Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
MỤC LỤC
08. TCVN 5992 : 1995 (ISO 5667-2 : 1991): Chất lượng nước, lấy mẫu, hướng dẫn kĩ
thuật mẫu. 74
09. TCVN 5993 : 1995 (ISO 5667 - 3 : 1985): Chất lượng nước, lấy mẫu, hướng dẫn
bảo quản và xử lí mẫu. 74
CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU
I.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ô nhiễm môi trường nước và tác động của các yếu tố ô
nhiễm lên sức khoẻ cộng đồng đang diễn biến phức tạp khiến rủi ro môi trường ngày càng
tăng cao. Ngày nay, rủi ro môi trường được coi là một trong những loại rủi ro đặc biệt
quan trọng và nghiêm trọng đối với các nước đang phát triển, các nước đang đẩy mạnh
hiện đại hoá công nghiệp hoá và cả những nước công nghiệp phát triển, có thu nhập cao.
Một số quốc gia quan tâm đến rủi ro về sức khoẻ như bệnh ung thư, suy dinh dưỡng, đột
biến, béo phì, một số khác thì quan tâm đến việc thiếu các điều kiện sống cơ bản như nhà
ở, nước sạch, điều kiện vệ sinh an toàn… Nhưng một vấn đề chung hiện đang dành được
mối quan tâm hàng đầu ở nhiều nước lớn là vấn nạn ô nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là ô
nhiễm arsen trong nước ngầm. Việc arsen tồn tại trong nguồn nước ăn uống và sinh hoạt
của người dân với nồng độ quá mức cho phép đã tác động đến sức khoẻ của hàng triệu
người trên thế giới.
Tại Việt Nam, ô nhiễm arsen đã được phát hiện tại nhiều khu vực như đồng bằng sông
Hồng: Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây, khu vực đồng bằng sông Cửu Long: An Giang, Đồng
Tháp… Những hậu quả của việc sử dụng nước ngầm có nhiễm arsen vào mục đích sinh
hoạt ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân là rất nghiêm trọng, việc đưa ra những giải
pháp đối với vấn đề ô nhiễm này với nước ta cũng không còn mới lạ. Tuy nhiên, chúng ta
Trên cơ sở đó, đề tài lựa chọn vấn đề “Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm và
đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng tại hai huyện Đơn Dương và Đức Trọng thuộc tỉnh
Lâm Đồng” để thực hiện nghiên cứu nhằm xác định nồng độ arsen ở một số huyện thuộc
Lâm đồng và đánh giá ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, từ đó đưa ra những khuyến cáo
và biện pháp phòng tránh giảm thiểu những tác động có hại cho người dân trong hai huyện
nói riêng và trong tỉnh Lâm Đồng nói chung.
I.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: arsen trong nước ngầm và dân cư sử dụng nguồn nước ngầm
này vào mục đích sinh hoạt tại hai huyện Đức Trọng và Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng
- Phạm vi nghiên cứu: hai huyện Đức Trọng và huyện Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm
Đồng
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 2/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
I.3. Mục tiêu của đề tài
- Quan trắc nồng độ arsen trong môi trường nước ngầm tại hai huyện Đơn Dương và
Đức Trọng thuộc tỉnh Lâm Đồng.
- Tính toán liều lượng tiếp nhận vào cơ thể đối với cộng đồng dân cư sử dụng nguồn
nước ngầm bị ô nhiễm arsen vào mục đích sinh hoạt.
- Đánh giá rủi ro đến sức khỏe khi con người phơi nhiễm với arsen trong nước ngầm.
- Đề tài tiến hành đánh giá hàm lượng arsen trên địa bàn khảo sát, từ đó thu thập được
các số liệu về những vị trí ô nhiễm arsen, xây dựng bản đồ nồng độ arsen trên địa bàn hai
huyện.
- Từ những kết quả khảo sát, đề tài xác định được những vị trí có nồng độ arsen cao và
đưa ra cảnh báo cho người dân tại những khu vực này có những biện pháp phòng tránh
giảm thiểu tác hại của ô nhiễm arsen trong nước ngầm.
- Đề tài tiến hành đánh giá rủi ro đến sức khỏe người dân, từ đó thể hiện được nguy cơ
mắc các loại bệnh của người dân vùng nghiên cứu, góp phần xây dựng hệ thống số liệu
giúp các nhà quản lí môi trường xây dựng chương trình quản lí giảm thiểu rủi ro tới sức
khỏe người dân.
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 4/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
II.1. Tổng quan về arsen
II.1.1. Một số tính chất của arsen (As)
As chiếm 1.10-4 % tổng số nguyên tử trong vỏ trái đất, chúng tồn tại chủ yếu ở
dạng khoáng vật sunfua: Sunfide Orpiment vàng – As2S3 và Realgar đỏ - As4S4;…
Trong bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá học, Arsenic nằm ở phân
nhóm Va với một số các đặc trưng:
Bảng II.1. Tính chất hóa học của nguyên tử arsen
466
Eion hòa III (kcal/ntg)
653
Độ âm điện
2,0
Khối lượng riêng (g/cm3)
5,727
TOnc(OC)
817
TOs (OC)
614
As tồn tại ở hai dạng kim loại và không kim loại:
Ở dạng không kim loại, As là chất rắn màu vàng (còn gọi là As vàng) được tạo
nên khi làm ngưng tụ hơi, có mạng lưới lập phương (giống Photpho trắng), kiến
trúc mạng lưới bao gồm các phân tử As4 liên kết với nhau bằng lực Vanderwaals.
Phân tử As4 có cấu tạo hình tứ diện đều với các nguyên tử As nằm ở đỉnh. Do có
SVTH: Nguyễn Thị Thu
hoặc dùng để chữa các bệnh ngoài da …
•
Trong nông nghiệp: As có trong thành phần của một số loại thuốc bảo vệ
thực vật. Khoảng 70% thuốc bảo vệ thực vật trong thành phần có chứa As nằm ở
các dạng :
(1) Monosodium methane arsenate (MSMA) – HAsO3CH3Na;
(2) Disodium methane arsenate (DSMA) – Na2AsO3CH3;
(3) Dimethylarsinic acid (cacodylic acid) – (CH3)2 AsO2H;
(4) Arsenic acid – H3AsO4.
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 6/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
•
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
Trong công nghiệp: As và hợp chất của As cũng được sử dụng rộng rãi
trong công nghiệp chẳng hạn như: bảo quản gỗ, sản xuất gương kính, hợp kim và
các thiết bị điện tử, làm chất xúc tác hoặc chất phụ gia…
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
Hình II.1. Sự phụ thuộc của dạng tồn tại hợp chất arsen vào pH
Arsenious acid xuất hiện trong điều kiện pH thấp và có sự khử nhẹ tuy nhiên khi
pH gia tăng nó sẽ được thay thế bởi H2AsO3 – và khi pH vượt quá 12 sẽ làm xuất
hiện HAsO32– . Với môi trường pH thấp và có mặt sunfua có thể tạo thành HAsS 2.
Các hợp chất Asine, dẫn xuất asine và arsenic xuất hiện ở điều kiện khử cao. Bởi
vì nó tạo thành dạng anion trong dung dịch nên As không kết hợp với các anion đơn
giản như Cl-; SO43- như các cation kim loại. Đúng hơn là các hợp chất anion As cư
xử như các gốc tự do trong nước. As (III) phản ứng với nhóm sulphur và sulphydryl
như cystine, organic dithiols, proteins, enzymes nhưng không phản ứng với amine.
Tuy nhiên As(V) lại phản ứng với nhóm nitrogen khử như amine nhưng lại
không phản ứng với nhóm sulphydryl.
Hàm lượng As trong nước ngầm phụ thuộc rất nhiều vào tính chất và trạng thái
môi trường địa hóa. Dạng As tồn tại chủ yếu trong nước ngầm là H 3AsO4-1 (trong
môi trường pH acid đến gần trung tính), HAsO4-2 (trong môi trường kiềm).
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 8/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
bởi các nhóm methyl. Sự methyl hoá được xem như là một cơ chế giải độc đối với
các vi sinh vật và đóng vai trò quan trọng trong sự chuyển hoá As từ trầm tích vào
nước và không khí.
McBride và Wolfe cho rằng arsenat có thể bị chuyển hoá thành dimethylarsine
bởi Methanobacterium dưới điều kiện hiếu khí. Methylarsonic được tạo thành từ sự
methyl hoá arsenite có thể chuyển hoá qua các sản phẩm trung gian và cuối cùng bị
khử thành dimethylarsine.
Trong điều kiện acid loài nấm Cadida humicola có thể chuyển hoá Arsenate
thành Trimethylarsine. Một phần ít hơn của Trimethylarsine cũng được tạo thành
bởi loài nấm này từ Arsenite, methylarsonate và dimethylarsinate. Những loài nấm
có khả năng tạo ra sản phẩm trimethylarsine từ các hoá chất bảo vệ thực vật
monomethylarsonate và dimethylarsinate bao gồm: Candida humicola, Gliocaninum
roseum và một giống của Penicillium.
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 10/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
đối với sức khỏe con người trên thế giới. Theo các nghiên cứu những người sống
trên khu vực có hàm lượng As trong nước giếng khoan cao hơn 0,05 mg/l cho thấy
tới 20% dân cư bị xạm da, dầy biểu bì và có hiện tượng ung thư da. Hiện chưa có
phương pháp hữu hiệu chữa bệnh nhiễm độc As.
Thông thường Arsen đi vào cơ thể con người trong một ngày đêm thông qua
chuỗi thức ăn khoảng 1mg và được hấp thụ vào cơ thể qua đường dạ dày nhưng
cũng dễ bị thải ra. Hàm lượng As trong cơ thể người khoảng 0.08-0.2 ppm, tổng
lượng As có trong người bình thường khoảng 1,4 mg. As tập trung trong gan, thận,
hồng cầu, homoglobin và đặc biệt tập trung trong não, xương, da, phổi, tóc. Hiện
nay người ta có thể dựa vào hàm lượng As trong cơ thể con người để tìm hiểu hoàn
cảnh và môi trường sống, như hàm lượng As trong tóc nhóm dân cư khu vực nông
thôn trung bình là 0,4-1,7 ppm, khu vực thành phố công nghiệp 0,4-2,1 ppm, còn
khu vực ô nhiễm nặng 0,6-4,9 ppm.
Sự xâm nhập, phân bố và lưu trữ của Arsenic cũng như các hợp chất của nó trong
cơ thể người có thể hình dung theo sơ đồ sau:
Hình II.4. Sự xâm nhập của arsen và những hợp chất của nó trong cơ thể
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 12/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
Sự nhiễm độc As có thể phân loại thành các dạng nhiễm độc cấp tính và nhiễm
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 13/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
Mặt khác do có tính chất hóa học tương tự như photpho mà As cũng có thể gây
tương tác xấu trong các quá trình sinh hóa có sự tham gia của photpho. Chẳng hạn
trong sự tạo thành ATP (ademosine triphoglyphate) khi có mặt của As sẽ gây trở
ngại trong quá trình tạo 1,3 – Diphosphoglycerate cho ra sản phẩm 1 – arseno – 3 –
phosphoglycerate gây hiệu ứng xấu cho cơ thể:
II.1.4. Một số phương pháp xác định arsen
Những tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật nói chung và kỹ thuật phân tích nói
riêng đã cho phép thu được những kết quả phân tích ngày càng chính xác từ một hệ thống
đa dạng các phương pháp phân tích. Tùy vào nhu cầu phân tích, đối tượng cần phân tích
cũng như điều kiện về trang thiết bị phòng thí nghiệm mà có thể lựa chọn được phương
pháp phân tích thích hợp. Tương tự như vậy, để tiến hành phân tích định lượng As, người
ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và một số các phương pháp định lượng
As được biết như phương pháp hấp phụ nguyên tử, phương pháp phổ hấp thụ phân tử,
phương pháp điện hoá, phương pháp kích hoạt nơtron – NAA, phương pháp sắc ký…
II.1.4.1. Phương pháp khối lượng
Xác định As dựa trên việc kết tủa As 2S3 bằng dithioaxetamit trong môi trường axit HCl,
hoặc H2SO4 hoặc HClO4 0,1N. Dung dịch chứa kết tủa được đun trên bếp cách thuỷ, lọc
màu đỏ bước sóng hấp thụ quang 510nm với bạc dithiocacbamat, vì vậy phương pháp
này chỉ cho phép xác định As trong mẫu có hàm lượng antimony nhỏ. Độ nhạy và độ
chính xác của phương pháp này tương đối cao, cho phép xác định cỡ 1mg/mL.
II.1.4.4. Phương pháp điện hoá-cực phổ Vol-ampe
Cường độ dòng phụ thuộc thế điện phân trong dung dịch và thế điện cực. Người ta tiến
hành điện phân và đo cường độ dòng với một dãy dung dịch chuẩn biết trước nồng độ.
Dựa vào đồ thị xác định được nồng độ chất phân tích khi biết cường độ dòng. Giá trị nửa
thế sóng cho biết thành phần định tính, chiều cao sóng cho biết thành phần định lượng của
chất phân tích. Phương pháp này có giới hạn phát hiện cỡ ng/mL.
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 15/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
II.1.4.5. Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử ICP-AES
Khi nguyên tử ở trạng thái hơi, nhờ một nguồn năng lượng thích hợp như nhiệt, điện...
để kích thích đám hơi nguyên tử tự do đó phát xạ, sau đó thu phân li toàn bộ phổ phát xạ
để đánh giá thành phần mẫu phân tích. Có thể dùng phổ phát xạ để phân tích định tính,
định lượng. Đây là phương pháp hiện đại cho độ nhạy và độ chính xác rất cao, nó tuỳ
thuộc vào các loại thiết bị khác nhau, cho phép xác định lượng vết nguyên tố mà không
cần làm giàu và một ưu điểm đặc trưng của phương pháp đó là cho phép phân tích hàng
loạt các nguyên tố. Phương pháp này, năng lượng nhiệt của nguồn kích thích được quyết
định bởi dòng điện cảm ứng trong cuộn tự cảm, năng lượng cao tần của máy phát HF. Vì
độ dòng rất cao (từ 50-600A) và hiệu điện thế thấp (nhỏ hơn 12V) hay năng lượng của
dòng cao tần cảm ứng.
II.1.5. Tiêu chuẩn về arsen
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm QCVN 09:2008/BTNMT,
tiêu chuẩn nước ngầm đối với arsen là 0,05 mg/L.
Trước thảm hoạ thạch tín đang hiện hữu ở nhiều Quốc gia bị nhiễm arsen, trong đó
Băng-la-đét nghiêm trọng nhất, ngày 24/5/2000, Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kì (EPA)
quyết định giảm thông số arsen trong Tiêu chuẩn nước uống của Hoa Kì từ 0,05 mg As/L,
ngang TCVN, xuống còn 0,005 mg As/L.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từ năm 1993 đến nay, có khuyến cáo, nồng độ Arsen
trong nước uống không được lớn hơn 0,01mg/L. Từ năm 2002, Bộ Y tế Việt Nam đã đưa
tiêu chuẩn arsen nhỏ hơn hoặc bằng 0,01 vào áp dụng. Hiện nay, Tiêu chuẩn Nhà nước về
nước uống TCVN 5501-1991 và Tiêu chuẩn vệ sinh đối với nước uống và sinh hoạt của
Bộ Y tế QĐ 505:2002/BYT qui định thông số arsen không được lớn hơn 0,01mg As/L.
II.1.6. Giảm thiểu arsen trong nước
II.1.6.1. Một số quá trình giảm thiểu arsen trong nước
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm giảm thiểu hàm lượng As trong nước. Hầu
hết các kỹ thuật giảm thiểu As trong nước đều dựa trên một số các quá trình hoá lý cơ bản
bao gồm:
•
Quá trình kết tủa: As ở trạng thái tan trong nước được đưa về dạng chất rắn khó
tan như calcium arsenate. Các chất rắn này được loại bỏ nhờ quá trình sa lắng và lọc. Khi
các chất gây keo tụ được thêm vào và tạo thành bông keo tụ thì các dạng As tan trong
nước trở nên không tan và tạo thành các hợp chất rắn không tan. Do đó có thể giảm thiểu
As trong nước bằng các quá trình kết tủa bao gồm đông tụ - lọc; lọc trực tiếp; tuyển nổi.
nhôm hoạt tính, trao đổi ion đã được sử dụng để sử lý As trong nguồn nước sinh hoạt ở
quy mô nhỏ như hộ gia đình. Các quá trình sinh học hay điện hóa cũng được nghiên cứu
để xử lý nước nhiễm As. Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu như đang còn ở mức độ thí
nghiệm mà chưa được áp dụng thực tế một cách rộng rãi. Các quá trình hấp phụ và trao
đổi ion hiện nay đang là những quá trình có khuynh hướng được sử dụng nhiều trong thực
tế do chi phí thiết bị và bảo dưỡng thấp, không yêu cầu trình độ chuyên môn cao khi vận
hành.
II.1.6.2. Một số cách để hộ dân tự phòng tránh arsen
• Ở hộ gia đình dùng bơm điện
Giàn mưa làm bằng ống nhựa, đường kính 27mm, khoan 150-200 lỗ, mỗi lỗ có đường
kính 1,5-2mm tuỳ công suất máy bơm đang sử dụng. Dưới cùng của bể lọc là lớp sỏi đỡ
dày khoảng 1 gang, trên lớp sỏi đỡ là lớp cát dày khoảng 2,5-3 gang. Không dùng loại
đệm lót giường, hoặc than củi dễ sinh phản ứng phụ, làm tăng nồng độ nitrit trong nước.
• Ở hộ gia đình dùng bơm tay
Nước từ vòi bơm róc vào máng mưa. Máng mưa cần có nhiều lỗ nhỏ để không khí dễ
tan vào nước, phát huy hiệu quả oxi hoá của oxi có sẵn trong không khí. Sau khi qua máng
mưa, nước cho chảy qua bể lọc có 3 ngăn: ngăn đầu dùng lọc cặn, nước thô chảy từ dưới
lên; có đường xả cặn ở đáy, ngăn hai dùng lọc tinh, nước chảy từ trên xuống, ngăn thứ ba
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 18/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
Trang 19/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
Nguyên nhân tạo ra hai thảm trạng ô nhiễm trên là do hàm lượng quá cao của arsenic
trong các mạch nước ngầm giữa biên giới Ấn Độ và Bangladesh, hàm lượng trên thay đổi
từ 0.059 đến 0.105 mg/L.
Theo Peter Ravenscroft từ khoa Địa -Trường Đại học Cambridge, khoảng 80 triệu
người trên khắp thế giới tiêu thụ khoảng 10 tới 50 phần tỷ arsen trong nước uống của họ.
II.1.7.2. Tình hình ô nhiễm arsen ở Việt Nam
Do cấu tạo địa chất, nhiều vùng ở nước ta nước ngầm bị nhiễm arsen. Theo thống kê
chưa đầy đủ của Bộ Y tế (2009), cả nước có khoảng hơn 1 triệu giếng khoan, trong đó
nhiều giếng có nồng độ arsen cao hơn từ 20-50 lần nồng độ cho phép (0.01mg/L), ảnh
hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng của cộng đồng.
Hình II.5. Bản đồ các khu vực nhiễm arsen trên toàn quốc
(Trên bản đồ Lâm Đồng đang là điểm nóng về ô nhiễm arsen)
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 20/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
có tới 22 người bị chết do ung thư mà nguyên nhân được xem là do nguồn nước nhiễm
arsen cao gấp 17-30 lần mức độ cho phép (do công ty cổ phần hóa chất và công nghệ nước
quốc tế đo -Theo báo Tiền Phong).
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 21/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
Khảo sát của các chuyên gia tại 3 xã Hòa Hậu, Bồ Đề và Vĩnh Trụ (Hà Nam), qua
khám lâm sàng 650 người dân, trong đó xét nghiệm cận lâm sàng cho 100 người, Viện Y
học lao động và vệ sinh môi trường đã phát hiện 28,3% bị các bệnh về da (so với tỷ lệ
trung bình cả nước là 3-5%), tỷ lệ ung thư các bộ phận tiêu hóa và tiết niệu cao hơn các
dạng ung thư khác, có 31 trường hợp thiếu máu trong đó 28 người thiếu máu có liên quan
đến nhiễm độc arsen mãn tính.
Theo kết quả xét nghiệm arsen do UNICEF hỗ trợ Việt Nam từ 2001 đến 2004 tại 25
tỉnh thành thì Hà Nam đứng đầu vì mức độ ô nhiễm arsen nghiêm trọng nhất. Trong 7.040
mẫu nước lấy từ giếng khoan, có tới 3.530 mẫu có hàm lượng lớn hơn 0,05 mg/L.
Theo thống kê ban đầu của UNICEF, tại Việt Nam có khoảng 10 triệu người có nguy cơ
bị bệnh do tiếp xúc với arsen. Qua những số liệu thu thập được cho thấy sự ô nhiễm arsen
ở miền Bắc cao hơn miền Nam. UNICEF khẳng định mức độ ô nhiễm arsen của Hà Nam
nghiêm trọng như ở Bangladesh - nơi được đánh giá là có độ ô nhiễm arsen cao trên thế
giới. UNICEF cho rằng sự ô nhiễm arsen ở phía Nam của Hà Nội là vấn đề nghiêm trọng
nhất ở Việt Nam hiện nay.
Những cuộc khảo sát về nồng độ arsen trong nước sinh hoạt của người dân khu vực
chiếm 23% dân số toàn tỉnh. Lâm Đồng có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, xã hội,
an ninh, quốc phòng, là vùng đất giàu về tài nguyên thiên nhiên, có nhiều thế mạnh, tiềm
năng đã và đang được khai thác phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Hình II.6. Bản đồ hành chính tỉnh Lâm Đồng
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 23/74 trang
Khảo sát hàm lượng arsenic trong nước ngầm
và đánh giá rủi ro lên sức khỏe cộng đồng
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Môi Trường-ĐH.ĐàLạt
Lâm Đồng là quê hương lâu đời của các dân tộc anh em Mạ, Cơ Ho, Chu Ru,
M’Nông,...vùng đất có di sản văn hoá đặc sắc, nhiều phong tục tập quán và truyền thống
tốt đẹp, đồng thời là nơi “đất lành chim đậu” của đồng bào nhiều dân tộc ở mọi miền đất
nước về đây lập nghiệp trong khoảng một trăm năm trở lại đây. Lâm Đồng có thành phố
Đà Lạt nằm ở độ cao trung bình 1.500m so với mực nước biển, khí hậu mát mẻ trong lành,
có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, là một trong những trung tâm du lịch - nghỉ dưỡng quan
trọng của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
Vị trí địa lý: Phía Đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận, Phía Tây Nam giáp
tỉnh Đồng Nai, Phía Nam – Đông Nam giáp tỉnh Bình Thuận, Phía Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc.
II.2.2. Huyện Đức Trọng
Huyện Đức Trọng nằm trên vùng các trục giao thông huyết mạch của tỉnh Lâm Đồng:
Tên xã
Số dân
Diện tích (km2)
Mật độ (người /km2)
Tà Năng
5304
150
35.36
Đạ Quyn
4109
110
37.35
Tà Hine
3715
43.3
54.9
186.50
N'Thol Hạ
6765
35.3
191.64
Hiệp An
10368
54
192.00
Tân Thành
5763
22.7
253.88
Liên Hiệp
Liên Nghĩa
50048
37.4
1338.18
Tổng
177952
902.5
(Nguồn: Trung tâm dân số, gia đình và trẻ em huyện Đức Trọng)
II.2.3. Huyện Đơn Dương
Đơn dương là huyện nằm ở phía Đông Nam Đà Lạt, phía Nam cao nguyên Lâm viên,
có độ cao trên 1000m. Với diện tích đất tự nhiên trên 61.032 ha ; trong đó đất sản xuất
nông nghiệp gần 17.000 ha, đất lâm nghiệp 38.000 ha. Có 10 đơn vị xã, thị trấn với dân số
trên 91.000 dân ; Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 30%.
Toàn huyện hiện có 93.012 khẩu, các dân tộc thiểu số đang sống trên địa bàn huyện
gồm có K’Ho, Chill, ChRu, Eâđê, Nùng, tày, Hoa, Chàm với tổng số 4.271 hộ và trên
SVTH: Nguyễn Thị Thu
Trang 25/74 trang