BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP NGÀNH MARKETING
NĂM HỌC 2016-2017
Đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NHÓM THAM KHẢO ĐẾN
HÀNH VI LỰA CHỌN DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA CƯ DÂN
TẠI MIỀN BẮC.
Sinh viên thực hiện:
TRẦN THỊ NGỌC
Lớp:
QUẢN TRỊ MARKETING 55
Mã sinh viên:
11132917
Giáo viên hướng dẫn: TS.PHẠM VĂN TUẤN
Hà Nội, tháng 11/2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình “ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA
nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi dân tộc. Trình
độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của các quốc
gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực.
Trong bối cảnh Việt Nam công nghiệp hóa, đô thị hóa, di cư và hội nhập quốc tế, các
yếu tố nguy cơ tác động tới sức khỏe có xu hướng gia tăng, như thiếu nước sạch, ý
thức vệ sinh môi trường của người dân chưa tốt, ô nhiễm môi trường, thiếu an toàn vệ
sinh thực phẩm, thiếu an toàn giao thông, an toàn lao động chưa đảm bảo, sự lây lan
dịch bệnh đặc biệt là HIV/AIDS do tiêm chích ma túy, mại dâm, các vấn đề về lối sống
như hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, nghiện hút, tình dục không an toàn, bạo lực gia
đình… Quy mô dân số lớn, mật độ dân số cao, cùng với xu hướng già hóa dân số, tình
trạng di cư ngày càng tăng, biến đổi khí hậu… làm nảy sinh nhiều vấn đề về sức khỏe.
Phối hợp liên ngành trong giải quyết các vấn đề y tế công cộng, y học dự phòng còn
hạn chế. Nhận thức người dân về an toàn giao thông, an toàn lao động, an toàn vệ sinh
thực phẩm còn hạn chế. Truyền thông thay đổi hành vi liên quan đến lối sống chưa
được quan tâm đầy đủ và kém hiệu quả.
Và những hệ lụy không thể tránh khỏi là cùng với sư phát triển của kinh tế - xã
hội, đời sống người dân nước ta ngày càng được quan tâm và nâng cao hơn; thế
nhưng, ngược lại với sự phát triển đó là sự gia tăng của các căn bệnh luôn dình dập ở
mọi nơi với mọi đối tượng. Số lượng căn bệnh và người bệnh đã và đang là những con
số đáng được báo động, thậm chí mức độ mắc bệnh cũng đang là hồi chuông cảnh báo
cho tình trạng “phát bệnh mới đi khám” tại Việt Nam.
Và thực trạng tỉ lệ bệnh tật ở Việt Nam là các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng,
bệnh liên quan đến chửa đẻ vẫn ở mức khá cao trong khi nhóm các bệnh không lây
nhiễm và tai nạn thương tích tăng nhanh. Nhóm các bệnh không lây nhiễm ngày càng
tăng (66,3% năm 2009). Tai nạn, ngộ độc, chấn thương, tai nạn vẫn tiếp tục duy trì ở tỷ
lệ trên 10%. Tổng gánh năng bệnh tật ở Việt Nam năm 2008 là 12,3 triệu DALYs,
trong đó gánh nặng bệnh tật ở nam giới chiếm 56% tổng số gánh nặng. Gánh nặng
Lý do chọn đề tài
Nhu cầu là khởi nguồn của mọi hành vi. Tuy vậy, nhu cầu chưa phải là yếu tố
quyết định việc có xảy ra hay không của hành vi. Khi nhu cầu biến thành động cơ nhờ
sự tác động của môi trường xung quanh và nhân tố của bản thân chủ thế, nhu cầu mới
được bộc lộ thông qua những hành vi. Do đó, dưới góc độ Marketing, việc nghiên cứu
những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng là vô
cùng quan trọng. Thông qua quá trình nghiên cứu, phân tích hành vi lựa chọn của
khách hàng mà nhà sản xuất và cung ứng có thể đưa ra những sản phẩm phù hợp với
nhu cầu khách hàng; bên cạnh đó, cũng nhờ quá trình tìm hiểu về hành vi của người
tiêu dùng, những người làm marketing có thể thực hiện những chương trình marketing
phù hợp nhằm mục tiêu đưa thông tin sản phẩm, sản phẩm và những chương trình xúc
tiến liên quan tới khách hàng một cách nhanh chóng, hiệu quả và thu hút.
Nằm trong nhóm các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người tiêu
dùng theo cả hai hướng trực tiếp và gián tiếp, nhóm tham khảo là một phạm trù đã và
đang được coi là mối quan tâm không chỉ của riêng những người làm marketing mà
còn là mối quan tâm chung của những người làm kinh doanh. Nhóm tham khảo có thể
tạo ra những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hành vi của người tiêu dùng dưới
sự điều tiết của những yếu tố cá nhân người tiêu dùng và những đặc trưng, tính chất
của ngành hàng mà người tiêu dùng quan tâm. Sự linh hoạt của chiều hướng ảnh
hưởng của nhóm tham khảo, cũng như sự đa dạng của những yếu tố điều tiết tác động
tới ảnh hưởng của nhóm tham khảo là những thách thức lớn cho những cuộc nghiên
cứu về phạm trù này.
Sự lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh liên quan trực tiếp tới thực trạng sử dụng
nguồn lực cơ sở hạ tầng kỹ thuật của ngành Y tế tại Việt Nam. Một thực trạng rõ ràng
là ngày nay, những cơ sở khám chữa bệnh tuyến trung ương và tuyến tỉnh đang phải
đối mặt với vấn đề quá tải do quy mô bệnh viện chưa thể đáp ứng với nhu cầu sử dụng
hiện tại; trong khi đó, bệnh viện, trạm xá tuyến cơ sở huyện, xã thì luôn trong tình
trạng dư thừa công suất sử dụng. Những phòng khám tư nhân cũng chịu chung một
vụ khám chữa bệnh của người tiêu dùng.
Ứng dụng những yếu tố trên về nhóm tham khảo và cơ chế, xu hướng ảnh
hưởng của nhóm tham khảo đến hành vi lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh của
người dân để tìm kiếm, phát hiện, định lượng và phân tích ảnh hưởng của nhóm
tham khảo đến những nhóm người tiêu dùng dưới sự điều tiết của những biến
điều tiết.
Đề xuất những biện pháp marketing ứng dụng kết quả nghiên cứu để điều
hướng sự lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh nhằm làm giảm sự mất cân bằng
trong sử dụng các cơ sở y tế trong các tuyến y tế.
Câu hỏi nghiên cứu
Với bài nghiên cứu này, những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
-
Những yếu tố nào thuộc phạm trù nhóm tham khảo có thể gây ảnh hưởng đến
hành vi lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh của cư dân tại miền Bắc?
Biểu hiện cụ thể của những yếu tố trên là gì?
Hành vi lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi yếu tố
nào trong các yếu tố đó?
Những yếu tố nào quyết định mức độ ảnh hưởng của nhóm tham khảo đến hành
vi lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh?
Những yếu tố này có thể góp phần giải quyết một số những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng sử dụng không đồng đều dịch vụ khám chữa bệnh ở các tuyến
bệnh viện bằng những biện pháp nào?
Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Cách tiếp cận nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu đã được đề cập, em sử dụng đồng thời 2 quan điểm
tiếp cận nghiên cứu để nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm tham khảo đến hành vi lựa
chọn dịch vụ khám chữa bệnh của cư dân như sau: (1) quan điểm hệ thống và (2) quan
Dựa trên các mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, em đưa ra những
thông tin cần thu thập theo hai nhóm: nhóm thông tin thứ cấp và nhóm thông tin sơ
cấp.
-
-
Nhóm thông tin thứ cấp:
• Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của cư dân hiện này.
• Những khái niệm về dịch vụ khám chữa bệnh và những đặc điểm của thị
trường dịch vụ y tế và dịch vụ khám chữa bệnh.
• Những vấn đề xoay quanh việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người
dân hiện nay.
• Những lý thuyết về dịch vụ, nhóm tham khảo
• Những cuộc nghiên cứu về ảnh hưởng của nhóm tham khảo đến hành vi lựa
chọn sản phẩm của người tiêu dùng cho những ngành hàng, từ đó đưa ra
một số yếu tố thuộc nhóm tham khảo đã được cụ thể hóa.
• Những yếu tố có ảnh hưởng tới việc lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh của
người dân.
Nhóm thông tin sơ cấp:
• Những yếu tố cá nhân có ảnh hưởng tới việc lựa chọn dịch vụ khám chữa
bệnh của người dân.
Những yếu tố thuộc nhóm tham khảo có ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn
dich vụ khám chữa bệnh của người dân.
• Biểu hiện cụ thể của những yếu tố trên.
• Mức độ ảnh hưởng của những yếu tố trên đến hành vi lựa chọn dịch vụ
khám chữa bệnh của người dân tại miền Bắc khi đặt những yếu tố nào vào
từng nhóm người tiêu dùng được phân theo đặc điểm cá nhân của họ.
qua việc giao tiếp trực tiếp với khách hàng, tạo ra giao tiếp hai chiều giữa
nhóm nghiên cứu và người được phỏng vấn, do đó người phỏng vấn có thể
đặt ra những câu hỏi không theo mẫu cho trước và có thể thực hiện những
bản câu hỏi dài hơn giúp đào sâu thông tin từ phía người được phỏng vấn.
• Sau khi nhận diện được những yếu tố này, em sử dụng phương pháp phỏng
vấn trực tiếp có sử dụng bảng hỏi nhằm đánh giá, đo lường tác động của
những yếu tố này tới hành vi lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh của người
dân. Ưu điểm của phương pháp này là có thể thực hiện trên phạm vi rộng và
-
dễ dàng trong việc thu thập và xử lý dữ liệu; ngoài ra, phương pháp này còn
vừa tiện lợi cho việc khai thác sâu thêm những ý kiến của người dân, đồng
thời vẫn có cơ sở để đưa ra những con số cụ thể thuyết phục.
Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu:
• Với những dữ liệu dạng chữ thu thập từ cuộc khảo sát, em sẽ phân loại và
tìm ra những yếu tố chính mà đa số những người dân tham gia khảo sát nhắc
tới.
• Với những số liệu thu thập được từ những bảng hỏi, em sẽ sử dụng một số
phần mền để hỗ trợ việc xử lý số liệu được chính xác và nhanh chóng như:
Excel, spss.
Phạm vi nghiên cứu
Trong phần mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, em đã xác định những thông tin
mình sẽ thu thập thông qua những cư dân sinh sống tại hai tỉnh/ thành phố Hà Nội và
Bắc Ninh. Kết quả của cuộc nghiên cứu này cũng được sử dụng cho…
Không gian: Thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh, vì em lựa chọn đối tượng
cung cấp thông tin cho cuộc nghiên cứu là các cư dân sinh sống ở hai tỉnh/ thành phố
này.
Theo Gronroos (1990), dịch vụ là một hoạt động hoặc một chuỗi các hoạt
động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và
các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ
thống cung cấp dịch vụ.
Adam Smith từng định nghĩa rằng: "dịch vụ là những nghề hoang phí nhất
trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công...Công
việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra". Từ định nghĩa này, ta có
thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh "không tồn trữ
được" của sản phẩm dịch vụ, tức là dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ đồng thời.
Có cách định nghĩa cho rằng dịch vụ là "những thứ vô hình" hay là "những
thứ không mua bán được".
Ngày nay vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng được
nhận thức rõ hơn. Có một định nghĩa rất hình tượng nhưng cũng rất nổi tiếng về dịch
vụ hiện nay, mà trong đó dịch vụ được mô tả là "bất cứ thứ gì bạn có thể mua và bán
nhưng không thể đánh rơi nó xuống dưới chân bạn".
C. Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi
mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy,
liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng
phát triển".
Như vậy, với định nghĩa trên, C. Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát
triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh.
Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và
dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học
đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý. Do vậy mà có
nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về
nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau.
Cách hiểu thứ nhất
-
ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở
hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với sản phẩm vật
chất.
Có lẽ định nghĩa mang tính khoa học và phản ánh đúng nhất bản chất của hoạt
động dịch vụ là như sau "đó là một hoạt động kinh tế tăng thêm giá trị, hoặc trực tiếp
vào một hoạt động kinh tế khác, hoặc vào một hàng hóa thuộc một hoạt động kinh tế
khác".
Như vậy, có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt động
lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái
vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu
cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Việc quan niệm theo nghĩa rộng hẹp khác nhau về dịch vụ, một mặt tùy thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong một thời kỳ lịch sử cụ thể; mặt
khác, còn tùy thuộc vào phương pháp luận kinh tế của từng quốc gia. Những quan
niệm khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng dịch vụ, đến qui mô, tốc
độ phát triển cũng như tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Có rất nhiều khái niệm dịch vụ khác nhau nhưng tóm gọn lại, khái niệm dịch vụ
dùng để chỉ những sản phẩm vô hình, giải quyết những mối quan hệ giữa người cung
ứng sản phẩm dịch vụ với khách hàng và không có sự chuyển quyền sở hữu đối với
những sự vật hiện hữu liên quan. Sản phẩm dịch vụ được cấu thành từ 2 thành phần:
dịch vụ cốt lõi và các dịch vụ bổ sung.
Đặc điểm của dịch vụ nói chung.
-
Tính không mất đi
Kỹ năng dịch vụ không mất đi sau khi đã cung ứng. Đặc điểm này thể hiện ở
chỗ, kĩ năng của nhân viên cung ứng dịch vụ không bị mất đi sau khi cung ứng dịch.
-
Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ
Ðây là đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của dịch vụ, thể hiện ở chất lượng
dịch vụ không ngừng được tinh vi hoá, chuyên nghiệp hóa và quan trọng hơn là sự
xuất hiện liên tục những dịch vụ mới. Thể hiện rõ nét nhất ở dịch vụ điện thoại di
động, từ thế hệ thứ nhất theo kỹ thuật anolog sang đầu thập niên 90 đã chuyển sang
thế hệ thứ hai là kỹ thuật số, hiện nay trong những năm đầu của thế kỷ 21 người ta
đang nói đến thế hệ điện thoại di động thứ ba có thể truy cập internet hết sức dễ
dàng, mọi lúc mọi nơi.
1.1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ y tế
Hệ thống y tế
Hệ thống y tế là một tập hợp các yếu tố có liên quan qua lại với nhau. Chúng
góp phần tăng cường sức khỏe tại nhà, tại các cơ sở giáo dục, tại những nơi làm việc,
tại cộng đồng cũng như trong môi trường tâm lý xã hội: gồm y tế và các ngành liên
quan. Hoạt động của hệ thống y tế bao gồm tất cả các hoạt động mà mục đích cơ bản
của nó là thúc đẩy, khôi phục và duy trì sức khỏe. Hệ thống y tế được cấu thành từ
người sử dụng dịch vụ y tế, người cung cấp dịch vụ y tế, các ngành, các tổ chức cơ
quan tham gia hoặc hỗ trợ dịch vụ y tế trong đó bao gồm cả thể chế chính trị các quan
điểm triết học, cả quá trình phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội.
Theo tổ chức y tế thế giới (2001), hệ thống y tế có 4 chức năng, đó là chức năng
về tài chính, chức năng tạo ra nguồn lực, chức năng cung cấp dịch vụ và chức năng
quản lý.
Mạng lưới y tế khác với hệ thống y tế ở chỗ: mạng lưới y tế là tổ chức cấu
thành của những người cung cấp dịch vụ y tế.
Dịch vụ y tế
Định nghĩa
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch vụ về
chẩn đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ. Chúng bao
Điều này được bộc lộ rõ ràng khi xem xét thị trường dịch vụ y tế theo từng tiêu
chí của thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
-
Có số lượng lớn người mua và người bán đủ lớn và trong số những người mua
và người bán đó không có ai có thể khống chế giá cả và sản lượng trên thị
trường. Đối với thị trường dịch vụ y tế thì khó có thể đáp ứng được điều kiện
-
-
-
này do sự tập trung các cơ sở y tế tại các thị trường địa lý khác nhau thì rất khác
nhau. Do vậy, đây chính là tính không hoàn hảo của thị trường dịch vụ y tế.
Không có rào cản khi gia nhập thị trường và rút lui khỏi thị trường, tức là người
sản xuất có quyền tự do gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường trong khi các yếu
tố của sản xuất đều di chuyển theo tín hiệu thị trường. Đối với thị trường dịch
vụ y tế, việc tự do gia nhập thị trường là điều hiếm thấy bởi vì như chúng ta đã
biết, những người cung ứng dịch vụ y tế bao gồm bệnh viện, phòng khám,
phòng mạch và các bác sĩ gia đình đều phải có giấy phép thành lập và giấy phép
hành nghề và có trình độ chuyên môn về lĩnh vực này.
Sản phẩm phải đồng nhất, không có sự khác biệt về chất lượng. Ðối với thị
trường dịch vụ y tế thì điều này càng khó đáp ứng bởi vì quá trình khám chữa
bệnh lại rất phức tạp và năng động bởi chúng sử dụng nhiều phýõng pháp khác
nhau. Ðối với cùng một loại bệnh ở hai bệnh nhân khác nhau, những bác sĩ lại
dùng hai phương pháp điều trị khác nhau bởi nó còn tùy thuộc vào thể trạng của
từng bệnh nhân để bác sĩ có thể kê đơn, bốc thuốc cho phù hợp với từng bệnh
trọng là Nhà nước tìm cách sử dụng tối ưu nguồn lực của cộng đồng, của ngành, quốc
gia, quốc tế để chăm sóc tốt nhất cho mọi đối tượng trong cộng đồng.
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế
-
Tiếp cận y tế
Tiếp cận y tế là khả năng mà người sử dụng các dịch vụ sức khỏe cần có thể
được đáp ứng tại nơi cung cấp. Mục đích của dịch vụ y tế là đến với mọi người cộng
đồng, nhằm thỏa mãn nhu cầu về sức khỏe cho con người và cộng đồng.
-
Tiếp cận dịch vụ y tế phục thuộc vào 4 nhóm yếu tố sau:
• Nhóm khoảng cách từ nơi sinh sống tới cở y tế.
• Nhóm yếu tố kinh tế.
• Nhóm yếu tố dịch vụ y tế
• Nhóm yếu tố về văn hóa.
Yếu tố bệnh
Mức độ bệnh sẽ quyết định sự lựa chọn cách thức chữa bệnh của người dân.
Khi ốm nhẹ: cảm cúm, đau bụng, nhức đầu… thông thường mọi người đều chung cách
thức giải quyết, đó là để tự khỏi hoặc sử dụng các loại thuốc sẵn có trong nhà hoặc tự
ý mua thuốc chữa mà không cần sự can thiệp của bác sĩ. Họ chỉ đến các cơ sở y tế khi
bệnh không khỏi hoặc tiến triển nặng hơn. Còn đối với những người có điều kiện khá
hơn thì đi khám tuyến trên, đối với những người nghèo thì chọn y tế địa phương.
-
Yếu tố giá cả
Tuyến trung ương (tuyến 1):
Chức năng chính của tuyến trung ương là thực hiện chuyên môn sâu và kỹ thuật
cao. Tuyến trung ương bao gồm: bệnh viện đa khoa trực thuộc Bộ Y tế; bệnh viện
chuyên khoa, viện chuyên khoa trực thuộc Bộ Y tế có phòng khám đa khoa; bệnh viện
hạng đặc biệt, bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Quốc phòng, viện Y học cổ truyền Quân
đội, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng; Bệnh viện chuyên khoa trực thuộc Bộ Y tế (không có phòng khám đa khoa);
viện chuyên khoa trực thuộc Bộ Y tế (không có phòng khám đa khoa); bệnh viện đa
khoa khu vực thuộc tỉnh (tuyến được xác định theo Quyết định của UBND, Sở Y tế
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương).
