Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tăng trưởng công nghiệp bằng mô hình kinh tế lượng - Pdf 41

LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp là ngành sản xuất ra một khối lượng của cải vất chất rất lớn
cho xã hội, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp không
những cung cấp hầu hết các công cụ, tư liệu sản xuất xây dựng cơ sở vật chất
cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị góp
phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của xã hội. Vì vậy
tăng trưởng công nghiệp có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành
kinh tế khác như: nông nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, dịch vụ, quốc
phòng…Do công nghiệp có vai trò quan trọng như vậy nên khi đánh giá trình độ
phát triển kinh tế của một quốc gia tiêu chuẩn đầu tiên phải đề cập đến là tỷ
trọng của ngành công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
Ngày nay, một nước muốn có trình độ kinh tế cao, nhất thiết phải có một
hệ thống các ngành công nghiệp hiện đại và đa dạng trong đó các ngành mũi
nhọn phải được chú ý thích đáng. Do vậy chỉ có tăng trưởng công nghiệp mới
giúp các quốc gia đang phát triển xây dựng nền công nghiệp bền vững và xoá
bớt khoảng cách với các nước phát triển kể cả về mặt kinh tế lẫn văn minh xã
hội. Nhận thức rõ điều này Đảng và Nhà nước ta từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI
(12-1986) đã có chủ trương đổi mới nền công nghiệp từ tập trung phát triển công
nghiệp nặng sang phát triển đồng bộ các ngành công nghiệp đặc biệt là công
nghiệp chế biến và hàng tiêu dùng. Chính từ chủ trương đổi mới đó, sau gần 20
năm công nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể, tăng trưởng công
nghiệp này càng cao và ổn định, các sản phẩm công nghiệp đáp ứng được nhu
cầu trong nước và còn xuất khẩu cạnh tranh với các sản phẩm của nước ngoài.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công nghiệp Việt Nam còn
một số điểm kém phát triển như lao động trong ngành công nghiệp có trình độ
chưa cao, sản phẩm công nghiệp có sức cạnh tranh chưa cao…Với những thành
tựu cũng như thực trạng này chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh phát triển công
nghiệp để nước ta trở thành một nước công nghiệp trong thời gian sắp tới.
Để có được sự tăng trưởng trong công nghiệp như vậy thì cần phải xét tới
những yếu tố đã tác động tới sự phát triển đó. Bằng việc sử dụng mô hình trong

trừ tài nguyên rừng và thuỷ hải sản) và các hoạt động chế biến những sản
phẩm của ngành Nông lâm nghiệp, Thuỷ sản và Công nghiệp thành các sản
phẩm có giá trị sử dụng mới so với giá trị sửa dụng của sản phẩm ban đầu
đưa vào chế biến.
1.2. Phân loại ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay
(1) Công nghiệp khai thác mỏ gồm:
- Khai thác than.
- Khai thác dầu thô và khí tự nhiên.
- Khai thác quặng, kim loại.
- Khai thác đá, cát sỏi và các mỏ khác.
(2) Công nghiệp chế biến gồm:
- Sản xuất thực phẩm đồ uống.
- Sản xuất thuốc lá, thuốc lào.
- Dệt, may, thuộc da và sản xuất các sản phẩm từ da.
- Chế biến gỗ và lâm sản.
- Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy.
- Xuất bản, in và sao bản ghi các loại.
- Sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế và nhiên liệu hạt nhân.
- Sản xuất hoá chất và các sản phẩm hoá chất.
- Sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic.
- Sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại.
- Sản xuất kim loại.
- Sản xuất các sản phẩm từ kim loại (trừ máy móc, thiết bị).
- Sản xuất máy móc, thiết bị văn phòng, máy tính.
- Sản xuất radio, ti vi và thiết bị truyền thông.
- Sản xuất dụng cụ y tế, thiết bị chính xác (cân đo).
- Sản xuất xe có động cơ.
- Sản xuất các loại phương tiện khác.
3


trong cơ cấu sử dụng năng lượng hiện nay trên thế giới cũng như trong nước.
Sự xuất hiện của động cơ đốt trong và với sự xuất hiện của ngành công
nghiệp mới – hoá dầu, làm cho công nghiệp dầu mỏ ngày càng phát triển
nhanh chóng. Dầu mỏ được coi là vàng đen của đất nước. Việc khai thác dầu
mỏ trên thế giới hiện nay đạt trên 3 tỷ tấn/năm. Gần 40% lượng dầu mỏ khai
thác được tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển như khu vực Trung
Đông, Bắc Phi, Mỹ La tinh và Đông Nam Á. Cũng giống như nước ta, những
4


