TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIẢO DỤC TIỂU HỌC
PHẠM THỊ TRANG
PHÁT TRIỂN NĂNG Lực GIẢI QUYÉT
VẤN ĐÈ CHO HS TRONG DẠY HỌC GIẢI
TOÁN CÓ LỜI VẰN Ở LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học
HÀ NỘI, 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIẢO DỤC TIỂU HỌC
PHẠM THỊ TRANG
PHÁT TRIỂN NĂNG Lực GIẢI QUYÉT
VẤN ĐÈ CHO HS TRONG DẠY HỌC GIẢI
TOÁN CÓ LỜI VẰN Ở LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. LÊ NGỌC SƠN
HÀ NỘI, 2016
Hà Nội, ngày 21 tháng 04 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Trang
Ill
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.........................................................................................................i
LỜI CẢM Ơ N ..............................................................................................................ii
MỤC LỤC...................................................................................................................iii
DANH MỤC VIẾT TẮT............................................................................................ V
DANH SÁCH CÁC BẢNG s ử DỤNG................................................................... vi
MỞ ĐẦU...................................................................................................................... 1
NỘI DUNG.................................................................................................................. 5
Chương 1.
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG L ự c
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HS TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN
CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4 .............................................................................................. 5
1.1. Cơ sở lí luận của việc phát ữiển NLGQVĐ cho HS trong dạy học giải toán có
lời văn ở lớp 4 .............................................................................................................. 5
1.1.1. Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4 ................................................................. 5
1.1.2. Đặc điểm HS lớp 4 .............................................................................................7
1.1.3. Dạy học giải toán ở tiểu học theo hướng phát triển NLGQVĐ.......................... 9
1.1.3.1. NLGQVĐ........................................................................................................ 9
1.1.3.2. Dạy học giải toán theo hướng phát triển NLGQVĐ................................... 11
1.2.
Cơ sở thực tiễn của việc phát triển NLGQVĐ cho HS trong dạy học giải toán
3.3. Két quả thực nghiệm........................................................................................ 42
3.3.1. Phân tích két quả thực nghiệm........................................................................ 42
3.3.2. Két luận rút ra từ thực nghiệm........................................................................ 43
Tiểu két chương 3.......................................................................................................43
KÉT LUẬN................................................................................................................ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................
PHỤ LỤC 1....................................................................................................................
PHỤ LỤC 2 ....................................................................................................................
PHỤ LỤC 3 ....................................................................................................................
V
DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Viết tắt
Giáo viên
GV
Học sinh
HS
Năng lực giải quyết vấn đề
NLGQVĐ
toàn diện. Đe đạt được mục đích đó điều quan trọng nhất là luôn đẩy mạnh ngành
giáo dục phát triển mạnh mẽ. Thông qua nghị quyết của Đảng về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế của hội nghị
lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã đưa ra 9 nhiệm vụ và giải
pháp để thực hiện những quan điểm và mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục. Trong đó, việc tiếp tục đổi mới căn bản các yếu tố và chương trình giáo dục
theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học là nhiệm vụ quan trọng.
Theo xu hướng đổi mới đó, thì việc phát triển năng lực Toán học cho HS là điều cần
thiết. Bởi lẽ Toán học là một môn học công cụ để HS học tất cả các môn học khác
như: Tiếng Việt, Khoa học, Tự nhiên và xã hội, Lịch sử,... các môn học này đều
dùng đến khái niệm toán học. Hơn nữa, kiến thức và kĩ năng môn Toán học có
nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống, chúng rất cần thiết cho người lao động.
Thậm chí, nhà vật lí nổi tiếng Paul Dirac người Anh đã nói: “Neu Chúa tồn tại, thì
người là một nhà toán học vĩ đại”. Bởi mọi thứ trong the giới đều có cấu trúc Toán
học. Toán học chính là công cụ không thể thiếu néu chúng ta muốn hiểu the giới.
Hơn nữa, năng lực Toán là một năng lực cốt lõi của HS để hình thành và phát triển
các năng lực khác như: Năng lực tư duy, NLGQVĐ, Năng lực, Năng lực mô hình
hóa, Năng lực giao tiếp Toán học, Năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện
toán học.
