A.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động tố tụng dân sự khá đa dạng, phức tạp, lại dễ xâm phạm đến
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, nên ngoài việc pháp luật phải quy định
cụ thể quyền, nghĩa vụ tố tụng các của các thể thì cần phải có cơ chế thích hợp
để kiểm tra, giám sát các hoạt động này. Quyền tham gia tố tụng của đương sự
tại tòa án nhân dân là một quyền tố tụng cần được bảo đảm một cách toàn diện
và chặt chẽ. Đây là quyền quan trọng của các đương sự khi muốn giải quyết một
vụ việc tại Tòa án nhân dân. Và một trong những biện pháp để bảo đảm quyền
tham gia tố tụng tại tòa án là xác định được cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực
hiện quyền tham gia tố tụng để thấy vai trò của các cơ quan khác trong việc bảo
đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT NHẰM ĐẢM
B.
I.
1.
BẢO QUYỀN THAM GIA TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ
Khái niệm kiểm tra, giám sát
a) Khái niệm kiểm tra
Kiểm tra (control): Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm tra là “xem xét tình
hình thực tế để đánh giá, nhận xét”, để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào
đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc).Kiểm tra là hoạt
động của chủ thể nhằm tiến hành xem xét, xác định một việc gì đó của đối tượng
bị quản lý xem có phù hợp hay không phù hợp với trạng thái định trước (kiểm tra
mang tính nội bộ của người đứng đầu cơ quan, kiểm tra phương tiện giao
tố tụng dân sự phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân
dân”.Điều 18 Giám đốc việc xét xử: “Toà án cấp trên giám đốc việc xét xử của
Toà án cấp dưới, Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án các
cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất.”Và tại
Điều 21 “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự: “1. Viện kiểm
sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện
các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo
đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.”
Từđó,
cóthểthấy,
BLTTDS
quyđịnhbachủthểcóquyềnkiểmtra,
giámsáthoạtđộngcủatòaánnhằmđảmbảoquyềnthamgiatốtụngcủađươngsựlàviệnkiể
msát, tòaánnhândâncấptrênvànhândân.
2
3. Quyềnthamgiatốtụngcủađươngsự
Quyềnthamgiatốtụngcủađươngsựlàmộtquyềnđươngnhiên,
tấtyếucủađươngsựkhithamgiavàomộtvụviệcđượcgiảiquyếttạitòaán.
Tuynhiên,
dùđâylàquyềnđươngnhiênthìviệcđảmbảoquyềnnàyđượcthựchiệnmộtcáchtrọnvẹn
vẫncònnhiềubấtcập.
đươngsự.
Khi ra đời vào năm 1960, ngành kiểm sát có thẩm quyền rộng khắp trên
nhiều lĩnh vực đời sống, gọi là chức năng kiểm sát chung. Trải qua nhiều biến
đổi lịch sử tới năm 2002 và gần đây nhất là vào năm 2014, thẩm quyền của
ngành kiểm sát được thu gọn lại chỉ còn hai nhiệm vụ chính là thực hành quyền
công tố và kiểm tra giám sát hoạt động tư pháp.
Trong lĩnh tố tụng dân sự, Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền kiểm tra
giám sát chứ không thực hành quyền công tố. Thẩm quyền này của Viện kiểm sát
nhân dân được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật tổ chức viện kiểm sát 2014,
và được cụ thể hoá trong quy chế nghiệp vụ 567 của Viện kiểm sát nhân dân và
thông tư 04/2012/TTLT. Theo quy chế nghiệp vụ 567 thì nhiệm vụ của Viện
kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát án dân sự, hành chính, kinh tế, hôn
nhân gia đình gồm các hoạt động:
3
1. Kiểm sát việc thông báo thụ lý vụ việc dân sự; kiểm sát việc Tòa án
thông báo trả lại đơn khởi kiện.
2. Tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái
thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham dự phiên họp của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xem xét kiến nghị, đề nghị hoặc
phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao theo quy định tại Điều 310a, 310b BLTTDS.
4. Tại các phiên tòa, phiên họp, Kiểm sát viên tham gia hỏi đương sự và
những người tham gia tố tụng khác; phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật
tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng và việc chấp hành pháp luật của
những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; phát
biểu quan điểm về việc giải quyết đối với bản án, quyết định của Tòa án theo quy
vi phạm để kiến nghị cơ quan xét xử cùng cấp rút kinh nghiệm.