nước có nhiều dầu ở các khu vực này phần lớn là khai thác và xuất khẩu dầu
thô, chưa có những nhà máy lọc dầu tinh chế dầu tiên tiến. Khu khai thác dầu
mỏ nước ta tập trung chủ yếu ở vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu với các mỏ dầu
lớn như mỏ Bạch Hổ, Hồng Ngọc, Đại Hùng cho trữ lượng dầu lớn.
- Ngành công nghiệp điện lực: là cơ sở chủ yếu để phát triển nền công
nghiệp hiện đại. Đây là ngành công nghiệp được phát triển hết sức mạnh mẽ
trong thời đại hiện nay. Do sự phát triển của nhiều ngành sản xuất hiện đại,
những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đời sống nhân dân ngày càng tốt hơn đòi
hỏi nhu cầu sử dụng điện ngày càng nhiều hơn. Trên thế giới hiện nay điện
được sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau như nhiệt điện, thuỷ điện, năng
lượng mặt trời, từ gió.., gần đây một số nước còn chú trọng đến việc phát
triển việc sản xuất điện từ các nhà máy điện nguyên tử. Thông thường, các
nước có nhiều than và dầu thì xây dựng các nhà máy nhiệt điện, các nước
giàu thuỷ năng thì phát triển các nhà máy thuỷ điện. Ở nước ta do có nhiều
sông, thác lớn nên chúng ta đã xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện lớn để sản
xuất phục vụ cho tiêu dùng và sản xuất. Các nhà máy thuỷ điện có công suất
lớn như Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, Nhà máy thuỷ điện YALY, và hiện
nay chúng ta đang bắt đầu xây dựng nhà máy thuỷ điện có công suất lớn nhất
Đông Nam Á nhà máy thuỷ điện Sơn La.
* Ngành công nghiệp luyện kim: gồm hai ngành là luyện kim đen, sản xuất

chịu hậu quả của chiến tranh và có nền công nghiệp lạc hậu nên ngành công
nghiệp chế tạo máy chưa phát triển và bắt kịp với công nghiệp chế tạo máy
trên thế giới. Trước kia, ngành chế tạo máy ở nước ta mới chỉ chú trọng sản
xuất máy dệt và máy nông nghiệp. Ngày nay nhờ các thành tựu về khoa học,
công nghệ mà ngành chế tạo máy đã có những phát triển như việc sản xuất
xe máy, ô tô, các linh kiện điện tử…Sự phát triển của ngành chế tạo máy
hiện đại đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn về khoa học kỹ thuật, phải có nguồn
lao động với trình độ lành nghề, nguồn nguyên liệu cân thiết, và sự phát triển
đồng đều của các ngành công nghiệp khác hỗ trợ cho nó. Các ngành công
nghiệp chế tạo máy phân bố rải rác ở tất cả các vùng trong cả nước từ Bắc tới
Nam.
b. Ngành công nghiệp nhẹ
Công nghiệp nhẹ bao gồm rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau, đa
dạng về mặt hàng sản xuất và phức tạp về trình độ kỹ thuật. Nói chung, sản
phẩm của các ngành này đều nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
hàng ngày của đại đa số nhân dân, cho nên chúng có thị trường rất rộng lớn.
Một số ngành có nguồn gốc từ các ngành sản xuất thủ công, dần dần được cơ
khí hoá và hiện đại hoá. Nhân công của các ngành này không phải thoả mãn
nhiều điều kiện khắt khe về mặt thể lực, trình độ chuyên môn kỹ thuật như
nhân công của ngành công nghiệp nặng. Hầu hết họ đều được tuyển từ các
thợ thủ công lành nghề, có sẵn ít nhiều kinh nghiệm cần thiết về sản xuất. Do
đặc điểm của ngành công nghiệp nhẹ là phục vụ nhu cầu sinh hoạt nên các
nhà máy dệt, may, chế biến tập trung chủ yếu ở các vùng dân cư đông đúc, ở
các thành phố lớn, thành phố vệ tinh như Hà Nội, Nam Định, Việt Trì, Hải
Phòng, TP Hồ Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu, Huế, Đà Nẵng.. Vì đây là các
thị trường lớn dễ tiếp cận .
* Công nghiệp dệt: là một trong những ngành chủ đạo và quan trọng nhất
của công nghiệp nhẹ. Nó cung cấp những sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu
6


