1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Nông nghiệp từ lâu đã là một lĩnh vực hoạt động sản xuất quan trọng để
đảm bảo cuộc sống của con người. Hiện nay nông nghiệp lại là lĩnh vực nhạy
cảm trong tiến trình hội nhập. Việt Nam là quốc gia có đến 70% dân số sống
ở vùng nông thôn và đa phần dựa vào nông nghiệp là chủ yếu, do vậy hội
nhập tạo ra cơ hội và cũng là thách thức cho nền nông nghiệp Việt Nam.
Nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây đã tiến bộ vượt bậc,
từ một nền nông nghiệp lạc hậu và bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, đến
nay nông nghiệp ta không những xóa được tình trạng thiếu hụt về lương thực
mà còn trở thành một quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới, đứng
hàng thứ hai trên thế giới trong xuất khẩu gạo, năm 2012 xuất khẩu gạo Việt
Nam vượt qua mặt Thái Lan về số lượng gạo xuất khẩu.
Tuy nhiên Việt Nam là một nước có nền kinh tế còn phụ thuộc vào
nông nghiệp. Dân cư tập trung đa số ở nông thôn và chiếm hơn lực lượng lao
động toàn xã hội làm việc trong ngành sản xuất nông nghiệp. Do đó, sản xuất
nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và
đặc biệt mục tiêu quan trọng hàng đầu việc giải quyết vấn đề về lương thực,
trong đó lúa là cây lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày của con người.
Trong điều kiện hiện nay, lúa gạo cung cấp cho con người 80% calo trong
khẩu phần ăn. Lúa gạo còn cung cấp một phần cho việc phát triển chăn nuôi,
phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm như: Chế biến rượu, chế biến
bánh, kẹo... Lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu góp phần tăng thu nhập quốc
dân.
Nước ta có nhiều tiềm năng về khí hậu, đất đai, lao động thích hợp cho
sản xuất lúa nước. Tuy nhiên trong mấy năm trở lại đây, đất sản xuất bị thu
hẹp do sự bùng nổ về dân số diễn ra trên toàn cầu, làm cho dân số tăng nhanh,
3
- So sánh hiệu quả tài chính giữa các mô hình sản xuất lúa;
- Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các mô
hình sản xuất lúa;
- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các mô hình sản xuất lúa tại quận
Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả tài chính, các yếu tố ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất của các mô hình sản xuất lúa tại quận Ô Môn, thành phố
Cần Thơ.
- Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân sản xuất lúa và màu trên địa
bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
b) Phạm vi nghiên cứu:
+ Giới hạn về nội dung:
- Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đi sâu phân tích và so sánh hiệu
quả tài chính, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình sản
xuất: 2 vụ lúa - 1 vụ màu, 3 vụ lúa. Các yếu tố liên quan đến tình hình sản
xuất nhằm giúp người nghiên cứu có cái nhìn toàn diện hơn để có thể đưa ra
những giải pháp phù hợp.
+ Giới hạn vùng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu sơ cấp tại 4 phường
của quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (phường Long Hưng, Thới Hưng,
Trường Lạc và Châu Văn Liêm) là những phường có diện tích có mô hình sản
xuất lúa lớn trong quận, số liệu được ghi nhận từ tháng 01/2013 - 09/2014.
+ Phạm vi về thời gian:
- Luận văn được thực hiện và hoàn thành từ tháng 09/2014 đến tháng
06/2015.
rộng sản xuất của người trồng lúa?
5
- Câu hỏi 4: Các giải pháp nào có thể nâng cao hiệu quả tài chính cho
người sản xuất lúa tại địa bàn quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ ?
5. Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu được về hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất 2 lúa - 1 màu
và chuyên canh 3 lúa tại Ô Môn, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị cho
người dân, cơ quan quản lý Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của
người nông dân.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần phụ lục thì bố cục chính của luận văn được chia như sau:
- Phần mở đầu: Giới thiệu sự cần thiết và tầm quan trọng của đề tài; mục
tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài, tình hình các
nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
- Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Trình bày kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng
cao hiệu quả tài chính của các mô hình sản xuất lúa tại quận Ô Môn, thành
phố Cần Thơ.
