TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
===£0|Ũ3o8===
Nguyễn Thị Huyền
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG HỒN HỢP PANi
- THAN HOẠT TÍNH HẤP THU THUỐC
BẢO VỆ• THỰC
VẬT
•
•
KHÓA LUÂN
TỐT NGHIÊP
ĐAI
HOC
•
•
•
•
Chuyên ngành: Hốa học Hữu cơ
Người hướng dẫn khoa học
TS. Dương Quang Huấn
HÀ NỘI-2016
1
LỜI CẢM ƠN
3. Nhiệm vụ nghiên cứ u ......................................................................................
2
4. Đối tuợng và phạm vi nghiên cứ u..................................................................
2
5. Phuơng pháp nghiên cứ u.................................................................................
2
6. Ý nghĩa khoa học và thục tiễn........................................................................
2
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN...............................................................................
3
1.1. Giới thiệu chung về thuốc BVTV - POP ....................................................
3
1.1.1 .Định nghĩa................................................................................
3
1.1.2. Phân loại thuốc bảo vệ thục v ậ t...............................................
1.2.1. Cấu trúc polyanilin..................................................................
12
1.2.2. Phương pháp tổng hợp polyanilin..........................................
15
1.2.3. ứng dụng của PANi................................................................
15
1.3. Tổng quan về than hoạt tín h........................................................................
16
1.3.1. Cấu tạo của than hoạt tín h .......................................................
16
1.3.2. ứng dụng của than hoạt tính...................................................
17
1.4. Quá trình hấp p h ụ ........................................................................................
17
1.4.1. Các khái niệm cơ b ản ...............................................................
2.2. Thực nghiệm................................................................................................
21
2.2.1. Máy móc và thiết b ị .................................................................
22
2.2.2. Dụng cụ và hóa chất................................................................
22
2.2.3. Tiến hành thí nghiệm..............................................................
22
4
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
26
3.1. Hiệu suất tổng hợp PANi.............................................................................
26
3.2. Đặc trưng của PANi.....................................................................................
26
34
5
DANH MUC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BVTV
Bảo vệ thực vật
DDD
Dichlorodiphenyldichloroethan
DDE
Dichlorodiphenyldichloroethylen
DDT
1,1,1-trichloro-2,2-bis(4chlorophenyl)ethan
GCMS
Gas Chromatography Mass Spectometry
DANH MUC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
•
Bảng 3.1. Quy kết các vân đặc trưng trong phổ IR của PANi
Bảng 3.2. Kêt quả hàm lượng các chât trong mẫu đât ban đâu chưa xử lý
Bảng 3.3. Kết quả thuốc BVTV sau 3 lần tách chiết
Bảng 3.4. Nông độ các hóa chât thuôc BVTV trong mẫu ban đâu (ppm)
Bảng 3.5. Nông độ thuôc BVTV sau khi hâp thu còn lại trong các mẫu
Bảng 3.6. Nông độ thuôc BVTV đã hâp thu được băng các vật liệu
Bảng 3.7. Dung lượng hấp thu cho từng chất POP
Bảng 3.8. Anh hưởng của nông độ đên khả năng hâp thu thuôc BVTV của PANi
Hình 1.1. Câu tạo của polyanilin
Hình 1.2. Cấu trúc của PANi
Hình 1.3. Sơ đô tông họp PANi từ ANi và (NH4)2S2Ù8
Hình 3.1. Phô hông ngoại (IR) của PANi
Hình 3.2. Ảnh SEM của PANi
Hình 3.3. Săc kí đô phân tích thuôc BVTV của một sô mẫu tách chiêt
Hình 3.4. Săc kí đô phân tích thuôc BVTV của một sô mẫu hâp thu
Hình 3.5. Biêu đô nông độ thuôc BVTV sau khi hâp thu còn lại tíong các mẫu
Hình 3.6. Biểu đồ tổng nồng độ thuốc BVTV đã hấp thu được bằng các vật liệu
Hình 3.7. Biêu đô hiệu suât hâp thu nông độ thuôc BVTV đã hâp thu được băng các vật liệu
Hình 3.8. Biểu đồ dung lượng hấp thu cho từng chất
Hình 3.9. Biêu đô tông dung lượng hâp thu
Hình 3.10. Biêu đô hiệu suât hâp thu thuôc BVTV của PANi ở các nông độ khác nhau
Hình 3.11. Đường đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir dạng tuyến tính của PANi
7
1
2. Mục đích nghiên cứu
- Tổng hợp PANi bằng phương pháp hóa học.