♦♦♦ Năng lực dạy học của GV quyết định sự phát triển năng lực toán học của HS
Trong nhà trường, GV đóng vai trò chủ đạo có nghĩa là GV không chỉ là
người truyền đạt tri thức mà còn là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, điều
chỉnh quá trình nhận thức và quá trình hình thành nhân cách của HS. Và do nhu cầu
đổi mới toàn diện về giáo dục theo xu hướng đổi mới cơ bản về giáo dục là chuyển
kiểu dạy học “lấy GV làm trung tâm” sang kiểu dạy học “lấy HS là trung tâm
Hay nói cụ thể hơn là dạy học phải hướng về người học, đặt người học vào vị trí
trung tâm của quá trình giáo dục. Nhưng điều này không có nghĩa là vai trò của
người GV được xem nhẹ. Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, vai trò chủ động,
tích cực, sáng tạo của HS sẽ được phát huy, HS được tạo điều kiện và môi trường
Trong cấp Tiểu học, giải toán có lời văn là một trong năm mạch kiến thức
chiếm vị trí hét sức quan trọng của môn Toán. Năng lực toán học được đánh giá
thông qua giải toán, thể hiện rõ mối quan hệ giữa toán học và đời sống. Trong nội
dung giải toán có lời văn thì bài toán có lời văn ở lớp 4 có ý nghĩa to lớn trong việc
phát ữiển NLGQVĐ cho HS. Toán lớp 4 là thuộc giai đoạn thứ hai của cấp Tiểu
học nên mức độ khó sẽ được tăng cấp, hơn nữa bài toán có lời văn ở lớp 4 mang
nhiều nội dung về thực tiễn cuộc sống, mỗi bài toán có lời văn thường là một tình
huống có vấn đề của thực tiễn. Điều quan trọng là thông qua việc giải bài toán có
lời văn giúp HS biết cách giải quyết các vấn đề thường gặp trong đời sống, các vấn
đề này thường được nêu dưới dạng bài toán có lời văn. Vì vậy, những bài toán có
lời văn ở lớp 4 phù hợp để phát triển NLGQVĐ cho HS.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực giải quyết
vẩn đề cho học sinh trong dạy học giải toán cỏ lời văn ở lớp 4”.
3
2. Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến việc phát triển
NLGQVĐ cho HS trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4. Từ đó đề xuất các
biện pháp phát triển năng lực NLGQVĐ cho HS.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lí luận về việc phát triển NLGQVĐ cho HS trong dạy học giải
toán có lời văn ở lớp 4
- Tìm hiểu thực trạng về việc phát triển NLGQVĐ cho HS trong dạy học giải
toán có lời văn ở lớp 4
- Đề xuất những giải pháp phát triển NLGQVĐ cho HS
- Thực nghiệm sư phạm
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương l.cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển NLGQVĐ cho HS
trong dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4.
Chương 2. Giải pháp phát triển NLGQVĐ cho HS trong dạy học giải toán có
lời văn ở lớp 4.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
5
NỘI DUNG
•
Chương 1.
C ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ T H ựC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG
Lực
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HS TRONG DẠY HỌC GIẢI TOÁN
CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4
1.1. Cơ sở lí luận của việc phát triển NLGQVĐ cho HS trong dạy học giải toán
có lời văn ở lớp 4
1.1.1. Dạy học giải toán cỗ lời văn ở lớp 4
❖ Mục tiêu dạy học toán lớp 4 nói chung và dạy học giải toán có lời văn nói
riêng
- v ề số và phép tính
+ Số tự nhiên
• Nhận biết một số đặc điểm chủ yéu của dãy số tự nhiên.
• Biết đọc, viết, so sánh, sắp xếp thứ tự các số tự nhiên.
- v ề đo lường
+ Biết mối quan hệ giữa yến, tạ, tấn với ki-lô-gam; giữa giây, phút, giờ; giữa
ngày và đêm, năm và thế kỉ ; giữa dm2 và cm2, giữa dm2 và m2, giữa km2và m2.