- Phần kết: kết luận và các kiến nghị
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
nông nghiệp, sự hoạt động của lao động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ.
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn và mang tính
khu vực.
1.1.2. Khái niệm về hộ, kinh tế nông hộ đặc điểm kinh tế hộ
1.1.2.1. Khái niệm về hộ
Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung
và có chung một ngân quỹ. Hay nói khác hơn, hộ sản xuất là hình thức liên
kết giữa các thành viên của nó thông qua hình thức sống chung, sở hữu
chung, hoạt động kinh tế chung và hưởng thụ chung các tài sản và thành quả
sản xuất của hộ gia đình.
Hộ có những đặc trưng riêng biệt, không giống như là các đơn vị kinh
tế khác, do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh doanh xã hội khá
đặc biệt.
Trong cấu trúc nội tại, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích
thực của hộ. Do đó hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử
dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi,
phân phối và sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế. Do đó, hộ có thể
cùng lúc thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được.
1.1.2.2. Khái niệm về kinh tế nông hộ
- Việt Nam hiện nay có dân số 90 triệu dân, trên 70% dân số sinh sống
ở nông thôn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc. Trong
điều kiện đó, hộ được khái niệm như sau:
"Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ
chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu
8
dùng"[24]. Với tư cách là đơn vị kinh tế, hộ được phân tích từ nhiều góc độ:
- Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, nhân lực,
hộ qua các giai đoạn lịch sử. Cũng do những đặc trưng riêng biệt này của nó
mà có thể cho rằng hộ là đơn vị kinh tế xã hội đặc biệt.
- Hộ mang tính huyết tộc. Các thành viên huyết tộc của hộ là chủ thể
đích thực của hộ và đã tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản
lý, sử dụng các yếu tố sản xuất.
- Hộ dựa trên cơ sở kinh tế chung, mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và
trách nhiệm, đều có ý thức tự giác đóng góp làm tăng quỹ thu nhập của hộ,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên.
- Đặc trưng nổi bật của các hộ ở nước ta là có quy mô canh tác rất nhỏ
bé và quy mô canh tác của hộ có xu hướng giảm dần do việc gia tăng dân số,
xu hướng lấy đất đai nông nghiệp để phát triển các ngành công nghiệp, giao
thông, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp, bản thân nông nghiệp muốn
phát triển cũng phải lấy đất để xây dựng các kết cấu hạ tầng của nông nghiệp.
- Quá trình tổ chức lao động là do hộ tổ chức, công việc đồng áng hộ
sử dụng nhân công gia đình là chủ yếu. Lao động gia đình này không được
xem là hình thái hàng hóa. Hiện nay, tình trạng thuê mướn nhân công lao
động đã xuất hiện ở mức độ khác nhau của sản xuất hàng hóa. Thị trường lao
động nông thôn cũng ra đời. Có những vùng bộ phận lao động coi làm thuê
như một phương thức kiếm sống.
- Cơ cấu lao động nông hộ bao gồm: lao động nông nghiệp, lao động
bán nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp. Cơ cấu này khác nhau giữa
các hộ, các địa bàn, các vùng tùy theo điều kiện cụ thể của chúng. Một đặc
điểm khác nữa là khả năng tích tụ tập trung vốn của đại bộ phận nông dân là
thấp, các hộ sản xuất trong điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng. Theo vào đó,
chu kỳ sản xuất nông nghiệp kéo dài nên vốn chu chuyển chậm, bởi thế tạo
10
nên sự căng thẳng về vốn, trong khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, kỹ thuật sản
động trên cánh đồng lúa, màu được biểu hiện bằng tiền (đồng).
- Số tiền tín dụng: số tiền mà người nông dân vay mượn từ những nguồn
chính thức và không chính thức.
1.1.5. Cơ sở lý luận về hiệu quả
Hiệu quả là sử dụng tối ưu về mặt kinh tế và tập hợp các nguồn lực để
đạt được mức phúc lợi về mặt vật chất cao nhất cho người tiêu dùng của xã
hội theo tập hợp giá nguồn lực và giá thị trường đầu ra nhất định.
Hiệu quả theo nghĩa phổ thông, đó là: “kết quả theo yêu cầu của việc làm
mang lại hiệu quả”[22].
1.1.6. Phân loại hiệu quả
-Hiệu quả tài chính: Hiệu quả tài chính là hiệu quả chỉ tính dựa trên góc
độ cá nhân, tất cả chi phí và lợi ích đều tính theo giá thị trường. Hiệu quả tài
chính trong nông nghiệp được tính như sau:
Hiệu quả tài chính trên 1 đơn vị diện tích = Doanh thu trên 1 đơn vị diện
tích - Tổng chi phí sản xuất trên 1 đơn vị diện tích. Trong đó:
+ Doanh thu trên 1 đơn vị diện tích = Giá bán sản phẩm x Sản lượng trên
1 đơn vị diện tích canh tác.
-Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra, nó là một phạm trù kinh tế chung nhất,
liên quan trực tiếp đến nền kinh tế hàng hóa và với tất cả các phạm trù, các
quy luật kinh tế khác. Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của
sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật
chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp gắn liền với những đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp. Trước hết là ruộng đất là tư liệu sản xuất
12
1.1.7. Thông tin nông hộ
- Nhân khẩu: chỉ số lượng thành viên sống và sinh hoạt chung trong một
gia đình.
- Độ tuổi: chính là tuổi của chủ hộ, được tính theo năm.
- Trình độ học vấn: là trình độ học vấn cao nhất mà chủ hộ và các thành
viên trong hộ đã hoàn thành các lớp học, tính theo năm.
- Kinh nghiệm sản xuất: là số năm của chủ hộ đã có kinh nghiệm trong
sản xuất lúa, màu.
1.1.8. Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay
Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của
nông nghiệp và nông thôn. Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau
chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết
thống, ngoài ra còn do huyết thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm
lý đạo đức gia đình, dòng họ. Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó
với nhau trên mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối, mà
cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế. Các thành viên trong nông hộ có cùng
mục đích và cùng lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày
càng giàu có. Trong mỗi nông hộ thường bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ
chức việc hiệp tác và phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao
động trực tiếp. Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả
năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân
công và hợp tác lao động một cách hợp lý.
Kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có
vai trò hết sức quan trọng. Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao phần lớn nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của
chính chủ nông trại và các thành viên trong gia đình. Động lực lớn nhất thúc
đẩy sản xuất ở nông trại gia đình là lợi ích kinh tế của các thành viên trong gia
14
có vốn để đầu tư cho sản xuất cũng buộc họ phải thu hẹp qui mô sản xuất. Khi
thu hẹp qui mô thì họ sẽ có vốn để đầu tư cho chất lượng nông sản.
- Điều kiện sinh học, kỹ thuật:
+ Giống: Là yếu tố trực tiếp quyết định năng suất và sản lượng của cây
lúa. Nếu giống tốt phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng, có khả năng chống
chịu sâu bệnh, có năng suất cao kết hợp việc chăm sóc hợp lý thì sẽ nâng cao
sản lượng của lúa.
+ Kỹ thuật: Nhằm nâng cao sản phẩm nông nghiệp đòi hỏi không ngừng
áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất cũng như phát triển
quy trình công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm…
+ Phân: Cung cấp dưỡng chất cần thiết cho cây trồng.
+ Thuốc BVTV: Phòng chống sâu bệnh có hiệu quả nhanh và ít tốn công,
người ta thường dùng các thuôc hóa học cho cây trồng. Chi phí để phòng trừ
bệnh cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí.
16
1.1.10. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính các mô hình sản xuất
lúa
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp.
+ Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
+ Tỉ suất lợi nhuận (LN/CP): là tỷ số được tính bằng cách lấy lợi nhuận
chia cho chi phí. Tỷ số này thể hiện phần trăm đồng vốn đầu tư của nông hộ.
+ Thu
nhập trên ngày công lao động = Thu nhập/Ngày công lao động
Tỷ số này cho biết cứ một ngày công lao động bỏ ra thì người nông dân
Các yếu tố về chi phí phát sinh bao gồm các loại chi phí sau: Chi phí đầu
tư ban đầu bao gồm: chi phí chuẩn bị đất đai và chi phí những tháng đầu khi
cây lúa chưa ra bông, cây màu chưa cho trái và tôm chưa trưởng thành: chi
phí vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng cây, thuốc trừ
cỏ, trừ nấm bệnh); chi phí lao động, chi phí nhiên liệu, khấu hao máy móc
thiết bị. Chi phí đầu tư ban đầu được chia cho số tháng thu hoạch vì thế chi
phí này cố định ở các tháng còn gọi là định phí. Ngoài ra, trong những tháng
thu hoạch lúa, màu và tôm phát sinh thêm những chi phí về phân bón, chăm
sóc, thu hoạch…và chi phí biến đổi từng tháng gọi là biến phí.
Định phí (chi phí những tháng đầu của cây và cin chưa thu hoạch):
+ Chi phí chuẩn bị đất: Bao gồm chi phí để cải tạo đất, làm tơi xốp đất,
đào mương dẫn nước, lên liếp, đắp mô, làm thủy lợi, chi phí cây giống.
+ Chi phí nhiên liệu.
+ Khấu hao máy móc thiết bị.
+ Chi phí vật tư nông nghiệp bao gồm: Chi phí phân bón, thuốc trừ biện,
thuốc dưỡng cây, thuốc trừ cỏ.
+ Chi phí lao động (trồng cây, tưới nước, bón phân, làm cỏ, bồi bùn, tỉa
cành,…) chi phí lao động là số tiền mà nông hộ bỏ ra để thuê mướn lao động.
Chi phí lao động được tính bằng cách lấy đơn giá lao động nhân với số ngày
công.
18
+ Chi phí nhiên liệu: Đơn giá nhiên liệu x số lượng.
- Lợi nhuận
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của sản xuất kinh doanh, đây
chính là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí.
Lợi nhuận = Doanh thu - chi phí
1.2. Lƣợc khảo tài liệu nghiên cứu có liên quan
La Nguyễn Thùy Dung và Mai Văn Nam (2015) đăng trên Tạp chí
Khoa học Trường Đại học Cần Thơ số 36 với nghiên cứu: “Phân tích hiệu
quả tài chính của hộ sản xuất lúa theo mô hình liên kết với doanh nghiệp ở
tỉnh An Giang”. Nghiên cứu này tập trung phân tích, so sánh các chỉ tiêu tài
chính của nông hộ tham gia mô hình liên kết và không tham gia mô hình liên
kết giữa nông hộ sản xuất lúa và doanh nghiệp ở tỉnh An Giang. Phương pháp
kiểm định tham số trung bình hai mẫu độc lập được sử dụng để kiểm tra sự
khác biệt về hiệu quả tài chính giữa nhóm nông hộ tham gia và không tham
gia mô hình liên kết với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, phương pháp thống kê
mô tả, phân tích tần số được sử dụng để đánh giá thực trạng sản xuất lúa của
nông hộ. Số liệu sơ cấp của đề tài được thu thập bằng cách phỏng vấn trực
tiếp các nông hộ tham gia canh tác lúa với phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
Số nông hộ được phỏng vấn là 338 nông hộ thuộc 4 huyện Chợ Mới, Châu
Thành, Châu Phú, Tịnh Biên, trong đó có 126 hộ tham gia liên kết với doanh
nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc nông hộ tham gia mô hình liên kết
với doanh nghiệp đem lại hiệu quả tài chính cao hơn so với nông hộ không
tham gia mô hình liên kết với doanh nghiệp, giúp giảm chi phí và tăng lợi
nhuận đồng thời còn giúp nông dân sản xuất tốt hơn và an toàn hơn. Đó là cơ
sở để nông hộ tham gia mô hình liên kết với doanh nghiệp để nâng cao hiệu
quả canh tác trong sản xuất lúa.