ga, nước sạch và
nước nóng

Sx,

Sx,

Khai

Khai

Chế

Chế

Công

phân

phân

thác

thác

tạo

biến

nghiệp



2. Công nghiệp Việt Nam trước năm 1986 và chủ trương đổi mới
2.1. Một vài nét về quá trình phát triển của Công nghiệp Việt Nam từ trước
năm 1986
Nước ta từ trước năm 1945 là một nước phong kiến thuộc địa, phương
thức sản xuất phong kiến trì trệ kéo dài, chính sách trọng nông, kiềm công, ức
thương nên công nghiệp không thể tách khỏi nông nghiệp để trở thành một
ngành độc lập. Do đó nền công nghiệp nước ta lúc bấy giờ là nền công nghiệp
què quặt không phát triển. Đến tháng 9/1945 khi nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời, tiếp quản chính quyền từ chế độ cũ Chính Phủ nước ta lúc bấy giờ
gặp vô vàn khó khăn, công nghiệp Việt Nam vốn đã què quặt lại chịu ảnh hưởng
nặng nề của chiến tranh nên càng sa sút. Song với đường lối và chủ trương đúng
đắn của Đảng cung với sự nỗ lực của cán bộ làm công nghiệp nên chỉ trong một
năm hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp quan trọng đã nhanh chóng được
phục hồi và đi vào sản xuất.
Từ tháng 5/1954 đến 5/1975, trong hoàn cảnh một phần đất nước còn
đang chiến tranh, công nghiệp Việt Nam vừa phải xây dựng một nền sản xuất
tiến dần lên cơ khí hoá và tự động hoá, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, một
mặt phải tiếp tục sản xuất để chi viện cho chiến trường miền Nam. Với chủ
trương khôi phục, phát triển kinh tế và cải tạo công thương nghiệp, chỉ sau một
thời gian ngắn công nghiệp miền Bắc đã nhanh chóng lấy lại được nhịp độ sản
xuất. Năm 1960 sản xuất của công nghiệp quốc doanh đạt gấp 25 lần so với năm
1955, cơ cấu công nghiệp có sự thay đổi đáng kể đã hình thành hệ thống công
nghiệp bao gồm 3 bộ phận chủ yếu là quốc doanh trung ương, quốc doanh địa
phương và tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã.
Năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước bước vào giai đoạn
lịch sử mới. Đại hội IV của Đảng đã xác định nội dung chủ yếu của công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường trước mắt là “Tập trung phát triển công
nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu đưa nông nghiệp một bước lên sản

năm 1985 tăng 12,1%).
2.2. Chủ trương đổi mới
Trên đây chúng ta đã điểm qua một vài nét chính về quá trình lịch sử của
công nghiệp Việt Nam. Qua đó ta thấy công nghiệp Việt Nam hình thành khá
muộn so với nền công nghiệp Thế Giới, mãi đến năm 1945 khi nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà ra đời thì nó mới thực sự trở thành ngành độc lập. Xuất phát
điểm công nghiệp thấp không chỉ về mặt kỹ thuật, công nghệ mà còn cả về khả
năng ứng dụng và môi trương kinh tế để có thể phát triển. Thêm vào đó là những
chủ trương, chính sách sai lầm sau ngày giải phóng. Tất cả những điều kiện trên
đã tạo thành bức rào cản kiên cố ngăn không cho kinh tế Việt Nam nói chung và
ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng phát triển như các nước trong khu vực,
hoà cùng nhịp đi lên của thế giới. Việt Nam trong điều kiện ấy thứcự đã bị tụt
hậu quá xa nhưng lại chỉ chậm chạp, năng nề lê từng bước để đuổi theo sự phát
triển với tốc độ chóng mặt của nền kinh tế Thế Giới.
Trước bối cảnh đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã đề ra đường
lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đi vào thế ổn
định và phát triển. Đại hội xác định: “ nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát
của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt kinh tế xã
hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH XHCN
trong chặng đường tiếp theo”.
9


Về các biện pháp lớn Đại hội chỉ rõ: “ Phải khai thác mọi khả năng của
các thành phần kinh tế liên kết với nhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò
chủ đạo, kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế
kế hoạch hoá hạch toán theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, sử dụng
đúng đắn quan hệ hàng hoá-tiền tệ, quản lý bằng phương pháp kinh tế là chủ
yếu. Căn cứ vào định hướng chung đó, phải bố trí lại cơ cấu kinh tế, điều chỉnh
lớn cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản, xác định lại vị trí ưu tiên của các ngành sản

10


công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Sản lượng dầu thô tăng từ
40 nghìn tấn năm 1986 lên 280 nghìn tấn năm 1987, 680 nghìn tấn năm 1988,
1,5 triệu tấn năm 1989 và 2,7 triệu tấn năm 1990. Tuy nhiên, những tiến bộ đó
mới chỉ là bước đầu và chưa vững chắc. Tốc độ tăng trưởng vẫn chưa ổn định :
1986 tăng 6,2%, năm 1987 tăng 10%, 1988 tăng 14,3%, 1989 giảm 3,3% và
1990 tăng 3,1%. Bước sang thập kỷ 90 công nghiệp mới thực sự khởi sắc.
Bình quân 5 năm 1991-1995 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công
nghiệp toàn ngành đạt 13,7%, vượt xa kế hoạch đạt ra (7,5-8,5%), trong đó khu
vực kinh tế Nhà nước tăng 15%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 10,6%. Đó là
thời kỳ tăng trưởng cao và ổn định nhất kể từ 1976. Các ngành công nghiệp then
chốt chiếm tỷ trọng lớn đều tăng khá: nhiên liệu, năng lượng tăng 20%, hoá chất
tăng 20,1%, luyện kim đen tăng 16,1%, chế biến lương thực tăng 13,6%, giấy
tăng 12,9%, may mặc tăng 27,3%, giầy da tăng 23,8%. Nhiều sản phẩm công
nghiệp quan trọng tăng trưởng khá: điện tăng 10,8%, dầu thô tăng 23,3%, thép
cán tăng 30,3%, xà phòng tăng 12,9%.. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
vừa tăng nhanh số lượng vừa nâng cao chất lượng nên bước đầu đã tăng sức
cạnh tranh với hàng ngoại. Cơ cấu ngành cơ cấu thành phần kinh tế cũng đã có
nhiều chuyển biến tích cực, trong đó đáng chú ý là công nghiệp khu vực FDI
ngày càng chiếm vị trí xứng đáng trong cơ cấu công nghiệp nước ta. Nhiều sản
phẩm mới có chất lượng cao xuất hiện làm phong phú thêm hàng hoá trên thị
trường trong nước và xuất khẩu. Năm 1995, công nghiệp FDI chiếm 23,6% tổng
giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, so với 52% của doanh nghiệp nhà nước.
Trong kế hoạch 5 năm 1996-2000, sản xuất công nghiệp nước ta tiếp tục
phát triển ổn định và tăng trưởng với nhịp độ cao. Giá trị sản xuất công nghiệp
bình quân 5 năm 1996-2000 tăng 13,8%: 1996 tăng 14,2%, năm 1997 tăng
13,8%, 1998 tăng 12,5%, 1999 tăng 11,6%, 2000 tăng 17,5%. Không chỉ tăng
trưởng cao mà sản xuất công nghiệp những năm cuối cùng của thập kỷ 90 đã

thôn. Các ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, làng nghề truyền
thống, làng nghề mới ở khu vực nông thôn được khôi phục và phát triển nhanh ở
tất cả các vùng trong cả nước.
Công nghiệp khu vực đầu tư nước ngoài do có lợi thế về máy móc thiết bị
và kỹ thuật hiện đại, có thị trường xuất khẩu khá ổn định, lại được Nhà nước
khuyến khích bằng các cơ chế, chính sách ngày càng thông thoáng, nên trong
những năm qua phát triển khá nhanh và ổn định hơn hẳn khu vực công nghiệp
nhà nước. Tốc độ tăng giá trị bình quân 5 năm 1991-1995 là 12%, 1996 là
21,7%, 1997 là 23,2%, 1998 là 24,4%, 1999 là 20% và năm 2000 là 21,8%. Vị
trí của công nghiệp FDI trong cơ cấu công nghiệp cả nước ngày càng được củng
cố. Hầu hết các ngành công nghiệp FDI đều tăng trưởng cao: năm 2000 so với
năm 1996; sản lượng xà phòng tăng 5,95 lần; tấm lợp tăng 71 lần, kính xây dựng
tăng gấp 200 lần; quạt điện dân dụng tăng 58%; ô tô lắp ráp tăng 7,46 lần, tivi
lắp ráp tăng 6,33 lần. Không chỉ tăng nhanh mà công nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài còn sản xuất với quy trình công nghệ hiện đại nên chất lượng và chi phí
sản xuất có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Tốc độ
tăng trưởng cao và tỷ trọng ngày càng lớn cùng với chất lượng cao giá thành hạ
của công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng đảm bảo nhịp
độ tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp cả nước trên 10% liên tục trong suốt
thập niên 90.