- Hấp thu thuốc BVTV bằng PANi đã tổng hợp bằng phương pháp hóa học kết
hợp với than hoạt tính.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình ô nhiễm thuốc BVTV hiện nay.
- Nghiên cứu phương pháp tổng hợp PANi bằng phương pháp hóa học.
- Nghiên cứu hấp thu thuốc BVTV bằng PANi - than hoạt tính.
- Phân tích, đánh giá kết quả mẫu nước có chứa thuốc BVTV đã được hấp thu.
4. Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thuốc BVTV, PANi, than hoạt tính.
- Phạm vi nghiên cứu: Phòng thí nghiệm.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đọc và tìm hiểu tài liệu có liên quan tới PANi và thuốc BVTV, phương pháp
hấp thu chất ô nhiễm.
- Các phương pháp IR, SEM để để đánh giá PANi.
- Phương pháp GC/MS để phân tích hàm lượng thuốc BVTV.
- Các phần mềm chuyên dụng để đánh giá, phân tích và xử lí số liệu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của báo cáo góp phần làm cơ sở khoa học để mở ra một
phương pháp xử lí chất ô nhiễm mới đơn giản và hiệu quả.
3
+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa.
+ Nhóm các hợp chất sinh học: Pyrethroid, Permetrin...
- Nhóm các chất trừ nấm, trừ bệnh, trừ vi sinh vật gây hại
+ Các hợp chất chứa đồng.
+ Các hợp chất chứa lưu huỳnh.
+ Các hợp chất chứa thuỷ ngân.
+ Một số loại khác.
- Nhóm các chất trừ cỏ dại, làm rụng lá, kích thích sinh trưởng
+ Các hợp chất chứa Phênol (2,4-D).
+ Các hợp chất của axits propyonic (Dalapon).
+ Các dẫn xuất của cacbamat (ordram).
+ Triazin.
- Nhóm các chất diệt chuột và động vật gặm nhấm: Photphua kẽm và
Warfarin
1.1.2.2. Phân loại theo gốc hóa học
- Thuốc có nguồn gốc thảo mộc : bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay
các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại, có độc tính cấp cao
nhưng mau phân hủy trong môi trường.
- Nhóm clo hữu cơ: DDT, 666,... có độ độc cấp tính tương đối thấp nhưng tồn
lưu lâu trong cơ thể người, động vật và môi trường, gây độc mãn tính nên nhiều sản
phẩm bị cấm hoặc hạn chế sử dụng.
- Nhóm lân hữu cơ: Wofatox Bi-58,... có độ độc cấp tính đối cao nhưng mau
phân hủy trong cơ thể người và môi trường hơn so với nhóm clo hữu cơ.
- Nhóm carbamate: Mipcin, Bassa, Sevin,... có độ độc cấp tính tương đối cao,
khả năng phân hủy tương tư nhóm lân hữu cơ nên được dùng rộng rãi vì thuốc tương
đối rẻ tiền, hiệu lực cao,
- Có thể bay hơi và phát tán đi xa theo không khí hoặc nước.
5
1.1.4. Một số hợp chất POP tiêu biểu [8, 21]
Thống kê cho thấy ở nước ta có tới 13 chất thuộc loại nhóm hữu cơ khó
phân hủy POP, gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người.
Chordane - được sử dụng rộng rãi để diệt mối và là thuốc trừ sâu diện rộng
trong nông nghiệp.
DDT - được biết đến nhiều nhất, được sử dụng rộng rãi trong chiến tranh thế
giới thứ II để bảo vệ binh lính và ngưới dân khỏi sốt rét, sốt phát ban và nhiều bệnh
dịch khác lây truyền bởi côn trùng.
Dieldrin - được sử dụng chủ yếu để diệt mối và các loại sâu hại vải, kiểm
soát các bệnh dịch lây lan do côn trùng và diệt các loại côn trùng sống trong đất nông
nghiệp.
Đioxin - được tạo ra một cách vô tình do sự đốt cháy không hoàn toàn, cũng
như trong quá trình sản xuất một số loại thuốc trừ sâu và các hóa chất khác. Ngoài ra,
một số kiểu tái chế kim loại, nghiền và tẩy trắng giấy cũng có thể sản sinh ra đioxin.
Đioxin còn có trong khí thải động cơ, khói thuốc lá và khó than gỗ.
Endrin - đây là loại thuốc được phun trên những cánh đồng bông và ngũ cốc
để diệt trừ các loại gặm nhấm, trừ sâu. Chất này còn được sử dụng để diệt các loại
chuột nhà, chuột đồng ...
Hexachlorobenzen (HCB) - được sử dụng để diệt nấm hại cây lương thực.
Đây cũng là một phụ phẩm trong việc sản xuất một số loại hóa chất nhất định và là kết
quả của những quá trình phát thải ra đioxin và furan.
Mirex - một loại thuốc trừ sâu sử dụng chủ yếu để diệt kiến lửa và các loại
kiến và mối khác. Mirex còn được dùng làm chất làm chậm lửa trong chất dẻo, cao su
và đồ điện.
Polychlorinated Biphenyl (PCB) - được dùng trong công nghiệp làm chất lưu
Môi trường thì ô nhiễm môi trường do tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật đang là một
vấn đề môi trường hết sức nghiêm trọng. Đây là những hợp chất hữu cơ độc hại đứng
đầu danh sách 12 loại độc chất nguy hiểm, tồn tại rất bền trong môi trường nên rất khó
để phân hủy sinh học. Trong đó, chủ yếu lại là các loại hóa chất thuộc nhóm POP như:
DDT, 666, Aldrin... Theo Quyết định số 1946 của Thủ tướng Chính phủ, hiện cả nước
7
còn có 15 tỉnh với 240 điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật. Ngoài ra, theo thống kê
về các điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật từ năm 2007 đến năm 2009, phát hiện
1.153 khu vực gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố, trong đó có
khoảng 864 khu vực môi trường đất bị ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên
địa bàn 17 tỉnh, thành phố và 289 kho hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên địa bàn 35
tỉnh thành phố. Kết quả điều tra và phân loại theo quy định tại Điều 92 của Luật Bảo vệ
môi trường thì trong tổng số 864 khu vực bị ô nhiễm, có 189 khu vực bị ô nhiễm đặc
biệt nghiêm trọng và ô nhiễm nghiêm trọng, 87 khu vực bị ô nhiễm và 588 khu vực đất
có ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu nhưng vẫn chưa đánh giá chi tiết mức độ ô
nhiễm. Trong số 289 kho chứa hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu và phân loại cơ sở theo
quy định tại Thông tư số 07/2007 ngày 03/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
về việc hướng dẫn phân loại và Quyết định danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường cần xử lý, có 51 kho gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, 8 kho gây ô nhiễm
môi trường và 230 kho chưa đánh giá được mức độ ô nhiễm.
Theo các kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Tổng
cục Môi trường, thuốc bảo vệ thực vật hiện còn tồn lưu ở Việt Nam chủ yếu là DDT
(lẫn với Lindan). Đây là những loại hoá chất còn tồn lưu tại các kho từ trước năm
1990. Ngoài ra, ở Việt Nam hiện còn tồn đọng 2 loại thuốc bảo vệ thực vật là 2,4-D và
thiodan nằm ngoài danh mục thuốc bảo vệ thực vật là các hợp chất POP theo Công ước
Stockholm, nhưng lại thuộc nhóm thuốc bảo vệ thực vật hữu cơ khó phân huỷ, lượng
tồn đọng khoảng 400 kg dạng bột và 5,8 lít dạng lỏng. Từ năm 1993 một số loại hợp
chất như DDT, lindan, HCB đã bị cấm sử dụng tại Việt Nam, tuy nhiên hàm lượng
hiệp quốc đánh giá mỗi năm có khoảng 3 triệu nông dân ở các nước đang phát triển bị
nhiễm độc trầm trọng bởi thuốc trừ sâu, trong số đó có khoảng 18000 người chết.
Như vậy vẫn đề ô nhiễm thuốc BVTV không chỉ là vấn đề cấp bách của Việt
Nam nói riêng mà còn là vấn đề của cả thế giới nói chung.
9
1.1.7. Các phương pháp xử lý ô nhiễm thuốc BVTV đã biết [6,8]
Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều biện pháp khác nhau được
nghiên cứu và sử dụng để xử lý các đối tượng nhiễm hóa chất BVTV cũng như tiêu
hủy chúng và những biện pháp được sử dụng chủ yếu là:
1) Phá hủy bằng tia cực tím (hoặc bằng ánh sáng mặt trời).
2) Phá hủy bằng vi sóng plasma.
3) Oxy hóa bằng không khí ướt.
4) Oxy hóa bằng nhiệt độ cao (thiêu đốt, nung chảy, lò nung chảy).
5) Phân hủy bằng công nghệ sinh học.
6) Khử bằng hóa chất pha hơi.
7) Khử bằng chất xúc tác, kiềm, oxi hóa điện hóa trung gian.
8) Oxy hóa muối nóng chảy.
9) Oxy hóa siêu tới hạn và plasma.
10) Sử dụng lò đốt đặc chủng.
11) Lò đốt xi măng.
Cho đến nay, nước ta chưa có công nghệ xử lý triệt để đất có tồn dư thuốc bảo
vệ thực vật thuộc nhóm khó phân hủy và vẫn sử dụng các công nghệ: sử dụng lò thiêu
đốt nhiệt độ thấp (Trung tâm Công nghệ Xử lý môi trường - Bộ Tư lệnh Hóa học), sử
dụng lò đốt xi măng nhiệt độ cao (Công ty Holchim thí điểm tại Hòn Chông - Nghệ
An), sử dụng lò đốt 2 cấp có can thiệp làm lạnh cưỡng bức (Công ty Môi Trường Xanh
thực hiện tại các khu công nghiệp) và công nghệ phân hủy sinh học (Viện Công nghệ
Sinh học phối hợp một số đơn vị khác thực hiện). Tuy nhiên, các phương pháp trên có
muối emeraldin, nhờ có sự tạo muối của axit với nhóm -NH- trong mạch phân tử PANi
làm cho nó có khả năng định hình (tạo tinh thể).
Số lượng mắt xích và khối lượng phân tử tuyệt đối của polyme là các đại lượng
trung bình vì thực tế polyme bao gồm các chuỗi mạch polyme với số lượng mắt xích
khác nhau.
11
Harsha và các cộng sự đã xác định được số lượng mắt xích và khối lượng phân
tử tuyệt đối của PANi bằng phương pháp tán xạ ánh sáng (LS) và phương pháp sắc ký
gel thấm (GPC) ở nhiệt độ 0 - 5 ° c và 23°c. Kết quả cho thấy, số lượng mắt xích trong
mạch PANi phụ thuộc vào điều kiện tổng hợp, nhiệt độ của phản ứng và phương pháp
xác định. Khi nhiệt độ tăng thì khối lượng phân tử tuyệt đối của PANi giảm, tổng hợp
PANi khi có mặt của muối sẽ làm tăng khối lượng phân tử tuyệt đối của PANi.
1.2.2. Phương pháp tổng hợp PANỈ
Trải qua ba thập niên kể từ lúc phát hiện vào năm 1977, đã có hàng ngàn báo
cáo khoa học và bằng phát minh mô tả về những các phương pháp tổng hợp của các
loại polyme dẫn điện. Phương cách tổng hợp có thể phân ra làm hai loại:
- Phương pháp điện hóa.
- Phương pháp hóa học.
Phương pháp điện hóa cho polyme ở dạng màng và phương pháp hóa học cho
polyme ở dạng bột. Những polyme dẫn điện thông dụng như polypyrol (PPy),
polyanilin (PANi) và polythiophen (PT) có thể được tổng hợp bằng cả hai phương
pháp.
1.2.2.1. Phương pháp hóa học
Phương pháp polyme hóa anilin theo con đường hóa học đã được biết đến từ
lâu. Tuy nhiên, sau khi phát hiện ra tính chất dẫn điện của PANi thì việc nghiên cứu
các phương pháp tổng hợp được quan tâm nhiều hơn.:
nhu tuong dao. Ket qua la hon hop chuyen tir mau trang cua he nhu tuong sang mau
13
vàng và cuối cùng là màu xanh lá cây. Sản phẩm thu được là PANi đã được doping bởi
axit và có cấu trúc hình ống.
PANi thu được bằng phương pháp tổng hợp hoá học khó tạo màng trên bề mặt
mẫu bảo vệ, hơn nữa lớp màng này không thể có tính bảo vệ cao như các màng sơn
phủ hữu cơ khác có cấu tạo sợi không gian với độ bền cơ lý cao hơn. Mặt khác, phản
ứng oxi hóa - khử polyanilin bằng phương pháp hóa học khó điều khiển hơn so với
phương pháp điện hóa vì ngoài phản ứng polyme hoá thì anilin còn tham gia vào một
số phản ứng phụ khác. Đây cũng là một điểm yếu của phương pháp polyme hóa anilin
bằng phương pháp hóa học.
Để tạo màng sơn phủ bảo vệ chống ăn mòn, có thể sử dụng phương pháp
polyme hóa điện hóa, tạo lớp phủ bảo vệ trực tiếp trên bề mặt điện cực. Đây cũng là
phương pháp chế tạo polyanilin có hiệu quả cao.
1.2.2.2. Phương pháp điện hóa
Ngoài phương pháp tổng hợp hóa học thông thường, do có tính chất dẫn điện
nên các polyme dẫn điện còn được tổng hợp bằng phương pháp điện hóa. Nguyên tắc
của phương pháp điện hóa là dùng dòng điện để tạo nên sự phân cực với điện thế thích
hợp, sao cho đủ năng lượng để oxi hóa monome trên bề mặt điện cực, khơi mào cho
polyme hóa điện hóa tạo màng dẫn điện phủ trên bề mặt điện cực làm việc (WE). Điện
cực làm việc có thể là Au, Pt, thép CT3, thép 316L,... Đối với anilin, trước khi polyme
hóa điện hóa, anilin được hòa tan trong dung dịch axit như H2 SO4 , HC1, (COOH)2 ...
Như vậy, có thể tạo trực tiếp PANi lên mẫu kim loại cần bảo vệ; do đó việc chống ăn
mòn và bảo vệ kim loại bằng phương pháp điện hóa có ưu việt hơn cả. Do thế oxi hoá
của ANi khoảng 0,7V nên có thể sử dụng phương pháp phân cực thế động trong
khoảng thế từ -0,2 đến 1,2V bằng thiết bị điện hoá potentiostat - là thiết bị tạo được
thẫm - trạng thái oxy hóa cao nhất của PANi có khả năng ngăn chặn sự tấn công của
axit hay môi trường ăn mòn.
PANi có thể sử dụng để chế tạo sensor khi dựa trên nguyên lý sự thay đổi điện
trở thông qua quá trình hấp thụ khi trên bề mặt điện cực.
15
Ngoài ra, do PANi có khả năng hấp thụ kim loại nặng nên người ta có thể dùng
nó để hấp thụ các kim loại nặng có trong nước thải công nghiệp cũng như nước thải
dân dụng [7]. Để tăng quá trình hấp thụ (tăng bề mặt tiếp xúc) và làm giảm giá thành
sản phẩm người ta phủ nên chất mang như: mùn cưa, vỏ lạc, vỏ đỗ, vỏ trứng... (tài
nguyên chất thải, có ích, rẻ tiền nên có thể khai thác sử dụng) một lóp màng PANi
mỏng. Ở Việt Nam đã có nhóm nghiên cứu tổng hợp compozit polyanilin - các phụ
phẩm nông nghiệp như vỏ lạc và vỏ trấu để xử lý chì (II) trong dung dịch đạt kết quả
khá tốt trong việc xử lý ion kim loại nặng gây ô nhiễm môi trường nước và khả năng
hấp thu chì sau khi hoàn nguyên vẫn đạt kết quả cao , nhưng PANi chỉ dừng ở việc xử
lý các ion kim loại nặng gây ô nhiễm trong môi trường nước.