Phạm Lê Thông (2010), Khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học
Cần Thơ với nghiên cứu: “Hiệu quả kinh tế của nông dân trồng lúa và thương
20
hiệu lúa gạo của Đồng bằng sông Cửu Long”. Trong bài nghiên cứu này, hiệu
quả kỹ thuật và kinh tế được ước lượng từ hàm sản xuất và lợi nhuận biên
ngẫu nhiên Cobb-Douglas, dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ 477 nông
hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất trung
huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, cho thấy cơ cấu chi phí của sản xuất lúa
phần lớn tập trung vào phân bón và thu hoạch, do đó nếu nhà nước áp dụng
các chính sách kiềm chế giá phân bón thì sẽ giúp người nông dân cải thiện
cuộc sống. Ngoài ra, nếu có cơ giới hóa khâu thu hoạch cũng làm giảm đáng
kể chi phí sản xuất. So sánh hiệu quả kinh tế của hai mô hình cho thấy mô
hình 2 vụ lúa mặc dù cho tỷ suất lợi nhuận (1,87 đồng lợi nhuận/đồng vốn)
thấp hơn mô hình Lúa-Tôm (2,29 đồng lợi nhuận/đồng vốn), nhưng chi phí
sản xuất thấp hơn, và cần ít lao động gia đình (90 ngày) hơn, do đó phù hợp
cho các hộ nông dân ít vốn và ít nhân lực hoặc các hộ có điều kiện làm các
nghề phi nông nghiệp. Nếu có đủ vốn đầu tư thì áp dụng mô hình Lúa-Tôm sẽ
mang lại lợi nhuận cao hơn mô hình 2 vụ lúa. Hiệu quả sử dụng đồng vốn của
mô hình này (BCR=2,29) cao gấp 1,5 lần so với mô hình 2 vụ lúa. Đây là mô
hình sản xuất sử dụng nhiều lao động nên phù hợp cho các gia đình đông con
và có thời gian nhàn rỗi trong mùa khô. Một nghiên cứu về mô hình canh tác
Lúa-Tôm của Thành & ctv (2011) thực hiện, kết quả nghiên cứu cho thấy
rằng hệ thống canh tác Tôm-Lúa đã đạt được khoảng 182 kg tôm/ha/năm và
khoảng 850 kg lúa/ha/năm, trong đó, chi phí nuôi tôm chí 75% tổng chi phí
toàn hệ thống nhưng lợi nhuận chiếm khoảng 97% tổng lợi nhuận của toàn hệ
thống. Một kết quả sản xuất ở tỉnh Cà Mau cho thấy, nuôi tôm không luân
canh với lúa mỗi năm đạt 250-400 kg tôm; có luân canh với lúa, đạt 300-500
kg tôm với tiền lời 50 triệu đồng; lại thu thêm được khoảng 3,5 tấn lúa với
đầu tư thấp. Giống lúa dùng trong sản xuất thường là một bụi đỏ, trắng tròn,
22
tép hành, trái mây... và các giống mới ngắn ngày như OM1490, AS996,
OM576, OM2717...(Nguyễn Văn Luật, 2012).
Theo Brennan & ctv (2002), mô hình Lúa -Tôm đã hạn chế được những
tác động tiêu cực của việc nuôi tôm thâm canh. Do đó, mô hình canh tác
tính hỗ trợ lẫn nhau và là mô hình canh tác phù hợp trong điều kiện biến đổi
khí hậu, nước biển dâng và mặn xâm nhập sâu hiện nay. Sau khi nuôi tôm đất
trở nên màu mỡ hơn (giảm được phèn), cây lúa phát triển mạnh, giảm được
chi phí phân bón cũng như thuốc bảo vệ thực vật. Ngược lại, đất được canh
tác qua một vụ lúa thì khi thả nuôi tôm mau lớn, ít gặp rủi ro về dịch bệnh hơn
nhiều so với ao thả nuôi nối vụ. (Đỗ Thị Huyền Trang, 2011).
Nhiều nghiên cứu cho thấy nuôi tôm kết hợp với trồng lúa có thu nhập
cao hơn so với độc canh cây lúa hay chỉ nuôi tôm trong cùng điều kiện canh
tác (Trần Thanh Bé và Lê Cảnh Dũng, 1997; Thanh, 2002). Ngoài ra, theo
nghiên cứa của Thanh (2002) cho thấy năng suất lúa trong mô hình Lúa-Tôm
đạt 4,3 tấn/ha cao hơn so với độc canh cây lúa chỉ 3,9 tấn/ha; năng suất tôm
trong mô hình kết hợp cũng cao hơn so với chuyên tôm (346 kg/ha so với 274
kg/ha). Kết quả lợi nhuận từ mô hình Lúa-Tôm (10,5 triệu đồng/ha) cao hơn
so với các mô hình chỉ chuyên lúa (4 triệu đồng/ha) hoặc tôm (8 triệu
đồng/ha). Ngoài lợi ích về kinh tế, mô hình lúa tôm kết hợp còn có lợi thế về
môi trường và xã hội. Nông dân trồng lúa độc canh có khuynh hướng sử dụng
thuốc BVTV và phân bón nhiều hơn; chẳng hạn, trong vùng sản xuất lúa độc
canh có từ 40-60% nông dân sử dụng thuốc trừ sâu rầy trong khi đó con số
này chỉ 2-5% ở vùng Lúa-Tôm kết hợp. Theo kết quả nghiên cứu của Trần
Thanh Bé và Lê Cảnh Dũng (1997), mô hình canh tác Lúa-Tôm kết hợp sử
dụng nhiều lao động hơn các mô hình độc canh nhờ đó cũng góp phần giải
quyết công ăn việc làm vùng nông thôn ven biển khu vực ĐBSCL. Đánh giá
24
chi tiết về tính bền vững của hệ thống canh tác Lúa-Tôm, theo Hoàng (2005)
thực hiện so sánh tính bền vững của ba mô hình canh tác (Lúa-Tôm, lúa 2 vụ
và nuôi tôm quảng canh) phổ biến tại vùng đất phèn Chủ Chí, Bạc Liêu.
Thông qua việc đánh giá bốn tiêu chí: hiệu quả kinh tế, sinh khối, đa dạng
thời tăng thu nhập cho nông hộ.
1.3. Tổng quan về tình hình sản xuất lúa trên thế giới và tại Việt nam
1.3.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu Á.
Ở Châu Á lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của
dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ.
Theo thống kê của Tổ chức lương nông liên hiệp quốc (FAO, 2011)
cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng rõ rệt từ năm 1961 đến 1980.
Trong vòng 19 năm đó, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53
triệu ha/năm. Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào
những năm 1999 (156,8 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000
ha/năm. Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và
có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ỏ mức 152,9 triệu ha. Từ năm 2005
đến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục đạt 157,73 triệu ha cao nhất kể từ năm
1995.
Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất không ngừng được cải thiện,
đặc biệt từ sau cuộc Cách mạng Xanh của thế giới vào những năm 1965-1970,
với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày mà tiêu biểu là giống lúa
IR5, IR8. Các giống lúa này có yêu cầu kỹ thuật cao hơn, tạo điều kiện cho
các nước phát triển tăng nhanh sản lượng lúa bằng con đường tăng năng suất
nhờ có điều kiện phát triển hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh và đầu tư phân bón,