12


Bước sang thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng đã quyết định chiến lược
phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001-2010 và kế hoạch 5 năm 2001-2005 với
nội dung là đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sau 5
năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng IX, sản xuất công nghiệp nước ta đã đạt
được những thành tựu đáng ghi nhận. Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp
bình quân 5 nảm 2001-2005 đạt 15,7 % với xu hướng ổn định năm sau cao hơn

khí sửa chữa… thu hút các dự án đầu tư nước ngoài. Tính chung từ năm 1988
đến năm 2005 nước ta đã thu hút trên 3678 dự án đầu tư vào công nghiệp với
tổng số vốn đăng kí lên tới hàng chục tỷ USD. Khu vực này năm 2003 đã tạo ra
trên 37,2% giá trị sản xuất công nghiệp và tạo việc làm cho trên nửa triệu lao
động, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến. Ngoài ra việc mở rộng được
thị trường xuất khẩu trong đó chủ yếu là hàng hoá công nghiệp như dệt may da
giầy, máy chế biến, nông lâm thuỷ sản chế biến cũng thúc đẩy sự tăng trưởng
công nghiệp. Đó là kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của
công nghiệp nước ta những năm đầu thế kỷ XXI, vượt xa các thời kỳ trước đó.
3.2. Tỷ trọng công nghiệp trong một số chỉ tiêu Kinh tế tổng hợp
Ngay từ những năm đầu tiên của nền kinh tế non trẻ nước ta, công nghiệp
đóng góp một phần rất lớn trong các chỉ tiêu kinh tế. Đến năm 1986, tỷ trọng
công nghiệp trên giá trị tổng sản lượng công-nông nghiệp là 53,5%, chiếm
42,8% trong tổng sản phẩm xã hội, 28,6% thu nhập quốc dân, vốn đầu tư cho
công nghiệp chiếm 43,9% vốn đầu tư phát triển. Các tỷ lệ này được tăng dần
trong các năm 1987,1988 nhưng đến năm1989 cùng với sự giảm sụt về giá trị
sản lượng công nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong các chỉ tiêu kinh tế đều giảm
xuống còn mức gần bằng năm 1986.
Do tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu sản xuất công nghiệp chuyển dịch theo
hướng tích cực, chất lượng sản phẩm có nhiều tiến bộ nên vai trò của công
nghiệp trong dịch chuyển cơ cấu kinh tế quốc dân trong 4 năm đầu thế kỷ XXI
đã thể hiện khá rõ nét. Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ
36,73% năm 2000 lên 38,13% năm 2001; 38,49% năm 2002; 39,95% năm 2003;
40,09% năm 2004 và 41,02% năm 2005.
Nhìn chung, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển đầu tư vào công nghiệp thường
cao hơn tỷ trọng công nghiệp trong GDP. Điều này cũng dễ hiểu vì công nghiệp
luôn đòi hỏi phải đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng: nhà xưởng, máy móc, thiết bị ...
Nếu tỷ trọng trung bình của công nghiệp trong GDP giai đoạn 1990-1995 là
14


2000, khu vực ngoài quốc doanh mới chiếm 24,5% trong giá trị sản xuất theo
giá thực tế của toàn ngành công nghiệp, thì năm 2003 là 25,66% và năm 2005
lên 28,5%.
Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tỷ trọng ngày càng giảm dần, do thực
hiện sắp xếp lại doanh nghiệp, cổ phần hoá chuyển qua khu vực ngoài quốc
doanh, giải thể sát nhập các doanh nghiệp sản xuất kém hiệu quả, trong khi đó
lại hạn chế phát triển bề rộng ( hạn chế thành lập DNNN mới), tập trung phát
triển bề sâu. Nếu năm 2000, tỷ trọng giá trị sản xuất (tính theo giá cố định) của
15


DNNN chiếm 41,2% thì năm 2001 giảm xuống còn 41,1%, năm 2003 còn
38,56%, năm 2005 là 34,8%.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được hình thành chậm nhưng có ưu
thế về kỹ thuật công nghệ cao hơn, kinh nghiệm quản lý tốt hơn, quan hệ kinh tế
đối ngoại thuận lưọi hơn so với hai khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh.
Do vậy tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực này tăng nhanh theo thời gian từ
26,73% năm 1996 lên 35,3% năm 2001, 35,78% năm 2003, 37,2% năm 2005,
trở thành khu vực chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 sau khu vực quốc doanh kể từ năm
2000. Có thể nói, xu hướng chuyển dịch cơ cấu giữa các khu vực, thành phần
kinh tế loại hình doanh nghiệp công nghiệp đang diễn ra theo đúng đường lối
phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước. Khu vực tư nhân và
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh hơn, chiếm tỷ trọng ngày
càng cao, còn khu vực doanh nghiệp Nhà nước đang giảm dần nhưng vẫn giữa
vai trò chủ đạo.
Đồ thị 2: Cơ cấu GO công nghiệp phân theo nguồn vốn đầu tư

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng đa thành phần
nói trên, cơ cấu sản xuất nội bộ ngành công nghiệp cũng đã có bước chuyển tích
cực. Công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn, những năm qua luôn đạt tốc độ

4,05%.
Đồ thị 3: Tỷ trọng các ngành công nghiệp chủ yếu trong toàn bộ
nền công nghiệp

17


Bên cạnh đó xu hướng chuyển đổi cơ cấu theo vùng cũng là nét mới đáng
quan tâm. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp vùng Đông Nam Bộ vẫn chiếm
trên 50% của cả nước. Đây là vùng có nhiều khu công nghiệp tập trung, thu hút
nhiều dự án FDI, có thị trường xuất khẩu thuận lợi, có nhiều sản phẩm chất
lượng cao. Vùng đồng bằng sông Hồng tuy chiếm tỷ trọng bé hơn Đông Nam
Bộ nhưng cũng có khởi sắc do từ năm 2001 tới nay đã hình thành nhiều khu
công nghiệp tập trung quy mô lớn ở Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hưng Yên,
Hải Dương, Hà Tây và Bắc Ninh. Đây cũng là vùng có nhiều làng nghề truyền
thống đã khôi phục và phát triển khá nhanh nhờ các chính sách kinh tế tài chính
thông thoáng của Chính phủ.
3.4. Công nghệ
Trong những năm qua do mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, văn hoá và
khoa học kỹ thuật với các nước trên thế giới, trong đó có những nước công
nghiệp phát triển và công nghiệp mới (NIC) chúng ta đã đẩy mạnh hoạt động
nghiên cứu theo chiều sâu theo công nghệ. Trước đây trình độ công nghệ, trang
thiết bị trong ngành công nghiệp hết sức lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu
phát triển kinh tế xã hội. Quá trình đổi mới với sự nỗ lực tập trung đầu tư, ứng
dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất mà trực tiếp đổi mới
máy móc thiết bị kỹ thuật phù hợp đã tạo một bước tiến mới, nâng cao trình độ
công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp, tạo năng suất lao động cao, chất
lượng sản phẩm được cải tiến là cơ sở để mở rộng thị trường hàng hóa công
nghiệp Việt Nam cả trong nước và nước ngoài. Ở một số ngành công nghiệp đã
có sự chuyển biến theo hướng tiếp cận công nghiệp tiên tiến, hiện đại, hình

nghiệp trung ương cao hơn doanh nghiệp địa phương. Công nghiệp tiên tiến chủ
yếu tập trung ở các liên doanh, doanh nghiệp có 100% có vốn đầu tư nước
ngoài, các doanh nghiệp trng khu công nghiệp, khu chế xuất. Theo đánh giá
trình độ tự động hoá trong các doanh nghiệp công nghiệp thì các doanh nghiệp
công nghiệp nhà nước đạt 3% thiết bị tự động hoá, 39% thiết bị bán cơ khí còn ở
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ này là 10% và 45%.
Cùng với chủ trương của nhà nước về đổi mới công nghệ trong quá trình
sản xuất, các doanh nghiệp trong và ngoài nước luôn cố gắng tập trung nâng cao
trình độ công nghệ cải tiến thiết bị máy móc, dây truyền theo hướng hiện đại
hoá, đồng bộ hoá. Các doanh nghiệp này đã bắt đầu phát huy được tính chủ
động sáng tạo trong việc đổi mới công nghệ, phù hợp với năng lực sản xuất kinh
19


doanh, phát huy được hiệu quả sản xuất. Đồng thời đã khai thác nhiều nguồn,
khơi thông nhiều dòng công nghệ và từng bước thâm nhập vào thị trường công
nghệ thế giới.
Trong những năm vừa qua, các khu công nghiệp mọc lên kéo theo quá
trình đô thị hoá thúc đẩy công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong các ngành nghề
và thu hút thêm việc làm cho người lao động. Không chỉ ở vùng Đông Nam Bộ,
mà việc hình thành một số khu công nghiệp ở đồng bằng Sông Hồng mới 3 năm
gần đây đã cho thấy tác động tích cực của các khu công nghệ cao. Trong số 115
khu công nghiệp hiện có tại 42 tỉnh thành trong cả nước đã đóng góp 26% giá trị
sản xuất công nghiệp cả nước, 19% giá trị xuất khẩu trong toàn bộ nền công
nghiệp. Với việc ứng dụng công nghệ hiện đại thì việc phát triển các khu công
nghiệp có công nghệ cao là nhu cầu tất yếu đối với nước ta hiện nay.
Nói tóm lại nhờ tiếp xúc với công nghệ sản xuất tiên tiến các ngành công
nghiệp đã nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng được bảo
đảm, năng xuất lao động cải thiện, vốn đầu tư đem lại tỉ suất lợi nhuận cao…góp
phần đẩy mạnh nền kinh tế quốc dân phát triển, gắn quá trình công nghiệp hoá

có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 19,7%, lao động công nghiệp quốc doanh
chiếm tỷ lệ 18,07%. Vậy đã có sự dịch chuyển lao động từ khu vực quốc doanh
sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và xu hướng này ngày càng tăng trong
những năm sau khi nước ta tham gia vào WTO. Các địa phương thu hút nhiều
lao động nhất vẫn là những trung tâm công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm như
Đồng Bằng Sông Hồng với tỷ lệ 28% trong đó Hà Nội chiếm 6,2%, Đồng Bằng
Nam Bộ 27,6% trong đó thành phố Hồ Chí Minh chiếm 16,5%. Cơ cấu lao động
công nghiệp chia cho các ngành công nghiệp chế biến 89,3%, công nghiệp khai
thác 8,1% và sản xuất, phân phối địên, khí đốt, nước 2,6%. Nhìn chung, lao
động trong ngành công nghiệp chế biến vẫn luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với
công nghiệp khai thác và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước.
Về trình độ học vấn lao động trong khu vực kinh tế nhà nước hoặc có vốn
đầu tư hay cổ phần của nhà nước cao hơn so với khu vực khác. Doanh nghiệp tư
nhân, đặc biệt là các hợp tác xã lao động có bằng cấp không nhiều. Tính trong
các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước số lao động ở trên trình độ trên đại học
chiếm 0,04%, đại học và cao đẳng chiếm 5,56%, trung cấp 6,07%, công nhân kỹ
thuật 23,73%. Trong khi đó ở khu vực tư nhân tỷ lệ này là 0,01%;
0,02%;5,93%;31,47%. Các ngành xuất bản, in và sao bản ghi các loại, lao động
có bằng cấp khá cao, trình độ cao đẳng trở lên chiếm 5,1% , trung cấp 8%, công
nhân kỹ thuật 4,04% hay ngành sản xuất hoá chất và các sản phẩm hoá chất có
7,4 % lao động đạt trình độ cao đẳng trở lên, 2,63% đạt trung cấp và 1,91% là
công nhân kỹ thuật. Ngược lại, trong ngành khai thác quặng kim loại 100% lao
động đều không có các bằng cấp đã nêu hay ngành sản xuất từ rơm rạ tre nứa
(tiểu thủ công nghiệp) trình độ cao đẳng/ trung cấp/ đai học là 0,11%/ 0,43%/
0,66% còn ở ngành tái chế tỷ lệ này là 0%/ 1,47%/ 0,98%. Do có cơ chế chuyển
dịch cơ cấu các thành phần trong nền kinh tế cũng đã ảnh hưởng đến việc
chuyển dịch về mặt số lượng trong các ngành từ ngành nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ. Cùng với việc phát triển công nghiệp nên số lao động tham
gia vào sản xuất công nghiệp ngày càng tăng với số lượng như sau: năm 1986 số
lao động trong các ngành công nghiệp mới có 2593009 người thì cho đến năm

IG: tốc độ tăng trưởng GDP

Bảng 1: Hệ số ICOR của ngành công nghiệp từ năm 1996-2005.
Năm

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

ICOR

1.36

1.23

1.456

1.612

0.848

trị sản xuất và giá trị tăng thêm vẫn còn lớn. Ví dụ năm 2004, tốc độ tăng trưởng
giá trị sản xuất là 16% trong khi đó tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm là
10,2% và độ chênh lệch giữa 2 tốc độ này là 5,8%. Đây cũng chính là một
nguyên nhân làm việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam còn chưa cao và
ảnh hưởng nhiều tới quá trình sản xuất công nghiệp trong nước.
Mức độ hợp tác kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành
và giữa các ngành có nhiều hạn chế. Chưa tạo được mối liên kết phát triển các
ngành theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường, tạo nội lực cho ngành công
nghiệp vận động và phát triển. Thiếu các doanh nghiệp có khả năng về vốn,
công nghệ, tài chính, thị trường làm hạt nhân để trợ giúp các doanh nghiệp vừa
và nhỏ phát triển.
*Đầu tư cho ngành công nghiệp chưa được quan tâm đúng mức
Tỷ trọng đầu tư cho ngành công nghiệp mặc dù chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng số vốn đầu tư toàn xã hội song số vốn đó chưa đủ để cơ cấu lại toàn bộ nền
công nghiệp. Cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp cũng như tỷ trọng vốn tham
gia của các thành phần kinh tế chưa thực sự hướng tới một nền kinh tế thị trường
hoà hợp và cạnh tranh quyết liệt. Nhiều ngành, lĩnh vực công nghiệp có vai trò
và tác động lớn như chế tạo máy móc thiết bị, công nghiệp nguyên liệu… chưa
được quan tâm đúng mức. trong khi đó vốn đầu tư vào các ngành xi măng, mía
đường không mang lại hiệu quả. Đầu tư vẫn còn thiếu tập trung, dàn trải mới
thấy lợi trước mắt là đầu tư mà chưa thấy được triển vọng phát triển lâu dài.
* Sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Việt Nam còn thấp
Ngoài những nguyên nhân về chi phí cao dẫn đến giá thành cao, công
nghệ lạc hậu khiến sản phẩm kém chất lượng thì còn một số nguyên nhân dẫn
đến tình trạng này như: doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam chưa chú ý nhiều
đến khâu bao bì đóng gói, mẫu mã sản phẩm còn chưa phong phú. Vì thế các sản
phẩm công nghiệp Việt Nam còn không thể tồn tại ngay ở thị trường trong nước
chứ chưa nói đến những đòi hỏi khắt khe của thị trường nước ngoài. Một nguyên
nhân hết sức quan trọng nữa là vấn đề thương hiệu của sản phẩm. Nhiều tên các
23

1.2. Biến độc lập ( biến giải thích) trong mô hình
* Vốn đầu tư sản xuất cho ngành công nghiệp (ICN)
Là lượng vốn đầu tư vào sản xuất công nghiệp bao gồm cả vốn của khu
vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực đầu tư
nước ngoài. Vốn đầu tư là yếu tố hết sức quan trọng đối với tăng trưởng của
công nghiệp, để biết được vốn đầu tư có được sử dụng hiệu quả hay không ta
xem xét tới việc khi đầu tư thêm một đồng vốn thì tạo ra thêm được bao nhiêu
giá trị sản phẩm.
* Số lao động trong ngành công nghiệp (LCN)
Là tổng số lao động cả lao động trí óc và lao động tay chân có tham gia
sản xuất trong ngành công nghiệp. Bất kỳ quốc gia nào đều cần đến lao động,
lao động là nguồn lực quý nhất, nguồn lực quyết định trong số các nguồn lực tác
động tới phát triển. Do nước ta vẫn là nước công nghiệp còn lạc hậu, nhiều
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status