1.3. Tổng quan về than hoạt tính
Than hoạt tính là một thuật ngữ thường được sử dụng cho một nhóm các chất
hấp phụ dạng tinh thể, có cấu trúc dạng mao quản làm cho diện tích bề mặt lớn, khả
năng hấp phụ tốt hơn.
Than hoạt tính có thành phần chủ yếu là cacbon, chiếm từ 85 đến 95% khối
lượng. Phần còn lại là các nguyên tố khác như hydro, nito, lưu huỳnh, oxi... có sẵn
trong nguyên liệu ban đầu hoặc mới liên kết vói cacbon trong quá trình hoạt hóa.
Thành phần của than hoạt tính thông thường là 88% c , 0.5% H, 0.5% N, 1% s và 6 7% o. Hàm lượng oxi có thể thay đổi từ 1 - 20% tùy thuộc vào nguyên liệu và cách
điều chê than hoạt tính.
1.3.1. Cấu tạo của than hoạt tính
Than hoạt tính có diện tích bề mặt ngoài rất lớn, nếu tính ra đơn vị khối lượng
phụ,còn chất được tích lũy trên bề mặt chất hấp phụ gọi là chất bị hấp phụ
Hiện tượng hấp phụ xảy ra do lực tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ. Theo
bản chất lực tương tác mà người ta có thể chia hấp phụ thành 2 loại: hấp phụ vật lý và
hấp phụ hóa học.
Hấp phụ vật lý: Các phân tử chất bị hấp phụ liên kết với những tiểu phân
(nguyên tử, phân tử, các ion...) ở bề mặt phân chia pha bởi lực Van der Walls yếu.
Trong hấp phụ vật lý, các phân tử của chất bị hấp phụ và chất hấp phụ không tạo thành
hợp chất hoá học (không tạo thành các liên kết hóa học) mà chất bị hấp phụ chỉ ngưng
tụ trên bề mặt phân chia pha và bị giữ lại trên bề mặt chất hấp phụ. Do vậy, trong quá
17
trình hấp phụ vật lý không có sự biến đổi đáng kể cấu trúc điện tử của cả chất hấp phụ
và chất bị hấp phụ. Ở hấp phụ vật lý, nhiệt hấp phụ không lớn, năng lượng tương tác
thường ít khi vượt quá 10 Kcal/mol, phần nhiều từ 3 - 5 Kcal/mol và năng lượng hoạt
hóa không vượt quá 1 Kcal/mol.
Hấp phụ hóa học: Xảy ra khi các phân tử chất hấp phụ tạo hợp chất hóa học
với các phân tử chất bị hấp phụ. Lực hấp phụ hóa học khi đó là lực liên kết hóa học
thông thường (liên kết ion, cộng hóa trị, phối trí...) Nhiệt hấp phụ hóa học tương
đương với nhiệt phản ứng hóa học và có thể đạt tới giá trị 100 Kcal/mol. cấu trúc
electron của cả chất hấp phụ và chất bị hấp phụ đều có sự biến đổi sâu sắc, tạo thành
liên kết hóa học. Trong thực tế, sự phân biệt hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học chỉ là
tương đối vì ranh giới giữa chúng không rõ rệt. Trong một số quá trình hấp phụ xảy ra
đồng thời cả hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học.
1.4.2. Dung lượng hấp phụ
Dung lượng hấp phụ (q) là lượng chất bị hấp phụ (độ hấp phụ) bởi 1 gam chất
hấp phụ rắn được tính theo công thức:
_(C
0- C ) . V