+ Biết chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng thông dụng trong một số trường
hợp cụ thể khi thự hành, vận dụng.
- v ề yéu tố hình học
+ Nhận biết: góc nhọn, góc tù, góc bẹt; hai đường thẳng vuông góc, hai
đường thẳng song song; hình chữ nhật, hình vuông, hình bình hành, hình thoi.
+ Biết vẽ: đường cao của hình tam giác; hai đường thẳng vuông góc; hai
đường thẳng song song; hình chữ nhật, hình vuông khi biết độ dài các cạnh.
+ Biết tính chu vi, diện tích của hình bình hành, hình thoi.
- Vê một SÔ yêu tô thông kê và tỉ lệ ban đô
+ Biết đọc và nhận định (ở mức độ đơn giản) các số liệu trên bản đồ cột.
+ Biết ứng dụng của tỉ lệ bản đồ trong thực tế.
- v ề giải toán có lời văn
+ Biết tự tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình vẽ.
+ Biết tự giải và trình bày bài giải các bài toán có đén ba bước tín, trong đó
có các bài toán: Tìm số trung bình cộng, Tìm hai số khi biết tổng và hiệu số của hai
số đó, Tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó.
❖
Nội dung dạy học giải bài toán có lời văn ở lớp 4
- Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4 bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
+ Tiếp tục củng cố kĩ năng giải các dạng bài toán đã học ở lớp 1, 2, 3; hình
thành kĩ năng giải các bài toán có lời văn liên quan đén các phép tính với các phân
cách giải phức tạp, nhiều bước tính, có ba đến bốn phép tính trong một bài toán,...)
+ Trong Toán lớp 4, nội dung dạy học giải toán có lời văn được sắp xếp họp lí,
xen kẽ nhằm hỗ trợ cho mạch kiến thức hạt nhân số học và các mạch kiến thức khác.
+ Nội dung các bài toán có lời văn trong Toán lớp 4 có nội dung phong phú, cập
nhập với thực tiễn và có hình thức thể hiện đa dạng phù hợp với HS tiểu học.
1.1.2. Đặc điểm HS lớp 4
♦♦♦ Đặc điểm tư duy
Bắt đầu từ HS lớp 4, các phẩm chất tư duy của HS chuyển dần từ tính cụ thể
sang tư duy trừu tượng khái quát. Cụ thể:
- Hoạt động tổng hợp của HS phát triển. Bắt đầu từ lớp 4, trẻ có khả năng
tính nhẩm trong đầu mà không cần que tính hay tính bằng ngón tay, khi đọc không
cần đọc to thành tiếng.
8
- Hoạt động khái quát hóa phát triển. HS lớp 4 không cần phải dựa vào các
dấu hiệu bên ngoài cụ thể, trực quan mà có thể căn cúa vào các dấu hiệu bản chất,
bên ữong, những dấu hiệu chung của hàng loạt các sự vật, hiện tượng để khái quát
thành khái niệm, quy luật.
- HS lớp 4 trong phấn đoán và suy luận các em có khả năng lập luận cho
những phán đoán của mình.
- Hoạt động tư duy của HS lớp 4 trong giai đoạn này đang phát triển nhưng phần
lớn chỉ thuộc mức độ sơ đẳng ở phần đông các HS Tiểu học.
♦♦♦ Đặc điểm ngôn ngữ
Hầu hết các HS Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Đối với những HS
cuối cấp (lớp 4, lớp 5) thì ngôn ngữ viết đã bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp,
chính tả và ngữ âm. Ngôn ngữ phát triển trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận
thức thé giới xung quanh và khám phá bản thân qua những kênh thông tin truyền
hình. Ngoài ra, ngôn ngữ phát ữiển trong giai đoạn này giúp cho hoạt động tư duy,
hút được rất nhiều các nhà nghiên cứu.