-
Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (tuyến 2):
Đây là những cơ sở khám bệnh được trang bị các phương tiện kỹ thuật tốt, tập
trung hầu hết các bác sĩ có chuyên môn cao. Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương bao gồm: bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; bệnh viên đa
khoa hạng I, hạng II thuộc các Bộ, Ngành, hoặc trực thuộc đơn vị thuộc các Bộ,
Ngành; bệnh viện chuyên khoa, viện chuyên khoa, trung tâm chuyên khoa, trung tâm y
tế dự phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có phòng khám đa khoa; bệnh viện
Nhi, bệnh viên Sản – Nhi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; bệnh viện đa khoa tư
nhân tương đương hạng I, hạng II; bệnh viện y học cổ truyền tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, Bộ, Ngành; bệnh viện y học cổ truyền tư nhân tương đương hạng I,
hạng II; phòng khám thuộc Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; bệnh viện hạng II thuộc Bộ Quốc phòng, bệnh viên quân – dân y
hạng II, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng; bệnh viện chuyên khoa tư nhân tương đương hạng I, hạng II; bệnh viện chuyên
khoa tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (không có phòng khám đa khoa); trung tâm
chuyên khoa tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (không có phòng khám đa khoa);
vụ thực hiện các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu như thực hiện các chương trình
y tế quốc gia, cung cấp thuốc và điều trị thiết yếu. Tuyến xã, phường, thị trấn bao gồm:
trạm y tế xã, phường, thị trấn; trạm xá, trạm y tế, phòng y tế của cơ quan, đơn vị, tổ
chức; phòng khám bác sỹ gia đình tư nhân độc lập; trạm y tế quân – dân y; phòng
khám quân – dân y; quân y đơn vị cấp tiểu đoàn và các cơ sở khám, chữa bệnh khác
theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Theo thành phần kinh tế
Dựa theo thành phần kinh tế, hệ thống cung cấp dịch vụ y tế được chia thành:
-
Cơ sở y tế nhà nước
Cơ sở y tế tư nhân
1.1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ khám chữa bệnh
Khái niệm
Theo Luật Khám chữa bệnh năm 2009 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam :
Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi
cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán
và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.
Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công
nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức
năng cho người bệnh.
Đặc điểm của dịch vụ khám chữa bệnh
Dịch vụ khám chữa bệnh là một bộ phận cấu thành của dịch vụ y tế nói riêng và
ngành dịch vụ nói chung, do đó, nó mang đầy đủ những đặc điểm của dịch vụ và dịch
vụ y tế. Ngoài những đặc điểm chung này, dịch vụ khám chữa bệnh cũng mang những
đặc điểm đặc trưng như:
đồng.
1.1.2. Thực trạng bệnh tật và tình hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại Việt
Nam.
1.1.2.1. Thực trạng bệnh tật tại Việt Nam.
Những năm gần đây, tình trạng sức khỏe người dân Việt Nam đã được cải thiện
đáng kể, trong đó có nhiều chỉ số đạt cao hơn so với các nước có cùng mức thu nhập
bình quân đầu người. Tuy nhiên, một số chỉ số sức khỏe cơ bản còn đạt ở mức thấp và
có sự chênh lệch khá rõ rệt giữa các vùng, miền. Phần dưới đây đánh giá tình trạng sức
khỏe nhân dân dựa vào một số chỉ số cơ bản, như: tuổi thọ trung bình (kỳ vọng sống
khi sinh); tỷ số tử vong mẹ; tỷ suất tử vong trẻ em; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em; tỷ lệ
mắc và tử vong do một số bệnh, dịch,...
Tuổi thọ trung bình
Tuổi thọ trung bình là một trong những chỉ số tổng hợp nhất phản ánh tình trạng
sức khỏe dân cư. Năm 2013, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt 73,1 tuổi theo
ước tính của Tổng cục Thống kê. Số liệu ước tính của Liên Hợp Quốc cho thấy tuổi
thọ trung bình của người dân Việt Nam cao nhất trong số các nước đang phát triển
châu Á có mức thu nhập tương đương Việt Nam, thậm chí còn cao hơn so với một số
nước giàu hơn.
Biểu đồ 0. Tuổi thọ trung bình ở các nước đang phát triển Châu Á 2005 - 2010
Trích nguồn: Life expectancy at birth – United Nations, Department of Economic and
Social Affairs, Population Division (2013)
Tỷ số tử vong mẹ
Ước tính số tuyệt đối năm 2013, Việt Nam có 690 phụ nữ tử vong liên quan với
mang thai và sinh đẻ với tỷ số tử vong mẹ ước tính là 49/100 000 trẻ đẻ ra sống [2].
Tỷ lệ này là tương đối thấp so với các nước đang phát triển trong khu vực châu Á. Số
liệu thống kê cho thấy tỷ số tử vong mẹ của Việt Nam tương đương với các nước từ
Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Trung Quốc đến Bu-tan, và thấp hơn so với Phi-líp-pin, Pa-kítxtan và một số quốc gia khác.
Tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng