Cách giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (LV thạc sĩ) - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM MINH TRUNG

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮK LẮK - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM MINH TRUNG

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

học kinh nghiệm ................................................................................................. 37
Chương 2 ................................................................................................................ 45
TÌNH HÌNH KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI ......... 45
2.1. Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh Gia Lai............................. 45
2.2. Thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh
Gia Lai ................................................................................................................ 51
Chương 3 ................................................................................................................ 69
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT
ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI .............................................. 69
3.1. Quan điểm bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân
tỉnh Gia Lai ......................................................................................................... 69
3.2. Giải pháp bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân
tỉnh Gia Lai ......................................................................................................... 77
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 95


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- CNXH

Chủ nghĩa xã hội

- GCNQSD

Giấy chứng nhận quyền sử dụng

- UBND

Ủy ban nhân dân

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và là thành
quả cách mạng của cả dân tộc Việt Nam. C.Mác đã chỉ rõ: “Đất là không gian,
yếu tố cần thiết của tất thảy mọi quá trình sản xuất và mọi hoạt động của loài
người” [13; tr.473,474]. Bất kỳ quốc gia nào, nếu biết quản lý, sử dụng hợp lý
đất đai thì nguồn tài nguyên này được bảo vệ và mang lại hiệu quả, lợi ích to lớn,
thiết thực phục vụ cho mỗi con người và cả cộng đồng.
Đất đai có vai trò quan trọng như vậy nên Đảng và Nhà nước ta giành sự
quan tâm đặc biệt đến vấn đề đất đai. Chủ trương, đường lối của đảng, chính sách
pháp luật của nhà nước về đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước; trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, chính sách, pháp luật đất đai trở thành cơ sở pháp lý hết sức quan trọng huy
động nguồn lực đất đai để phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Vì vậy, quản lý nhà nước bằng pháp luật
về đất đai ngày càng hoàn thiện, đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, hệ thống quản
lý nhà nước về đất đai được tăng cường, từng bước phân cấp và phát huy tính tự
chủ của địa phương.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tình hình quản lý và sử dụng đất đai
hiện nay đang có những yếu kém. Vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa
có tính chiến lược lâu dài và ổn định hoặc thiếu tính khả thi; cơ chế quản lý về đất
đai thiếu hiệu quả; cơ quan quản lý đất đai các cấp nhìn chung còn nhiều yếu kém.
Chính vì thế tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về quản lý và sử dụng đất đai có
xu hướng diễn biến phức tạp. Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo còn chưa
kịp thời, thiếu hiệu quả. Những yếu kém trong công tác quản lý và sử dụng đất nói
chung cũng như những yếu kém trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất
1


đai nói riêng có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng từ sự hạn

Gia Lai là một tỉnh miền núi biên giới nằm ở khu vực phía bắc Tây
Nguyên, được đánh giá là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh
tế, quốc phòng, an ninh, với diện tích tự nhiên là 15.495,7 km2 (lớn thứ hai cả
nước); có 90 km đường biên giới giáp với Campuchia; dân số hơn 1,3 triệu người,
trong đó có hơn 44% dân số là người đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân
tộc Jrai, chiếm tỷ lệ 29,2% và dân tộc Bahnar, chiếm tỷ lệ 11,9%). Với đặc thù đó,
việc tìm hiểu thực trạng và tìm giải pháp để giải quyết tốt công tác khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai ở tỉnh Gia Lai là một chuyên đề hay và cấp thiết, nó giúp cho
chúng ta có được cái nhìn tổng quát về thực tiễn giải quyết khiếu nại ở địa
phương; những bất cập giữa pháp luật hiện hành với thực tiễn; những vấn đề bức
xúc, tồn đọng trong việc giải quyết khiếu nại về đất đai ở địa phương và tìm ra
những giải pháp khắc phục.
Nhận thức những vướng mắc cần phải được chấn chỉnh, tháo gỡ cũng như
tầm quan trọng của việc giải quyết khiếu nại về đất đai nói chung và của Ủy ban
nhân dân (UBND) tỉnh Gia Lai nói riêng. Đồng thời đó cũng là những trăn trở của
tác giả được đúc kết từ thực tiễn và quá trình học tập, vì thế tôi chọn đề tài “Giải
quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai” làm luận văn của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Hiện nay theo tôi tìm hiểu và được biết thì số lươ ̣ng các công trình nghiên
cứu về công tác giải quyết khiếu nại nói chung và giải quyết khiếu nại về lĩnh vực
đất đai nói riêng đã có nhiều tác giả thực hiện. Những năm gần đây đã có nhiều
công trình khoa học được công bố liên quan đến khiếu nại và giải quyết khiếu
nại, được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể chia các công trình thành
02 nhóm vấn đề sau:
- Các tài liệu chuyên khảo, giáo trình phục vụ nghiên cứu và giảng dạy có
đề cập đến khiếu nại và giải quyết khiếu nại như: “Đặc san tuyên truyền pháp luật
số 9”, của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính
3




cứu đề tài “Giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai” là
không trùng lặp.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Thông qua hệ thống cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về giải quyết khiếu nại
trong lĩnh vực đất đai và thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai của UBND tỉnh
Gia Lai, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm giải quyết khiếu nại về
đất đai của UBND tỉnh Gia Lai trong giai đoạn tiếp theo.
- Nhiệm vụ:
Để hoàn thành mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ:
- Làm sáng tỏ những nội dung lý luận, pháp lý về khiếu nại và giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai; quan điểm của đảng, nhà nước đối với khiếu nại
và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của công dân trong thời kỳ đổi mới.
- Đánh giá thực trạng giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của UBND
tỉnh Gia Lai thời gian qua, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những mặt tồn tại,
hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất
đai của UBND tỉnh Gia Lai hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác giải quyết khiếu nại về đất
đai của UBND tỉnh Gia Lai.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu hoạt động giải quyết khiếu nại về đất đai trong phạm
vi những vấn đề được quy định trong Luật Khiếu nại, Luật Đất đai và một số văn
bản pháp luật liên quan đến đất đai.


trong thời gian tới.
6


Luận văn có thể cung cấp cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên và
cán bộ, nhân dân trên địa bàn tỉnh một số hiểu biết cơ bản về thực trạng khiếu nại
và giải quyết khiếu nại về đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành, qua đó
tạo điều kiện tốt hơn cho việc tuyên truyền, phổ biến và vận động cán bộ, nhân
dân chấp hành pháp luật về lĩnh vực này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý giải quyết khiếu nại về đất đai của Ủy
ban nhân dân tỉnh.
Chương 2: Tình hình khiếu nại và thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai
của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm giải quyết khiếu nại về đất đai
của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai.

7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
1.1. Khiếu nại về đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai
1.1.1. Quan niệm về khiếu nại và khiếu nại về đất đai
1.1.1.1. Khiếu nại và quyền khiếu nại của công dân
Nhà nước ra đời trở thành công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, thông qua
việc sử dụng nhà nước, giai cấp thống trị đã điều hòa được những mâu thuẫn giai

xử công bằng của nhà nước. Nhưng cũng có không ít người với trách nhiệm công
dân đã dũng cảm ra khiếu nại hành vi sai trái đó để bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của bản thân, tập thể và xã hội. Chính vì lẽ đó mà khiếu nại
xuất hiện trong xã hội có giai cấp, có nhà nước là một tất yếu khách quan.
Về mặt tâm lý, khiếu nại xuất hiện trong ý chí chủ quan của người đi khiếu
nại. Trước hết những hành vi, hiện tượng vi phạm đó tác động vào nhận thức của
người ta và chỉ khi người ta thấy ức chế, cần giải tỏa bằng cách bày tỏ với cơ quan
nào đó để hy vọng được giải quyết thì họ mới yên lòng. Yếu tố tâm lý này cũng
lớn dần theo thời gian nếu như những khiếu nại đó không được xem xét giải quyết
kịp thời. Tuy nhiên, trong nhận thức của mỗi người, do trình độ bản thân, nhãn
quan, tư duy về vấn đề mà có người cho là vi phạm trầm trọng, có người cho là
không vi phạm. Mặt khác, nhiều trường hợp do không ở trong hoàn cảnh cụ thể
nên có người không hiểu được bản chất vấn đề, mới thấy hiện tượng đã suy luận
ra bản chất theo tư duy cá nhân của mình. Trong xã hội có người nhút nhát, ngại
va chạm, thậm chí đúng là lợi ích của mình bị vi phạm nhưng cũng không dám lên
tiếng phản đối. Ngược lại, cũng có những người luôn tưởng rằng, cho rằng mọi
người đều sai, lợi ích của mình đã bị xâm phạm. Chính vì vậy mà khiếu nại còn là
yếu tố tâm lý của con người.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “khiếu nại” được hiểu là: “thắc mắc, đề nghị
xem lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã chuẩn y”. [28;
tr.904].
9


Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học thì “khiếu nại” là: Những đề
nghị của công dân, cơ quan, tổ chức với cơ quan nhà nước hoặc người có chức vụ
về sự vi phạm hoặc cho là vi phạm quyền và lợi ích chính đáng của họ; khiếu nại
được thể hiện dưới hình thức viết hoặc trình bày miệng. Nếu là khiếu nại viết thì
đơn khiếu nại phải được ký bởi chính người có quyền hoặc lợi ích bị vi phạm
hoặc người giám hộ của người đó, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ (hoặc nơi công

tiện để công dân, tổ chức sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
là “quyền để bảo vệ quyền”, là phương tiện đấu tranh để đảm bảo các quyền khác
của công dân. Mặt khác, khiếu nại còn được coi là công cụ để công dân, tổ chức
giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước. Thông qua
khiếu nại và giải quyết khiếu nại, nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ
máy nhà nước và hoàn thiện hoạt động quản lý của mình. Có thể nói, khiếu nại và
giải quyết khiếu nại là chính là cầu nối giữa công dân với Đảng, Nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dặn: “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại
hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta phải
giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm đến
quyền và lợi ích của họ, do đó mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng và Chính
phủ càng được tốt hơn”.
Tóm lại, pháp luật về khiếu nại nước ta không ngừng phát triển, hoàn thiện
về cả nội dung và hình thức. Đặc biệt, trong công cuộc đẩy mạnh cải cách nền
hành chính thì việc đẩy mạnh công tác giải quyết khiếu nại của công dân và hoàn
thiện các chính sách, văn bản pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại là cơ sở
quan trọng để hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần vào công cuộc xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN.
1.1.1.2. Khái niệm và đặc điểm khiếu nại về đất đai
a) Khái niệm khiếu nại về đất đai
Đất đai là tài sản của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch
sử phát triển kinh tế - xã hội, đất đai là điều kiện lao động. Đất đai đóng vai trò
quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Nếu không có đất đai
11


thì rõ ràng không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, cũng như không thể có sự tồn
tại của loài người. Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con
người, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất. Đất đai
tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa

Là một hiện tượng xã hội nên khiếu nại có thể xảy ra ở nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội. Trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, quyền khiếu nại
của công dân là quyền khiếu nại hành chính. Khiếu nại về đất đai là một dạng đặc
biệt của khiếu nại hành chính, nên bên cạnh những đặc điểm chung của khiếu nại
hành chính, khiếu nại về đất đai còn mang những đặc trưng riêng khác với các
khiếu nại thuộc các lĩnh vực khác.
Xuất phát từ quan niệm khiếu nại về đất đai có thể nhận thấy chủ thể,
khách thể và đối tượng phát sinh trong quan hệ khiếu nại đất đai:
- Chủ thể khiếu nại về đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và
quyền sử dụng đất, mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Quyền sử
dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất
của nhà nước, được nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác
hoặc được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất
đang sử dụng. Như vậy, chủ thể của khiếu nại về đất đai là các tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý hoặc người sử dụng đất.
Theo Điều 5, Luật Đất đai 2013 thì người sử dụng đất được xác định gồm
07 nhóm đối tượng [44; tr.3,4]:
Thứ nhất, các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức
sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của
Chính phủ được nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng
đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất;
Thứ hai, hộ gia đình, cá nhân trong nước được nhà nước giao đất, cho thuê
đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất;
13


Thứ ba, cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên
cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có

người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định
về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng
một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
Như vậy, quyết định hành chính về đất đai là những quyết định bằng văn
bản do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước ban hành trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, được
áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể,
như: quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD
đất); quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất; quyết định giải quyết khiếu nại hay
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực
hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật [39; tr.2].
Khác với quyết định hành chính phải được thể hiện bằng văn bản, thì hành
vi hành chính trong lĩnh vực đất đai được biểu hiện bằng hành động hoặc không
hành động của cán bộ, công chức có thẩm quyền liên quan đến đất đai, tức không
thực hiện nhiệm vụ của mình theo quy định pháp luật, qua đó xâm phạm tới
quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì vẫn là đối tượng khiếu
nại hành chính.
Những trường hợp sau bị xem là vi phạm Luật Đất đai [9; tr.87,88]:
Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc địa giới hành chính bao gồm các hành vi
sau: Làm sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, biên bản bàn giao mốc địa giới hành
chính; cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa.
Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm các hành vi
sau: Không tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kịp thời theo
15




Vi phạm quy định về quản lý đất do được nhà nước giao để quản lý bao
gồm các hành vi sau: Để xảy ra tình trạng người được pháp luật cho phép sử dụng
đất tạm thời mà sử dụng đất sai mục đích; sử dụng đất sai mục đích; để đất bị lấn,
bị chiếm, bị thất thoát.
Vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và
sử dụng đất bao gồm các hành vi sau: Không nhận hồ sơ đã hợp lệ, đầy đủ, không
hướng dẫn cụ thể khi tiếp nhận hồ sơ, gây phiền hà đối với người nộp hồ sơ, nhận
hồ sơ mà không ghi vào sổ theo dõi; tự đặt ra các thủ tục hành chính ngoài quy
định chung, gây phiền hà đối với người xin làm các thủ tục hành chính; giải quyết
thủ tục hành chính không đúng trình tự quy định, trì hoãn việc giao các loại giấy
tờ đã được cơ quan có thẩm quyền ký cho người xin làm thủ tục hành chính; giải
quyết thủ tục hành chính chậm so với thời hạn quy định; từ chối thực hiện hoặc
không thực hiện thủ tục hành chính mà theo quy định của pháp luật về đất đai đã
đủ điều kiện để thực hiện; thực hiện thủ tục hành chính không đúng thẩm quyền;
quyết định, ghi ý kiến hoặc xác nhận vào hồ sơ không đúng quy định gây thiệt hại
hoặc tạo điều kiện cho người xin làm thủ tục hành chính gây thiệt hại cho nhà
nước, tổ chức và công dân; làm mất, làm hư hại, làm sai lệch nội dung hồ sơ.
- Cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính là các cơ quan nhà nước thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ
sở hữu toàn dân về đất đai, bao gồm: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và UBND các cấp; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ
trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp và các cá nhân có thẩm
quyền tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp.
1.1.1.3. Các loại khiếu nại về đất đai
Nội dung khiếu nại về đất đai rất đa dạng và phức tạp. Theo đó, hoạt động
quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú
với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử
dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không
17

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status