Leadership những tố chất và kỹ năng của một ông chủ lý tưởng theo ý kiến của bạn là gì - Pdf 41

BÀI TẬP
MÔN: PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG LÃNH ĐẠO
CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN
Những tố chất và kỹ năng của một ông chủ lý tưởng theo ý kiến của bạn là gì? Vì
sao? Không nhất thiết phải hạn chế những quan điểm của bạn theo lý thuyết tố chất
lãnh đạo mà bạn đã biết?
NỘI DUNG BÁO CÁO
Ông chủ - Ông là ai?
Ông chủ - Ông là người như thế nào?
Những bài học chúng ta có thể rút ra.
Ông chủ - Ông là ai?
Ông chủ chính là người đứng đầu hay nói cách khác là người lãnh đạo trong một
tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị hoặc tổ chức xã hội, ông chủ là người lãnh đạo trong
một doanh nghiệp. Lãnh đạo là một chủ đề từ lâu mọi người đã quan tâm. Thuật ngữ lãnh
đạo thường ngợi ra hình ảnh về những cá nhân đầy quyền lực, năng động làm thủ lĩnh
những đội quân thiện chiến, cả đế chế những công ty tại những tòa nhà cao chọc trời,
hoặc thậm chí tạo dựng cả một đất nước. Thành tích chói lọi của nhiều lãnh đạo thông
minh, dũng cảm đã trở thành chủ đề của nhiều câu chuyện và giai thoại. Hầu hết những
câu chuyện trong lịch sử đều được tái hiện qua những câu chuyện về những người lãnh
đạo, những thủ lĩnh quân đội, chính trị, tôn giáo, mặc dù ai cũng hiểu rõ nguyên nhân
thực sự của những sự kiện đó là gì và mức độ ảnh hưởng thực sự của người lãnh đạo đối
với sự kiện đó như thế nào. Quả thật, sự lãnh đạo có sức lôi cuốn vô hình đối với mọi
người vì sự bí ẩn và mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi người. Tại sao một số thủ
lĩnh (Egra Gandhi, Mohammed, Mao Trạch Đông) lại có thể khơi dậy lòng nhiệt huyết và
sự cống hiến đến như vậy? Tại sao những vị tướng như Julius Caesar, Charlemagne,
Alexander Đại đế lại có thể xây dựng lên cả đế chế hùng mạnh như vậy? Tại sao một số
cá nhân kiệt xuất như Adolf Hilter, Claudius ... lại có thể tiến đến những vị trí quyền lực
tối cao như thế? Tại sao một số vị lãnh đạo đột ngột bị hạ bệ mặc dù có quyền lực và gặt
hái được nhiều vinh quang? Tại sao có một số vị lãnh đạo có đội ngũ hùng hậu những
người ủng hộ sẵn sàng hi sinh mạng sống của mình, trong khi một số vị lãnh đạo khác lại
gây thù địch đến mức cấp dưới âm mưu hãm hại họ.

Bản chất của kỹ năng và tố chất:
Tố chất: Nói đến các đặc điểm cá nhân khác nhau, bao gồm các đặc điểm về cá tính, tính
khí, nhu cầu và các giá trị
Nhu cầu (động cơ) – là một mong muốn có được một sự khuyến khích hoặc một sự trải
nghiệm cụ thể nào đó.
Các giá trị - thái độ của cá nhân đối với việc cái gì là đúng, cái gì là sai, cái gì là có đạo
đức và cái gì là không có đạo đức, cái gì là đúng vói lương tâm và cái gì là trái với lương
tâm
Kỹ năng – nói đến khả năng làm một việc gì đó theo một cách hiệu quả
2


Phân loại 3 nhóm kỹ năng lãnh đạo:
- Kỹ năng nghiệp vụ:
Kiến thức về phương pháp, các quá trình, qui trình và kỹ thuật để thực hiện một hoạt động
mang tính chuyên môn, và khả năng sử dụng công cụ, thiết bị để thực hiện hoạt động đó.
- Kỹ năng giao tiếp:
Kiến thức về hành vi của con người, các quá trình giao tiếp về con người với nhau, khả
năng hiểu cảm xúc, thái độ và động cơ của người khác dựa trên những gì họ nói và làm
(sự thấu cảm, tính nhạy cảm trong giao tiếp), khả năng truyền đạt rõ ràng và hiệu quả (sự
lưu loát và tính thuyết phục của lời nói), khả năng thiết lập các mối quan hệ hiệu quả và
hợp tác (sự tế nhị, kỹ năng lắng nghe, kiến thức về hành vi xã hội chấp nhận được).
- Các kỹ năng nhận thức:
Khả năng phân tích chung, tư duy logíc, sự thông hiểu về cách hình thành khái niệm, khái
niệm hóa các mối quan hệ phức tạp và mập mờ, tính sáng tạo trong việc đưa ra ý tưởng và
giải quyết vấn đề, khả năng phân tích các sư kiện và xu hướng, lường trước sự thay đổi và
nhận ra cơ hội và các vấn đề tiểm tàng (cách tư duy qui nạp và suy diễn).
Stogdill (1948) đã tổng kết 124 nghiên cứu được thực hiện từ năm 1904 đến năm 1948 và
chỉ ra rằng các kết quả đều phù hợp với kết luận coi người lãnh đạo là người khẳng định
được tư cách thông qua việc chứng minh khả năng hỗ trợ nhóm hoặc tổ chức trong việc

− Tham vọng luôn định hướng thực hiện nmục tiêu
− Quyết đoán
− Hợp tác
− Có thể tin cậy
− Thể hiện quyền lực
− Năng động (mức độ hoạt động cao)
− Kiên trì
− Tự tin
− Chịu đựng được áp lực, căng thẳng
Kỹ năng:
− Thông minh (lanh lợi)
− Có kỹ năng dựa trên các khái niệm
− Sáng tạo
− Giỏi ngoại giao và tế nhị
− Nói năng lưu loát
− Hiểu biết về công việc
− Có đầu óc tổ chức (có khả năng quản lý)
− Có sức thuyết phục
− Có kỹ năng giao tiếp

4


Các công trình nghiên cứu chính về tố chất lãnh đạo cho thấy các tố chất chính liên quan
đến hiệu quả quản lý bao gồm các đặc điểm cá nhân, động cơ, kỹ năng nhận thức, kỹ
năng giao tiếp.
Phẩm chất và hiệu quả quản lý:
Các tố chất dự báo hiệu quả quản lý bao gồm:
− Mức độ sinh lực và sức chịu đựng căng thẳng cao
− Tự tin

Mọi việc tưởng chừng như không thể thực hiện được nếu không có tài thuyết phục của
Grove khiến mọi người tin rằng ông đang lãnh đạo họ đi đúng hướng ngay cả khi chính
bản thân ông cũng không biết chính xác về điều đó. Grove kể lại: "Anh cần phải tỏ ra là
anh chắc chắn đến trăm phần trăm. Anh phải thể hiện bằng hành động, đừng ngại ngần
hay rào đón cho những phỏng đoán của mình. Nếu không làm được như vậy mọi hành
động sẽ đi đến thất bại."
Bảy vị Tổng giám đốc trong cuốn sách này đều nuôi dưỡng ngọn lửa nhiệt huyết bên
trong và có thể lan tỏa ra xung quanh. Mỗi người đều có thể đưa ra định hướng chiến lược
và dùng khả năng thuyết phục đầy nhiệt huyết nhằm khiến mọi người cùng chung sức làm
việc vì mục tiêu chung của toàn công ty.
Các nhà lãnh đạo tài giỏi là người có trong tim ngọn lửa nhiệt huyết có khả năng lan tỏa
và “sưởi ấm” những người xung quanh. Họ đều có thể đưa ra định hướng chiến lược,
nhưng quan trọng hơn, họ có tài thuyết phục khiến mọi người làm việc hết mình vì mục
tiêu chung của toàn công ty.
Lợi thế của sự tự tin là rõ ràng nhưng nếu tự tin thái quá cũng làm nảy sinh nhiều
vấn đề. Sự tự tin có thể làm cho người lãnh đạo quá lạc quan về khả năng thành công dẫn
tới đưa ra các quyết định quá nóng vội và phủ nhận bằng chứng rằng đó là kế hoạch sai
lầm. Người quản lý tự tin cao thường tỏ ra ngạo nạm, chuyên quyền và không chấp nhận
quan điểm không chính thống, đặc biệt nếu người quản lý chưa đủ trưởng thành về mặt
tâm lý.Vì người quản lý không đáp lại ý kiến và yêu cầu của người khác, lợi ích của hình
thức lãnh đạo tham gia khó có thể đạt được. Vì vậy, trong những tình huống người lãnh
đạo không có năng lực chuyên môn vượt trội cấp dưới thì sự tự tin ở mức độ vừa phải tốt
hơn tự tin ở mức độ cao. Sự tự tin thái quá cũng làm mọi người xa lánh mặc dù người đó
rất có năng lực. Một người quản lý kiêu ngạo sẽ gặp khó khăn trong việc thiết lập các mối
quan hệ hợp tác với người không phụ thuộc lĩnh vực chuyên môn của người quản lý đó.
Nội lực
Động lực nội tâm được đánh giá bằng thang điểm về cá tính do Rotter xây
dựng(1966). Người có động lực nội tâm cao tin rằng những sự kiện trong cuộc sống của
họ được quyết định chủ yếu bằng hành động của họ hơn là tình cờ hoặc các nguồn lực nào
khác ngoài tầm kiểm soát. Ngược lại những người theo ngoại lực tác động lại tin rằng các

Nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng những người quản lý thành công thường hiểu rõ sở
trường sở đoản của bản thân và cố gắng hoàn thiện bản thân mình, thay vì bảo thủ phủ
nhận những điểm yếu của bản thân.
Tính liêm trực
Có nghĩa là hành vi của một cá nhân phù hợp với các giá trị chung mà mọi người nhất trí,
và người đó trung thực, có đạo đức và đáng tin. Tính liêm trực là yếu tố quyết định sự tin
tưởng giữa các cá nhân. Trừ phi một người được coi là đáng tin, người đó khó có thể duy
trì được sự trung thành của cấp dưới hoặc sự hợp tác và hỗ trợ của đồng sự và cấp trên.
Một số hành vi liên quan đến tính liêm trực: Đó là mức độ trung thực và sự thành thực
của cá nhân. Người lãnh đạo mất đi sự tin cậy khi mọi người phát hiện ra họ đã nói dối
hặoc đưa ra những tuyên bố sai sự thật. Một chỉ số nữa đánh giá tính liêm trực đó là việc
giữ lời hứa. Mọi người miễn cưỡng đàm phán các hợp đồng. thỏa thuận với một lãnh đạo
thì thường là không giữ đúng lời hứa. Chỉ số thứ 3 là việc lãnh đạo hòan thành trách
nhiệm phục vụ và trung thành đối với cấp dưới. Sự tin tưởng của cấp dưới sẽ mất đi nếu
họ phát hiện ra rằng người lãnh đạo đã khai thác và thao túng họ để mưu cầu lựoi ích cá
nhân cho riêng mình. Chỉ số thứ tư là mức độ người lãnh đạo được tin tưởng sẽ không tiết
lộ bừa bãi một thông tin được cấp dưới chia sẻ. Mọi người sẽ không cung cấp thông tin

7


quan trọng và nhạy cảm cho người lãnh đạo mà họ không tin tưởng sẽ giữ bí mật những
thông tin đó.
Động cơ quyền lực và hòa nhập xã hội
Một số người có nhu cầu quyền lực cao thường muốn gây ảnh hưởng với người khác và
những sự kiện, họ thường tìm kiếm những vị trí có quyền lực cao. Hầu hết các mối quan
hệ chỉ nghiên cứu các mối quan hệ mật thiết giữa mối quan hệ về quyền lực và sự thăng
tiến lên các cấp quản lý cao hơn trong các tổ chức lớn (ví dụ: Howard & Bray), 1988;
McClelland & Boyatzis, 1982, stahl, 1983). Người có nhu cầu quyền lực cao tìm kiếm
những vị trí quyền lực cao và họ thường hòa nhập với bộ máy chèo lái quyền lực của tổ


cách ban mang tính thủ tục hơn tính hiệu quả của công việc. Họ thể hiện thiên vị với
những người bạn của mình trong quá trình phân công công việc và cho phép một số
trường hợp ngoại lệ khi thực hiện các qui định. Mô hình hành vi này kiến các nhân viên
cấp dưới yếu kém, vô trách nhiệm, không có khả năng tiên đoán những gì có khả năng
xảy ra tiếp theo.
Mô hình năm tố chất cá tính lớn
KỸ NĂNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
1. Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ
Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ bao gồm các kiến thức về phương pháp, các quá trình và
thiết bị để thực hiện các hoạt động chuyên môn của đơn vị tổ chức. Kỹ năng chuyên môn
cũng bao gồm sự hiểu biết thực tế về tổ chức (các qui định, qui tắc, hệ thống quản lý, đặc
điểm của nhân viên), hiểu biết về các sản phẩm và dịch vụ của đơn vị (đặc tính kỹ thuật,
những ưu và nhược điểm).
Sự tương ứng giữa mô hình 5 yếu tố chất lớn với các tố chất cụ thể:
Mô hình 5 tố chất lớn
Tính sôi nổi

Các tố chất cụ thể
Hướng ngoại
Mức độ sinh lực và hoạt động
Nhu cầu quyền lực (quyết đoán)

Tính kỷ luật

Có thể tin cậy
Tính liêm trực
Nhu cầu thành tích

Tính nhất tri

quả nếu người quản lý không có đánh giá chính xác về các sản phẩm và dịch vụ của tổ
chức mình so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.(Peters & Austin, 1985).
2. Kỹ năng nhận thức
Bao gồm khả năng phân tích, tư duy logic, xây dựng khái niệm, tư duy qui nạp, tư duy
suy diễn. Nhìn chung kỹ năng nhận thức bao gồm khả năng đánh giá sáng suốt có tầm
nhìn xa, có khả năng trực giác, có tính sáng tạo và khả năng hiểu được ý nghĩa và trật tự
trong các dữ liệu mập mờ, không chắc chắn. Kỹ năng nhận thức đánh giá bằng nhiều
phương pháp khác nhau bao gồm các bài kiểm tra năng khiếu, kiểm tra tình huống, phỏng
vấn và các biến cố quan trọng có thể xảy ra.
Kỹ năng nhận thức là cần thiết trong việc lập kế hoạch và giải quyết các vấn đề. Trách
nhiệm quản lý chính là phối hợp các bộ phận chuyên môn tách biệt trong tổ chức.
3. Kỹ năng giao tiếp:
Kiến thức về hành vi của con người, các quá trình giao tiếp giữa con người với nhau, khả
năng hiểu cảm xúc, thái độ và động cơ của người khác dựa trên những gì họ nói và họ
làm; khả năng thiết lập mối quan hệ hiệu quả và hợp tác. Với các kỹ năng này giúp cho
chúng ta trong quá trình tổ chức, quản lý, làm việc với con người. Chỉ có các kỹ năng này
mới giúp chúng ta tạo lập, phát triển được các tập thể làm việc hiệu quả.
Các tố chất liên quan khác
1. Trí thông minh cảm xúc
Bao gồm một số kỹ năng liên quan sự tự nhận thức và hiểu được trạng thái tình cảm của
cá nhận mình, tình cảm đó xuất hiện như thế nào và thay đổi như thế nào theo thời gian,
ảnh hưởng đến công việc và các mối quan hệ như thế nào. Kỹ năng nhận thức còn đòi hỏi
cả sự tự nhận thức và kỹ năng giao tiếp đó là khả năng thể hiện chính xác cảm xúc của
mình cho người khác bằng cả ngôn ngữ lời nói và phi lời nói. Sự đồng cảm nhận được
tâm trạng và cảm xúc của người khác đang diễn ra như thế nào đối với cảm xúc và hành
vi của bạn.

10



luôn sẵn lòng cấp tín dụng cho những công ty mà GE đã từng học hỏi. Ông nói rằng
những bài học kinh nghiệm từ IBM và Johnson & Johnson đã giúp GE đứng vững tại thị
trường Trung Quốc, còn Canon và Chrysler đã dạy cho GE một số kỹ năng trong việc giới
thiệu sản phẩm ra thị trường. Một số nhà lãnh đạo muốn tin, và muốn mọi người tin rằng
chính họ đã nghĩ ra tất cả. Nhưng những nhà lãnh đạo như Walton và Welch lại không hề
quan tâm đến việc ý tưởng đó là của ai. Điều họ quan tâm là làm sao để những ý tưởng đó
được tiếp nhận nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Những Tổng giám đốc kiệt xuất đã có những đóng góp quan trọng, làm giàu thêm kho
tàng kiến thức lãnh đạo và quản lý. Mỗi người trong số bảy vị Tổng giám đốc này đều đã
đóng góp phần của mình vào việc làm phong phú thêm những lý thuyết, khái niệm hay tri
thức lãnh đạo và quản lý. Bill Gates là người đầu tiên nghĩ ra khái niệm "hệ thần kinh số".
Ông đã đặt các thông tin lên mặt bàn để từ đó nghĩ ra giải pháp có tính cách mạng trong
việc luân chuyển thông tin trong toàn công ty, qua đó biến tất cả nhân viên thành những
công nhân có tri thức. Andy Grove có những nhận định rất sâu sắc về "những thời điểm
bước ngoặt chiến lược", một khái niệm đã giúp các giám đốc hiểu rõ hơn các vấn đề phức
tạp khi phải đối phó với những thay đổi nhanh chóng trong môi trường kinh doanh.
Herb Kelleher đã giúp các giám đốc khác hiểu rằng văn hóa công ty có thể và thực sự là
một trong những tài sản lớn nhất của công ty, và công việc còn mang một ý nghĩa khác, lý
thú hơn chứ không đơn thuần là những con số khô khan, sự nhàm chán và đều đặn như
đồng hồ. Ông nhấn mạnh nhiều lần đến tinh thần làm việc và tính hài hước trong môi
trường của Hãng hàng không Southwest, và coi việc nhớ tất cả ngày sinh, ngày cưới của

13


các nhân viên là một trong những thói quen thường xuyên của mình. Người ta cũng có thể
dành những nhận xét tương tự cho Sam Walton.
Nếu như cần phải viết lại những quy tắc lãnh đạo, tự Jack Welch có thể đứng ra giảng dạy
được. Theo Welch: "Kinh doanh rất đơn giản". Ông còn khẳng định chính tính chất
"không câu nệ" có một sức mạnh rất lớn.



bản thân và loại bỏ đi những chướng ngại. Chú ý cung cấp mọi điều kiện, như thời gian,
chi phí, nhân lực, thông tin và công cụ cần thiết để nhân viên hoàn thành nhiệm vụ. Đừng
khiển trách những ai phạm phải sai lầm khi tiến hành một công việc mà khả năng rủi ro
đã được dự đoán trước. Tiếp đến, hãy chịu khó làm việc với những người mắc sai lầm để
sai lầm không thể lặp lại.
4. Tin tưởng vào chính mình. Một nhà lãnh đạo thành công luôn sở hữu một ý chí mạnh
mẽ. Điều quan trọng khác là nên tạo ra một môi trường làm việc tích cực và có tinh thần
trách nhiệm cao bằng cách dám nhận trách nhiệm trước những sai lầm cá nhân mà không
đổ lỗi cho người khác.
5. Tạo nên bầu không khí làm việc khuyến khích mọi người năng động, sáng tạo. Hãy
đánh giá đầy đủ vai trò của những kỹ thuật để cải tiến quy trình làm việc của doanh
nghiệp, tạo ra bầu không khí hợp tác, đảm bảo sự thỏa mãn của từng cá nhân đối với công
việc. Sau đây là một số cách tạo ra bầu không khí làm việc năng động:
Tham khảo ý kiến của nhiều người.
Đưa cho nhân viên dưới quyền nhiều lựa chọn khác nhau hơn là chỉ đưa ra một cách tốt
nhất để họ giải quyết công việc. Làm như thế, họ sẽ biết cách tự nhìn nhận bản thân theo
một hướng đi phù hợp nhất với công việc.
Đưa ra những phản hồi tích cực khi nhân viên thổ lộ ý kiến của họ.
Hãy thách thức các nhân viên động não, lên kế hoạch và hành động.
Hướng dẫn mọi người biết chấp nhận và học cách vượt qua các rủi ro trong công việc.
6. Quản lý bằng cách đi vòng quanh công ty. Thường xuyên ra khỏi văn phòng để đi tới
các phòng ban, xưởng, cửa hàng để có thể tiếp xúc nhiều hơn với những cấp dưới là cách
để bạn nhìn thấy và hiểu được mọi người thực hiện nhiệm vụ thường ngày ra sao. Tranh
thủ trò chuyện và thu lượm các thông tin thực tế từ các nhân viên về các thách thức trong
công việc và đời sống của họ.
7. Hành xử với một thái độ chân thành nhất. Chân thật chính là siêu yếu tố của một
nhà lãnh đạo ưu tú. Những nhà lãnh đạo thành thật luôn tạo được uy tín và niềm tin ở mọi
người. Cấp dưới của họ sẽ sẵn lòng làm việc tích cực hơn, quan tâm và tôn trọng người

hiểu bản thân mình hơn và sau đó là định hướng để chúng ta cố gẳng vì chính tương lai
của mình cũng như gia đình mình.
Không có ai ở trên đời này là lý tưởng cả và cũng không có Ông chủ nào lý tưởng cả. Mọi
khái niệm liên quan đến “lý tưởng” chỉ nằm trong lý thuyết, còn thực tế của cuộc sống
không phải như vậy. Đất nước ta chắc chắn sẽ sản sinh ra ngày càng nhiều Ông chủ tốt.
Chúng ta, hãy hiểu chính mình và từ đó lựa chọn Ông chủ phù hợp với mình để phát triển
chính bản thân.
Hà nội, ngày

tháng 5 năm 2009

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GIÁO TRÌNH “LÃNH ĐẠO TRONG TỔ CHỨC” - Global Advanced MBA
2. Các báo điện tử : Lãnh đạo.net.vn, Vietnamnet: Lãnh đạo trong kỷ nguyên
3. THẾ GIỚI PHẲNG

16


Tác giả: Thomas L. Friedman
Dịch giả: Nguyễn Quang A (và tập thể)
Nhà xuất bản: Trẻ
Ngày xuất bản: quý 4/2007

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status