Mặc dù hoạt động kiểm sát xét xử án dân sự được chia làm rất nhiều khâu
như đã nêu trên nhưng để có cái nhìn khoa học hơn thì có thể phân tích hoạt
động kiểm sát án dân sự theo 3 giai đoạn chính gồm: giai đoạn phiên toà sơ
thẩm; phiên toà phúc thẩm; phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong mỗi giai
đoạn này lại được chia làm 3 giai đoạn nhỏ là trước, trong và sau phiên toà
(phiên họp).
Giai đoạn phiên toà sơ thẩm
Theo Điều 21 khoản 2 BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định
Viện kiểm sát tham gia vào phiên họp sơ thẩm với các vụ việc dân sự, phiên toà
sơ thẩm các vụ án dân sự do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng
tranh chấp là tài sản công, lợi ích công, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một
bên đương sự là người chưa thành niên, người có đặc điểm về thể chất hoặc tinh
thần.Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp phiên toà phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm.
5
Như vậy với quy định trên có thể thấy trong với phiên toà sơ thẩm thì Viện
kiểm sát chỉ tham gia khi có những điều kiện nêu trên, vậy nếu tranh chấp là
động sản thông thường, quyền sở hữu trí tuệ (quyền nhân thân gắn với tài sản),
không do toà án thu thập chứng cứ thì thường là Viện kiểm sát không tham gia
phiên toà. Việc quy định các điều kiện trên cho thấy, vai trò của viện kiểm sát
được thể hiện khi vụ việc dân sự có gắn với lợi ích công, lợi ích của nhóm đối
tượng yếu thế, hoặc để đảm bảo tính khách quan khi toà án là người thu thập
chứng cứ.
Trước phiên toà xét xử, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc thụ lý vụ án
trả lại đơn khởi kiện. Quyền khởi kiện dân sự của nguyên đơn được ghi nhận tại
điều161 BLTTDS theo đó nguyên đơn có quyền nộp đơn khởi kiện và tài liệu
mâu thuẫn trong kết quả giám định với các tình tiết khác của vụ án dân sự. Sau
đó, Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên
tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử; về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố
tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.
Sau phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sẽ phải hoàn
thiện ý kiến phát biểu bằng văn bản và gửi cho Tòa đồng thời báo cáo kết quả
phiên tòa với lãnh đạo Viện kiểm sát, đề xuất kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
khi xét thấy bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng. Nếu hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm
sát cùng cấp nhưng vẫn còn thời hạn đối với Viện kiểm sát cấp trên, mà phát hiện
vi phạm pháp luật, thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện đề nghị Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thẩm quyền kháng
nghị phúc thẩm là của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện
trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp (điều 250). Thời hạn kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp là 15 ngày còn thời hạn kháng nghị
phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, trong
7
trường hợp Viện kiểm sát nhân dân không tham dự phiên toà thì thời hạn kháng
nghị tính từ ngày Viện kiểm sát nhận được án văn.
Giai đoạn phiên toà phúc thẩm:
Trước phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên trực tiếp nghiên cứu và lập hồ
sơ kiểm sát về các nội dung: lý do, căn cứ, thủ tục và nội dung của kháng cáo,
kháng nghị; trích cứu các chứng cứ, tài liệu cần thiết trong hồ sơ vụ án và các
căn cứ pháp luật liên quan; phân tích tài liệu, chứng cứ mới thu thập bổ sung
(nếu có); chuẩn bị đề cương tham gia hỏi các đương sự và những người tham gia
tố tụng khác.
Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao sẽ ra một trong những quyết định
gồm: y án, huỷ án phúc thẩm phục hồi án sơ thẩm (chỉ có ở giám đốc thẩm), huỷ
án bắt sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại, huỷ án và đình chỉ vụ án.
Tại giai đoạn này, Viện kiểm sát sẽ thực hiện quyền kiểm tra giám sát như
sau: Khi kiểm sát bản án thấy xuất hiện các căn cứ cho việc kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát sẽ gửi hồ sơ cùng kiến nghị lên Viện kiểm sát có
thẩm quyền. Kiểm sát viên được phân công sẽ lập hồ sơ kiểm sát xem xét các
tình tiết căn cứu giám đốc thẩm, tái thẩm có đúng hay không và báo cáo Viện
trưởng để ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.
Tại phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm, đại diện Viện kiểm sát tham gia
tiến hành kiểm sát các nội dung gồm việc tuân theo pháp luật về thời hạn xét xử,
thành phần Hội đồng xét xử, trình tự, thủ tục phiên tòa, việc biểu quyết của Hội
đồng xét xử; ghi chép đầy đủ diễn biến phiên tòa, quá trình thảo luận và kết quả
phiên tòa.
Đai diện Viện kiểm sát sẽ có bài phát biểu khác nhau trong hai trường hợp: Nếu
là do Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì Kiểm sát
viên phát biểu về kháng nghị nội dung căn cứ của kháng nghị cũng như trình bày
tài liệu chứng cứ liên quan tới nội dung kháng nghị, quan điểm giải quyết vụ
việc này. Nếu là do Chánh án Toà án nhân dân kháng nghị thì Đại diện Viện
9
kiểm sát sẽ phát biểu về việc có đồng tình hay không với kháng nghị đó cũng
như phát biểu quan điểm về việc giải quyết dân sự.
Ngoài ra cũng không thể không nhắc đến vai trò của Viện kiểm sát trong
việc Kiểm sát việc khiếu nại tố cáo. Theo quy định tại chương III Thông tư
04/2012/TTLT thì khi có đơn khiếu nại về hành vi phạm pháp luật trong khiếu
nại tố cáo, khi có đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, khi có căn cứ xác định
Toà án, người có thẩm quyền có hành vi vi phạm trong khiếu nại tố cáo thì Viện
dân sự. Nguyên tắc giám đốc việc xét xử từ trước đã được quy định trong các
Hiến pháp, Luật tổ chức tòa án nhân dân được Nhà nước ban hành.
Vai trò kiểm tra của tòa án cấp trên đối với hoạt động của Tòa án trong xét
xử tố tụng dân sự đã được cụ thể hóa trong quy định của Luật tổ chức tòa án
2014 tại Khoản 3 Điều 37, về vai trò của tòa án nhân dân cấp tỉnh: “Kiểm tra
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận,
thị xã trực thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc
có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án
nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị.”
Vai trò kiểm tra của tòa án cấp trên để bảo đảm quyền tham gia tố tụng của
đương sự thể hiện cụ thể trong các quyền như:
Đảm bảo quyền kháng cáo bản án của đương sự
Theo quy định tại điểm s khoản 2 Điều 58 BLTTDS quy định về quyền,
nghĩa vụ của đương sự: “Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án
theo quy định của Bộ luật này”, và tòa án nhân dân cấp trên phải xem xét lại bản
án của Tòa án nhân dân cấp dưới để giải quyết kháng cáo. Đây là một quy định
rất hay của BLTTDS để đảm bảo quyền tham gia tố tụng của đương sự do tòa án
cấp trên giải quyết. Vai trò kiểm tra bản án của tòa án cấp trên lúc này được thể
hiện rất rõ ràng.
Cũng theo Điều 345. Bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị: “Đương sự
có quyền kháng cáo quyết định của Toà án Việt Nam công nhận hoặc không
công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của
Trọng tài nước ngoài để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp xét lại theo quy định
của Bộ luật này.”
Đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự
Trên thực tế hoạt động của các chủ thể trong quá trình tố tụng vì những lý
do khác nhau có thể không đúng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ
thể khác. Vì vậy, pháp luật quy định bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của các chủ
11
2004 cho đến khi được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
12
3.
Sự giám sát của nhân dân trong để đảm bảo quyền tham gia tố tụng
của đương sự.
BLTTDS Việt Nam ngoài quy định vai trò giám sát của nhân dân tại Điều
13 thì không còn những quy định khác thể hiện vai trò giám sát của nhân dân.
Qua đây có thể thấy, BLTTDS dường như không quan tâm đến vai trò giám sát
này. Cũng chính vì vậy, nhân dân không thể hiện được vai trò của mình – như là
một nguyên tắc quan trọng trong BLTTDS.
III.
ĐÁNH GIÁ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT ĐẢM BẢO QUYỀN THAM GIA
1.
TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Đánh giá những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về kiểm tra,
a)
giám sát đảm bảo quyền tham gia tố tụng của đương sự
Những điểm đã đạt được
BLTTDS đã có những quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng
Kiểm sát việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự
Về kiểm sát việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự theo quy định
tại Điều 169, Điều 170 BLTTDS quy định: trong thời hạn 03 ngày làm việc (ba
ngày), kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Viện kiểm
sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.
Viện kiểm sát địa phương cho rằng thực tế Tòa án chỉ gửi cho Viện kiểm sát
thông báo trả lại đơn khởi kiện với nội dung ngắn gọn, chung chung. Muốn xác
định việc trả lại đơn khởi kiện có đúng pháp luật hay không, Viện kiểm sát có thể
phải mời đương sự lên để lấy lời khai, kiểm tra chứng cứ, tài liệu; vì vậy, thời
hạn 03 ngày để có kiện nghị là không thể thực hiện được. Hơn thế nữa, quy định
03 ngày không đủ thời gian để Viện kiểm sát xem xét và gửi kháng nghị đến Tòa
án cấp trên do thời gian từ lúc Viện kiểm sát xem xét, viết lại đơn, và gửi đơn lên
đã mất ít nhất 5 ngày làm việc chưa kể phải lấy lời khai đương sự.
Kiến nghị của Nhóm là tăng thời hạn lên 10 ngày. Vì như thế đảm bảo cho
việc Viện kiểm sát có thể mời đương sự lên lấy lời khai, kiểm tra chứng
cứ, tài liệu.
2. Viện kiểm sát tham gia các phiên tòa dân sự sơ thẩm mà Tòa án
tiến hành thu thập chứng cứ
Viện kiểm sát tham gia các phiên toà dân sự sơ thẩm mà Toà án tiến hành
thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 85 BLTTDS, thực tiễn có nhiều trường
hợp phát sinh chưa được hướng dẫn cụ thể, như: Trường hợp nào là tranh chấp
14
đất đai bắt buộc phải qua hòa giải ở cơ sở; trường hợp Tòa án xác minh địa chỉ
của đương sự, tình trạng hôn nhân hay một số trường hợp Tòa án lấy lời khai của
tùy thuộc vào các bên có kiện hay không kiện. Do đó, cần quy định cụ thể
15
để tránh trường hợp Viện kiểm sát và tòa án lúng túng tìm hướng giải
quyết.
4. Vai trò phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại Tòa
Hiện nay có ý kiến cho rằng Viện kiểm sát nhân dân phải được phát biểu
cả về nội dung vụ án, bởi lẽ chức năng kiểm sát phải là chức năng kiểm sát toàn
diện cả về nội dung lẫn tố tụng, phải kiểm sát việc giải quyết đúng sai của vụ án,
cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng khác,
những người tham gia tố tụng. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng, Viện kiểm sát
chỉ nên phát biểu về tố tụng, bởi lẽ không giống như trong vụ án hình sự Viện
kiểm sát đóng vai trò thực hành quyền công tố, đại diện nhà nước truy tố hành vi
của người phạm tội, trong vụ án dân sự, đặc thù của loại vụ án này là sự thoả
thuận của cá nhân về nội dung vụ việc, do đó việc giải quyết về nội dung thì phải
dành cho toà án quyết định trên cơ sở pháp luật và thoả thuận giữa các bên,
không có một tiêu chí cụ thể thế nào là đúng sai tuyệt đối về nội dung trong dân
sự, do đó sự phát biểu về nội dung là không cần thiết.
Theo quan điểm của nhóm thì việc bổ sung thẩm quyền của Viện kiểm sát
nhân dân trong việc phát biểu về nội dung tại phiên toà là cần thiết và hợp
lý bởi lẽ mặc dù pháp luật dân sự đề cao nguyên tắc tự do ý chí của các
bên và tôn trọng sự thoả thuận, nhưng trên khía cạnh pháp chế, luôn có
những giới hạn trong quan hệ dân sự làm cơ sở giải quyết khi các bên bất
đồng, việc phát biểu về nội dung chính chính là một khuyến nghị gợi mở
phương hướng giải quyết cho vụ việc. Ngoài ra thực tiễn cho thấy, mặc dù
hiện nay Viện kiểm sát nhân dân không phát biểu về nội dung vụ án,
nhưng thông qua việc hoạt động kháng nghị bản án để phúc thẩm, giám
17