ĐẠI HỌC THÁIs NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THU HÀ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ VÀ BIỆN
PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI BA HUYỆN THUỘC
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Thái Nguyên- 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THU HÀ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH GIUN ĐŨA Ở BÊ, NGHÉ VÀ BIỆN
PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI BA HUYỆN THUỘC
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Thú y
Mã số ngành: 60.64.01.01
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận
tình của:
Thầy cô giáo hƣớng dẫn khoa học: 1. TS. Hoàng Văn Dũng
2. TS. Nguyễn Thị Ngân
Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa sau đại
học, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Các thầy, cô giáo đã tận tình giúp đỡ, tạo điều
kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của chƣơng trình học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trạm Thú y, nhân dân địa phƣơng của các
huyện Phú Lƣơng, Phú Bình, Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên) đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Đƣợc sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, tôi đã vƣợt qua mọi
khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể
và cá nhân đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chƣơng trình học tập.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ................................................................. 1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa bê,
nghé..................................................................................................................27
2.4.3. Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa cho bê, nghé .. 28
2.5. PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU ......................................................... 29
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................... 30
3.1. NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA BÊ,
NGHÉ Ở 3 HUYỆN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN. .................................. 30
3.1.1. Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé ..................................... 30
3.1.2. Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và sự tồn tại của
trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh................................................................41
3.2. NGHIÊN CỨU BỆNH LÝ LÂM SÀNG CỦA BỆNH GIUN ĐŨA BÊ,
NGHÉ..............................................................................................................49
3.2.1. Những biểu hiện lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa ở một số huyện
thành của tỉnh Thái Nguyên ............................................................................. 49
3.2.2. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá bê, nghé do giun đũa gây ra.............51
3.2.3. Sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và bê, nghé bị bệnh
giun đũa............................................................................................................52
3.2.4. So sánh công thức bạch cầu của bê, nghé bị bệnh giun đũa và bê, nghé
khỏe mạnh........................................................................................................54
3.3. NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH GIUN
ĐŨA CHO BÊ, NGHÉ....................................................................................57
3.3.1. Phƣơng pháp ủ phân nhiệt sinh học để diệt trứng giun đũa bê,
nghé..................................................................................................................57
3.3.2. Phƣơng pháp điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé.................................58
Bảng 3.10. Sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và bê, nghé bị
bệnh giun đũa ....................................................................................52
Bảng 3.11. Sự thay đổi công thức bạch cầu của bê, nghé bị bệnh giun đũa và
bê, nghé khỏe mạnh ..........................................................................55
Bảng 3.12. Kết quả theo dõi ủ phân và tác dụng diệt trứng giun đũa ..............57
Bảng 3.13. Hiệu lực thuốc điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé ......................59
Bảng 3.14. Một số chỉ tiêu sinh lý của bê, nghé trƣớc và sau khi dùng thuốc 60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé ở các huyện ........................ 32
Hình 3.2. Biểu đồ cƣờng độ nhiễm giun đũa bê, nghé ở các huyện ................ 32
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa ở các huyện ........ 34
Hình 3.4. Biểu đồ cƣờng độ nhiễm giun đũa bê, nghé theo mùa ..................... 35
Hình 3.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo lứa tuổi ....................... 38
Hình 3.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê và nghé ...................................... 40
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở nền chuồng
và khu vực xung quanh chuồng ........................................................ 42
Hình 3.8. Biểu đồ tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở khu vực bãi
chăn thả ............................................................................................................ 44
Hình 3.9. Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số máu của bê, nghé khỏe và
bê, nghé bị bệnh giun đũa ................................................................. 53
Hình 3.10. Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của bê, nghé khỏe
và bê, nghé bị bệnh giun đũa ............................................................ 55
Thể trọng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi trâu, bò ở nƣớc ta trƣớc đây chủ yếu để cung cấp sức kéo cho
nông nghiệp và lâm nghiệp. Những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nƣớc ta
phát triển khá mạnh, theo hƣớng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sản xuất sản phẩm
hàng hóa tập trung. Chăn nuôi góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao thu nhập của ngƣời nông dân. Ngành chăn nuôi trâu bò cung cấp cho con
ngƣời hai loại thực phẩm có giá trị cao và hoàn chỉnh về dinh dƣỡng là thịt và
sữa. Thịt trâu, bò đƣợc xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dƣỡng cao, hàng năm
thế giới tiêu thụ khoảng 40 - 50 triệu tấn thịt, giá 1kg thịt dao động từ 6- 7
USD/kg. Sữa bò đƣợc xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì đây là loại thực phẩm
hoàn chỉnh về dinh dƣỡng và giúp tiêu hóa tốt. Trâu bò có khả năng chuyển hóa
thức ăn rẻ tiền nhƣ cây cỏ, rơm rạ thành sản phẩm có chất lƣợng cao là thịt, sữa.
Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé đã gây ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu
quả kinh tế trong công tác phát triển chăn nuôi trâu bò, trong đó phải kể đến
bệnh giun đũa bê, nghé.
Bệnh giun đũa bê, nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không
gây thành ổ dịch lớn nhƣ các bệnh do vi khuẩn và virus, nhƣng nó thƣờng kéo
dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng và
phát triển của bê, nghé.
Bệnh giun đũa là bệnh khá phổ biến ở bê, nghé của nƣớc ta. Bệnh thƣờng
kinh tế đáng kể. Mặt khác, điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, tổng đàn gia
súc, phƣơng thức chăn thả, điều kiện chăn nuôi ở nƣớc ta nói chung và các
tỉnh miền núi nói riêng có nhiều thay đổi. Điều đó có thể ảnh hƣởng và làm
thay đổi đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê, nghé.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở Thái
Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ
của bệnh giun đũa ở bê, nghé và biện pháp phòng trị tại ba huyện của
tỉnh Thái Nguyên”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
trong điều kiện chăn nuôi hiện nay.
- Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý lâm sàng của bệnh giun đũa bê,
nghé và xây dựng đƣợc biện pháp phòng chống bệnh giun đũa bê, nghé hiệu
quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi trâu bò ở Thái Nguyên.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ,
bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng chống bệnh giun đũa bê, nghé; đồng
thời có thêm một số đóng góp mới cho khoa học.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo ngƣời chăn nuôi áp
dụng biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa, nhằm hạn chế tỷ lệ và cƣờng độ
nhiễm giun đũa ở bê, nghé; hạn chế thiệt hại do giun đũa gây ra, góp phần
tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau
phần đầu. Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm,
đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trƣớc và sau hậu môn ở phía bụng có 20 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm. Giun cái dài 19 – 23 cm,
chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trƣớc thân, đuôi hình nón dài 0,37
- 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ
lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070- 0,075 mm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
5
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [22], giun đũa Neoascaris vitulorum
(Goeze, 1782) ký sinh ở bê nghé có kích thƣớc: Giun đực ở nghé dài 13 -15
cm, đƣờng kính 0,3 cm; ở bê dài 14 -16 cm. Giun cái ở nghé dài 19-23 cm,
đƣờng kính 0,5 cm, trứng 70-75 x 80-90 µm; giun cái ở bê dài 20-26 cm,
trứng 75-85 x 90-100 µm. Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trƣớc thân.
Phan Lục (2005) [26] cho biết, giun đũa cỏ kích thƣớc to, vàng nhạt,
dài 13-22 cm, trên đầu cò 3 môi. Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ
phình to ra gọi là dạ dầy giả. Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều
gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau. Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp
ngoài cùng lỗ chỗ nhƣ tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75mm.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [23] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: giun
đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm,
thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19
mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trƣớc hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành
2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép. Giun cái dài 151 –
200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42
mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trƣớc cơ thể, cách
đều bị nhiễm giun qua nhau thai. Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2
con đƣờng: nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Nguyễn Hùng Nguyệt và
cs 2008 [28]).
Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris
vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân.
Phạm Sỹ Lăng (2005) [19] cũng cho biết, bệnh giun đũa bê nghé lây
nhiễm qua 2 con đƣờng:
- Qua đƣờng tiêu hóa do bê, nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm.
- Ấu trùng từ máu trâu, bò mang thai xâm nhập vào bào thai.
Vichitr Sukhapesna (1982) [66] đã nghiên cứu 10 trâu, bò mẹ nhiễm
Strongyloides papillosus và Neoascaris vitulorum cùng với bê nghé kể từ
khi bê nghé đƣợc sinh ra. Tác giả cho rằng trâu, bò mẹ là nơi chứa mầm
bệnh chính làm cho bê nghé con bị nhiễm S. papillosus và N. vitulorum. Bê
nghé đã bị nhiễm S. papillosus qua bú sữa từ trâu, bò mẹ và nhiễm N.
vitulorum qua nhau thai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
7
Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun
trƣởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai.
Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian.
Giun trƣởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân
ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng.
Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh. Sau đó trứng này lại vào cơ
thể con vật theo thức ăn, nƣớc uống. Khi mới theo phân ra ngoài trứng
không phân chia. Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian
Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dƣới tác dụng
của dịch vị và ruột non, ấu trùng nở ra và vào từ ruột non theo mạch máu
vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim và từ đó vào đại tuần hoàn. Phần
lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén
và có thể sống từ 5 đến 6 tháng hoặc lâu hơn. Trƣờng hợp trâu bò cái nhiễm
phải trứng giun trong giai đoạn có chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn
của nhau thai đến bào thai, hoặc có thể trâu, bò cái nhiễm trong thời gian
không chửa, ấu trùng đóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa, ấu trùng
thoát ra khỏi kén theo mạch máu đến nhau thai và vào bào thai.
Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu, bò mẹ
nhƣ: cơ, thận, não, gan, phổi. Ấu trùng có thể sống ở đó 6 tháng. Ở con vật
không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết. Ở con vật chửa trong vòng
6 tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai. Ở bào thai ấu trùng sống
trong gan. Nhƣng kết quả nghiên cứu đều cho thấy: chỉ sau khi bê nghé đƣợc
đẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn thành một đợt di hành qua
phổi, khí quản, ruột giống nhƣ sự di hành của giun đũa lợn, xuống ruột, giun
lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trƣởng thành đẻ trứng. Trong
điều kiện tự nhiên, ở bê nghé từ 17 ngày tuổi trở lên đã cỏ thể tìm thấy trứng
giun đũa trong phân. Đối với một số giun đũa khác nhƣ Ascaris của lợn,
ngƣời, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật bắt đầu cảm nhiễm trứng
giun đũa cho đến khi thành giun trƣởng thành có khả năng đẻ trứng phải tối
thiểu trên một tháng. Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé làm ngƣời ta nghĩ
đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
10
Theo Roberts J. A. (1990) [58], tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng đầu
sau khi sinh ở vùng Đông Nam Á tới 30% do giun Neoascaris vitulorum và
S. papillosus.
Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê nghé là một bệnh rất phổ biến. Nghé có
triệu chứng đặc trƣng là phân có màu trắng, nên nhân dân thƣờng gọi là bệnh
"Nghé ỉa cứt trắng". Năm 1923, Phạm Văn Long đã thông báo về một ca
bệnh trên nghé. Nhƣng đến đầu năm 50, bệnh này mới thực sự đƣợc chú ý vì
nó gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi.
Đỗ Dƣơng Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [31] cho biết, do ảnh
hƣờng của khí hậu thời tiết nên mầm bệnh lƣu truyền từ mùa này sang mùa
khác. Trứng giun đũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa đông này qua mùa
đông năm sau, gặp đợt nghé đẻ ra chúng sẽ nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo
thành vùng "nghé ỉa cứt trắng".
Do tập tính sinh sản của trâu bò miền núi phía bắc nƣớc ta là đẻ vào
mùa đông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nƣớc nên bệnh giun đũa bê nghé gây tác
hại nhiều đối với nghé sơ sinh.
Theo Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [7] thì bệnh giun đũa bê là bệnh phổ
biến ở nƣớc ta, tuổi bê dễ mắc bệnh là 20 - 35 ngày sau khi đẻ, chƣa thấy bò
trƣởng thành mắc bệnh. Ở nghé nếu mắc phải giun đũa thì mẫn cảm hơn là ở
bê và có thề bị chết do tiêu chảy.
Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [30] cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ
biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ. Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới.
Ở nƣớc ta, bệnh thƣờng phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc đồng
bằng, trung du, miền núi. Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thƣờng thả
rông đi theo mẹ đi ăn.
Tô Du (2005) [6] cho biết, bệnh giun đua ở bê, nghé hay mắc từ 15 –
gây tổn thƣơng niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong
đƣờng tiêu hoá (E.coli, Salmonela, Proteus...) xâm nhập gây rối loạn quá
trình phân tiết, viêm ruột và tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính.
Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại tử
ở gan. Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm có mủ, viêm do tổn thƣơng ở phổi
cũng đƣợc phát hiện. Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát
có thể chết đến 80%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự
xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thƣờng, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê
nghé có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút. Nếu không phát
hiện sớm và điều trị kịp thời bê, nghé chết rất nhanh.
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [33], ấu trùng sau khi xâm nhập vào
cơ thể bê nghé, ấu trùng di hành gây tổn thƣơng nhiều cơ quan. Chúng đem
theo nhiều vi khuẩn, virus gây các bệnh truyền nhiễm kế phát. Giun chiếm
đoạt nhiều chất dinh dƣỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm bê nghé gầy yếu,
ỉa chảy, ỉa phân trắng. Do giun có kích thƣớc lớn, khi ký sinh với số lƣợng
lớn thƣờng gây tắc ruột, thủng ruột, tắc ống mật.