- Theo quan điểm của các nhà tâm lí học thì năng lực là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lí của các nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt
động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
- Đồng quan điếm trên, “Đảm bảo phát triển nguồn nhân lực Giáo dục Tiểu
học” [2, tr.137] cũng quan niệm “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của các
nhân, phản ánh bởi cách làm việc có hiệu quả và có trách nhiệm, phù hợp với
những yêu cầu của một hoạt động nhất định, trong những tình huổng khác nhau,
trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng, thái độ nhằm đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả
tối ưu”.
Theo các quan điểm trên ta có thể hiểu một người có năng lực là người có
được những kiến thức, kĩ năng, thái độ của một hoạt động nào đó và đạt được két
quả tốt hơn so với trình độ trung bình của những người khác khi cùng tiến hành
hoạt động đó trong điều kiện và hoàn cảnh tương đương.
Có nhiều tiêu chí để phân loại năng lực như dựa vào nguồn gốc phát sinh
người ta chia thành: ‘‘năng lực tự nhiên” và “năng lực xã hội”. Nếu dựa vào các
mức phát triển thì có thể phân loại thành: ‘‘'năng lực học tập”, “năng lực nghiên
cứu” và “năng lực sáng tạo”. Neu dựa vào mức độ chuyên biệt thì có thể phân loại
thành: “năng lực chung và năng lực riêng” [2, te. 137].
Tuy có rất nhiều cách phân loại nhưng đều có tính chất chung là có hai loại
năng lực đó là năng lực thuộc về tư chất bẩm sinh vốn có của con người và năng lực
được hình thành và phát triển quá quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện. Từ đó, có
thể thấy vai trò quan trọng của giáo dục và dạy học trong việc hình thành và phát
triển năng lực các cá nhân trong xã hội hiện đại.
❖
Năng lực toán học của HS Tiểu học
“Năng lực toán học là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện
đảm bảo thực hiện được một dạng hoạt động Toán học. Năng lực toán học được
tổ hợp các năng lực được thể hiện ở các kỹ năng (gồm thao tác tư duy và hoạt
động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của bài
toán”.
Từ việc quan niệm về NLGQVĐ trong môn Toán, vận dụng vào trong
nghiên cứu có thể nói NLGQVĐ của HS trong học giải toán có lời văn ở lớp 4 là tổ
hợp các năng lực được thể hiện ở các kỹ năng (gồm thao tác tư duy và hoạt động)
toong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán
có lời văn ở lớp 4.
11
Việc chia mức độ của NLGQVĐ phụ thuộc vào những yêu cầu khác nhau
của từng cấp học. Đối với cấp Tiểu học, HS có thể đạt được tới ba mức độ đó là:
- Mức 1: Xác định và hiểu rõ vấn đề cần được giải quyết
- Mức 2: Phát hiện và triển khai giải pháp giải quyết vấn đề
- Mức 3: Trình bày giải pháp
Dựa vào các mức độ của
❖
Mối quan hệ giữa NLGQVĐ và môn Toán:
“NLGQVĐ được coi là một trong các mục tiêu Giáo dục toán học: mục tiêu
Giáo dục môn Toán không chỉ giúp HS kiến tạo kiến thức, hình thành kĩ năng, mà
HS học cách phát hiện và giải quyết vấn đề.”[2, ư.188]
Mối quan hệ giữa NLGQVĐ và môn Toán có thể nói là mối quan hệ hỗ ượ
nhau. Trong thực tiễn, NLGQVĐ là năng lực mà môn Toán có nhiều thuận lợi để
phát triển cho HS qua việc tiếp cận khái niệm, quy tắc toán học và đặc biệt là qua
giải toán. Ngược lại, thông qua việc tự tìm tòi và tiếp thu kiến thức toán học mà HS
phát triển được NLGQVĐ.
- Phương pháp dạy học: dạy học theo hướng phát triển năng giải quyết vấn
đề đòi hỏi người dạy phải sử dụng các phương pháp dạy học để làm bộc lộ và phát
triển NLGQVĐ của HS. Yêu cầu này đòi hỏi người GV phải tiếp cận và sử dụng
được một số các phương pháp dạy học mới, tích cực, tạo điều kiện cho HS phát
triển được NLGQVĐ. Và phương pháp thích hợp nhất để sử dụng trong dạy học
toán nói chung và giái toán nói riêng nhằm phát triển NLGQVĐ cho HS đó là
PPDH PH &GQVĐ.
- Kiểm tra, đánh giá: việc đánh giá năng lực giá NLGQVĐ của HS là một
trong những nội dung đánh giá kết quả học tập toán nói chung và giải toán nói
riêng. Có thể hiểu việc đánh giá năng lực gải quyết vấn đề là việc GV đưa ra những
nhận định về giá trị các năng lực của HS đạt được trong quá học Toán cũng như giải
toán. Và đây cũng là mọt công việc không hề đơn giản, nó đòi hỏi nhiều kĩ năng và
công cụ để đánh giá.
b. Dạy học theo hướng phát hiện và giải quyết vẩn đề
❖ Những khái niệm cơ bản
- Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một quá trình dạy học, trong đó
GV tạo ra tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện và giải quyết vấn đề một
cách tự giác và tích cực, thông qua đó mà kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt
được những mục đích học tập khác.
Bản chất của PPDH PH &GQVĐ là “tình huống gợi vấn đề”
13
- Vấn đề: có rất nhiều cách diến đạt về thuật ngữ “vấn đề” nhưng chúng tôi
hiểu theo ý nghĩa dùng trong giáo dục thì đồng quan điểm sau:
“Một vấn đề (đối với người học): được biểu thị bởi một hệ thống những
mệnh đề và câu hỏi (hoặc yêu cầu của hành động) thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Người học chưa giải đáp được câu hỏi đó hoặc chưa thức hiện được hành
dựa vào kiến thức đã có của mình hay vấn đề đó phải liên quan đến kiến thức đã có
của HS. Nói một cách ngắn gọn, tình huống có vấn đề phải phù hợp với trình độ
14
hiểu biết của HS, nó không được vượt quá xa tầm hiểu biết của HS nếu không HS
sẽ thấy hoang man và không có hứng thú để suy nghĩ về vấn đề đó.
3
Ví du 2: Tìm hai số. Biết hiêu của hai số là 85 và tỉ số của hai số là -
8
Đây là tình huống gợi vấn đề vì:
+ Thứ nhất: tồn tại một vấn đề vì HS chưa biết câu trả lời và chưa có thuật
giải để giải bài toán.
+ Thứ hai: nó gợi ra nhu cầu nhận thức vì HS đã biết làm dạng toán tìm hai
số khi biết tổng và tỉ của hai số đó và cũng muốn biết thêm về dạng toán tìm hai khi
biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
+ Thứ ba: gây niềm tin vào khả năng người học vì HS đã biết thuật toán để
giải dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai só đó. Khi chuyển sang dạng
toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó HS sẽ vấp ở một hai bước nhưng
với hy vọng néu suy nghĩ tích cực sẽ gải quyết được vấn đề.
❖
Đặc điểm của PPDH PH &GQVĐ
Trong PPDH PH &GQVĐ, GV không chủ động đưa ra kiến thức hay nổ lực
giảng giải để truyền tải kiến thức đén cho HS mà người GV tạo ra tình huống học
tập chứa đựng vấn đề, điều khiển HS phát hiện và giải quyết vấn đề bằng việc tự
- Hoạt động 4: Kiểm tra và giải thích
Bước 3: GV xác nhận két quả giải quyết vấn đề và phát triển
Ví dụ 3:
Bước 1: GV đưa ra tình huống có vấn đề “Bài toán: Hiệu của hai số là 24. Tỉ số của
hai số là —. Tìm hai số đó.”
□
Bước 2: GV tổ chức cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề
- Hoạt động 1: HS tiếp cận và phát hiện vấn đề
GV giúp HS phát hiện vấn đề bằng câu hỏi sau: “Khỉ học xong dạng toán tìm
hai so khi biết tổng và ti sổ của hai so đỏ với bài toán đang xét có gì khác nhau ?”
+ HS phát hiện vấn đề: hai số cần tìm của dạng toán “tìm hai số khi biết tổng
và tỉ số của hai số đó” có mối quan hệ “tổng” và “tỉ số”. Còn bài toán đang xét thì
hai số có mối quan hệ “hiệu” và “tỉ số”.
+ HS đọc bài toán và thu thập thông tin bài toán như bài toán cho biết gì, bài
toán yêu cầu tìm gì.
+ HS phát biểu lại bài toán theo cách hiểu của mình và đặt ra mục tiêu là biết
giải dạng toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
- Hoạt động 2: Định hướng giải quyết vấn đề
GV hướng dẫn HS giải quyết vấn đề bằng các câu hỏi sau:
16
+ Dựa vào tỉ số để tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng
+ Hãy cho biết 24 tương ứng với bao nhiêu phần bằng nhau trên sơ đồ đoạn
thẳng. Từ đó, hãy tìm giá ữị của một phần
+ Hãy lần lượt tìm các số dựa vào giá trị một phần
- Hoạt động 3: HS tìm và trình bày lời giải
Bài giải
Ta có sơ đồ :
trong việc khích lệ HS vươn lên trong học tập. HS có ảnh hưởng đén phương pháp sư
phạm của GV bởi tính đa dạng trong nhân cách chứ không chỉ do sự không đồng đều
về trí tuệ của HS.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc phát triển NLGQVĐ cho HS trong dạy học giải
toán có lời văn ở lớp 4
1.2.1. Thực tiễn việc dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4
Chương trình môn Toán lớp 4 hiện nay là sự kế thừa và phát triển cao hơn
hơn của môn Toán lớp 1, lớp 2, lớp 3 và là nền tảng cho việc học toán sau này của
các cấp trên. Từ đó, có thể thấy tầm quan trọng của toán lớp 4 trong chương trình
giáo dục của Tiểu học vì vậy việc dạy học môn Toán lớp 4 đòi hỏi người GV phải
luôn cập nhập và đổi mới phương pháp dạy học để tạo môi trường học thật tốt giúp
HS luôn có hứng thú và tiếp thu kiến thức toán một cách hiệu quả. Tuy nhiên, dựa
vào kinh nghiệm học tập và quan sát, trải nghiệm thực tế, tôi thấy vấn đề vận dụng
các phương pháp dạy học hiện đại nói chung và PPDH PH &GQVĐ nói riêng vẫn
còn gặp nhiều khó khăn và chưa được thực hiện triệt để. Đặc biệt là nội dung phần
giải toán có lời văn là một mảng kiển thức lớn, xuyên suốt từ lớp 1 đén lớp 5, riêng
lớp 4 thì phần giải toán chiếm khối lượng kiến thức lớn, nhiều dạng toán khó và
mới đối với HS đòi hỏi GY phải có nhiều kĩ năng, kinh nghiệm để có thể giảng dạy
tốt phần nội dung kiến thức này. Thực tiễn việc áp dụng những phương pháp dạy
học này vẫn chưa thực sự được các GV áp dụng, đa phần các GY đều ngần ngại,
chần chừ việc áp dụng PPDH PH &GQVĐ hay nói cách khác học không muốn thay
đổi thói quen dạy học theo phương pháp truyền thống. Vì vậy mà việc dạy học theo
định hướng “phát triển NLGQVĐ cho HS Tiểu học trong dạy học giải toán có lời
vãn ở lớp 4” trở nên hoàn toàn mới, xa lạ với GV. Tuy việc đổi mới dạy học theo
hướng phát triển năng lực của HS đã được đẩy mạnh trên khắp các thông tin đại
chúng, báo chí cùng với nhiều phương pháp dạy học để phát triển năng lực cho HS
điển hình là phương pháp dạy học giải quyết vấn đề nhưng việc áp dụng lại không
hề có do GV chưa thật sự hiểu biết, nhiệt huyết với phương pháp mới. Cùng với đó
là sự áp dụng phương pháp dạy học này mất nhiều thời gian, đôi khi gặp nhiều khó