủ trương nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc, đưa họ vào tham gia
quản lý nhà nước tại địa phương thì vẫn đề chữa lỗi chính tả cho học sinh dân
tộc càng cần thiết. Tuy nhiên, hầu như chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu
để tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục cho địa bàn cụ thể là vùng Mai
Sơn, Sơn La. Chính vì vậy, tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của học sinh dân
tộc Thái, Mông ở địa bàn này và đưa ra một số biện pháp khắc phục nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục là vấn đề cấp thiết đối với người
giáo viên như chúng tôi.
1.2. Vấn đề chính tả và chính tả tiếng Việt
Để làm cơ sở cho việc thực hiện nhiệm vụ của luận văn, ở đây chúng tôi
sẽ trình bày những thu nhận của mình về chính tả và chính tả tiếng Việt.
1.2.1. Chính tả
Theo “Từ điển tiếng Việt” chính tả là “cách viết chữ được coi là chuẩn”
[Hoàng Phê, 1992, tr 173]. Như vậy, theo nghĩa gốc của từ này, chính tả là

12



phép cá nhân vận dụng qui tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng tạo riêng
một cách tùy tiện.
Trong sự nghiệp giáo dục, ngôn ngữ là công cụ để chuyển tải có hiệu lực
nhất kho tàng văn hoá của loài người đến người học, nên yêu cầu chuẩn mực
rất cao bởi nó ảnh hưởng rộng rãi trong xã hội. Nhà trường càng có vai trò và
vị trí quan trọng. Nghị quyết số 14 ngày 11/01/1979 của Bộ chính trị về cải
cách Giáo dục nhấn mạnh: “Chúng ta không thể bằng với những biện pháp
cải tiến thông thường mà phải tiến hành một cuộc cải cách Giáo dục sâu sắc
trong cả nước.” (NQ/ số 14- Bộ Chính trị). Từ yêu cầu đó, nhà trường cần
khắc phục tình trạng không thống nhất về chính tả và thuật ngữ hiện nay. Vì
vậy, vấn đề chuẩn hoá chính tả và thuật ngữ áp dụng trong sách giáo khoa và
nhà trường là hết sức cấp thiết.
1.2.2. Một số nội dung của chính tả tiếng Việt
Từ khi tiếng Việt được sử dụng chính thức ở Việt Nam (năm 1945),
chữ viết tiếng Việt (hay chính tả) chủ yếu là sự quy ước có tính chất xã hội.
Từ năm 1980, cơ quan quản lý giáo dục và Khoa học xã hội Việt Nam là Bộ
Giáo dục và Ủy ban Khoa học xã hội mới ban hành “Một số quy định về
chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục”quy định về “chính tả tiếng
Việt”. Sau đó, năm 1983 Hội đồng chuẩn chính tả và Hội đồng chuẩn hóa
thuật ngữ do hai cơ quan nói trên hiệp thương thành lập đã ban hành “Nghị
quyết”về vấn đề chính tả và thuật ngữ tiếng Việt. Căn cứ theo Nghị quyết nói
trên, Bộ Giáo dục đã có Quyết định số 241/QĐ ngày 5-3-1984 do Bộ trưởng
Nguyễn Thị Bình ký Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt.
Sau đó nữa, năm 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy định tạm thời
về chính tả trong sách giáo khoa mới” và năm 2003 ban hành “Quy định tạm
thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa” kèm theo Quyết định số
07/2003/QĐ-BGDĐT ngày 13/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status