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [28] cho biết giun đũa ký sinh trong
ruột non bê nghé sẽ gây ra các tác động:
- Tác động cơ giới: Ấu trùng di hành làm tổn thƣơng gan, phổi. Giun
trƣởng thành dùng các lá môi bám vào niêm mạc ruột và gây tổn thƣơng
niêm mạc ruột, viêm cata, ảnh hƣởng đến tiêu hóa, sữa không tiêu hóa bị vón
lại. Sữa này bị vi khuẩn lên men phân hủy, sinh ra nhiều sản phẩm của quá
trình phân hủy protit. Vì vậy, khi phân ra ngoài có màu trắng sữa, lỏng và có
(2002) [14] cho biết, bê nghé mắc bệnh thƣờng lù đù, chậm chạp, đầu cúi,
lƣng cong, bụng to, lông xù lên, khoeo và đuôi dính phân bẩn, phân có mùi
tanh khắm, màu trắng ngà.
Chu Thị Thơm và cs (2006) [32] cho biết về lâm sàng của bệnh giun
đũa bê nghé: bệnh xảy ra phổ biến ở bê nghé từ 11 – 30 ngày tuổi. Bê nghé ủ
rũ, lù xù, chậm chạp đầu cúi, lƣng cong, đuôi cụp thƣờng chết vào ngày thứ 7
- 16. Lúc đầu còn theo mẹ, khi bệnh nặng bỏ bú, không theo mẹ nằm một
chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trƣớc bụng. Có
khi nghe rõ tiếng sôi bụng. Bê, nghé gầy sút nhanh chóng, da khô, lông dựng,
mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mủi khỏ, hơi thờ thối.
Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân
dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu môn. Có thể xem đây là một triệu
chứng điển hình giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh giun đũa bê nghé.
Aumont và cs (1991) cho biết, giun đũa Neoascaris vitulorum là ký
sinh trùng chính của bê trong 2 tháng tuổi và làm giảm khối lƣợng từ sơ sinh
đến giai đoạn cai sữa khoảng l0,5 kg.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
Theo Srivastava A. K., Sharma D. N. (1981), ở Muthura - Ấn Độ, 16
trong 90 nghé 1 tháng tuổi đã có 500 - 700 trứng giun đũa trong 1 gam phân,
có những triệu chứng biếng ăn, gầy còm, xù lông, táo bón, ỉa chảy, phân hôi
thối, lƣng cong, đau bụng và dáng đi cứng nhắc.
Mổ khám thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun đũa ký sinh, có thể
tạo thành búi làm tắc ruột. Sữa bị vón cục, màu trắng, có mùi khó chịu, gạt
lớp sữa, chất chứa và giun đũa ra thấy niêm mạc có nhiều vết loét. Có trƣờng
hợp bị thủng ruột, chất chứa lọt ra xoang bụng gây viêm phúc mạc. Ngoài
trứng giun đũa Neoascaris vitulorum là căn cứ quyết định kết quả chẩn đoán
bệnh. Các phƣơng pháp thƣờng dùng là phƣơng pháp Fullerborn, Darling, có
thể dùng phƣơng pháp đếm trứng giun trong 1 gam phân bằng buồng đếm
Mc. Master để xác định mức độ nhiễm giun đũa nặng hay nhẹ.
*Đối với bê, nghé chết:
Mổ khám, quan sát những biến đổi bệnh tích trong đƣờng tiêu hoá của
bê, nghé, tìm giun đũa trƣởng thành ở ruột non.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [11], áp dụng phƣơng pháp
mổ khám toàn diện của Skriabin K. I. (1982). Phƣơng pháp mổ khám có thể
phát hiện tất cả các loài giun sán ký sinh trong cơ thể bê nghé. Phƣơng pháp
này đƣợc đánh giá là phƣơng pháp chẩn đoán bệnh chính xác nhất, không
những xác định đƣợc tỷ lệ nhiễm, cƣờng độ nhiễm, mà còn quan sát đƣợc
những tổn thƣơng ở đƣờng tiêu hoá do giun sán gây ra.
1.1.5. Biện pháp phòng trị bệnh.
Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [30] đã đƣa ra phƣơng pháp phòng
bệnh giun đũa cho bê, nghé nhƣ sau:
- Để chủ động phòng bệnh, sau khi đẻ 7 - 10 ngày, cần cho bê nghé
uống một trong số các thuốc tẩy giun nhƣ: Piperazin, Hexachloretan,
Mebenvet... uống một lần trong một buổi sáng. Khi uống bắt bê, nghé nhịn đói.
- Cho trâu, bò mẹ ăn uống tốt để có đủ sữa cho con bú, kết hợp vệ sinh
chuồng trại, môi trƣờng, cho uống nƣớc sạch. Giữ chuồng nuôi ấm và khô
ráo. Tập trung phân ủ để diệt trứng giun.
Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1997) [15], Piperazin,
Mebendazol, Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy
giun đũa cho bê nghé.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN